1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA PHẠM THỊ HUYỀN TRANG

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 557,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính cấp thiết đó, sau một thời gian học tập và nghiên cứu, cùng với sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn, em đã quyết định chọn đề tài: “Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về l

Trang 1

0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊ-NIN

Họ và tên: Phạm Thị Huyền Trang

Mã sinh viên: 11215895

Lớp học phần: LLNL1105(121)_26 (63B.MAR) Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Ngọc Thông

QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA PHẠM THỊ HUYỀN TRANG 11215895, LỚP

LLNL1105(121) _ 26 (63B.MAR)

Hưng Yên, tháng 12 năm 2021

ĐỀ TÀI:

Trang 2

1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG CHÍNH 3

I PHẦN I: QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI 3

1 Vị trí của quy luật 3

2 Phạm trù về lượng và chất 3

2.1 Quan điểm của các nhà triết học cổ về lượng, chất 3

2.2 Quan điểm biện chứng duy vật về lượng, chất 5

2.2.1 Khái niệm về chất 5

2.2.2 Khái niệm về lượng 7

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất 9

3.1 Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất 9

3.2 Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng 11

3.3 Các hình thức của bước nhảy 11

4 Ý nghĩa phương pháp luận 12

II PHẦN II: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP, RÈN LUYỆN VÀ TÍCH LŨY KIẾN THỨC CỦA BẢN THÂN 13

1 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất trong quá trình học tập, rèn luyện và tích lũy kiến thức của học sinh, sinh viên 14

2 Sự khác nhau giữa môi trường học tập phổ thông và môi trường đại học 15

3 Thực trạng vận dụng 18

3.1 Thành công (Ưu điểm) 18

3.2 Thiếu sót (Khuyết điểm) 19

4 Định hướng cho bản thân 20

5 Xây dựng phương pháp học tập tối ưu 21

5.1 Tích luỹ tri thức dần dần và kiên trì học hỏi 21

5.2 Siêng năng, nổ lực không ngừng, xậy dựng kế hoạch học tập tốt 22

5.3 Nghiêm túc thực hiện kế hoạch học tập và trung thực trong thi cử 23

5.4 Khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ Tránh thói tự mãn 23

5.5 Nâng cao kĩ năng mềm 24

5.6 Giải trí, sinh hoạt điều độ Tham gia các hoạt động ngoại khóa 24

C KẾT LUẬN 25

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

2

A LỜI MỞ ĐẦU

Ước mơ của mỗi học sinh khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường là có thể trúng tuyển vào ngôi trường đại học mình yêu thích hay chí ít là được bước chân vào môi trường đại học để được học tập, được nghiên cứu, được rèn luyện bản thân chuẩn bị cho tương lai Thi đậu vào đại học chắc hẳn là một niềm vui to lớn và cũng là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều học sinh; đến khi bước chân vào cánh cổng đại học rồi thì lại có biết bao là dự tính kế hoạch được đặt ra.Có thể nói đại học như là nơi chúng ta đặt một nền móng quan trọng cho ước mơ tiếp theo của mình Thế nhưng đậu đại học là một chuyện, học đại học lại là chuyện khác Khi tiếp xúc với môi trường ở đại học, không phải ai cũng

có thể bộc phát được hết khả năng và thể hiện được bản thân như khi còn ở trong môi trường phổ thông bởi lẽ trong quá trình học tập và nghiên cứu ở đại học, sinh viên phải tham gia tích cực vào nhiều hoạt động khác nhau như: tu dưỡng học tập nghiên cứu, văn nghệ, thể thao, các hoạt động của lớp, của chi đoàn, Bên cạnh đó, một số không ít sinh viên phải đi làm thêm ngoài giờ Đặc biệt sự thay đổi môi trường học và môi trường sống

là thử thách khó khăn mà không phải ai cũng có thể thích ứng một cách nhanh chóng được Hơn nữa,hiện nay, một số thành phần sinh viên trong các trường đại học mắc phải rất nhiều tệ nạn, bị tha hoá nghiêm trọng do họ không có mục tiêu học tập đúng đắn, họ còn chưa xác định được hay vẫn mơ hồ về câu hỏi: "học để làm gì?” Đối với thanh niên - những chủ nhân tương lai của đất nước, việc học tập, trau dồi, tích lũy tri thức là một việc

vô cùng quan trọng và bức thiết; chỉ khi trang bị cho bản thân đầy đủ kiến thức, họ mới

có thể thực hiện được trọng trách, nghĩa vụ thiêng liêng của mình Bác Hồ từng nói: "Non Sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới được hay không phần lớn là tuỳ thuộc vào công học tập của các cháu" Ngoài ra, xuất phát từ thực tế của Việt Nam hiện nay - đang trong thời

kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, còn phải đương đầu rất nhiều khó khăn thử thách trước mắt, vì vậy thế hệ chúng ta, những tài năng tương lai của đất nước, ngay từ bây giờ phải

có sự hiểu biết nhất định, phải biết tích lũy kiến thức, học tập rèn luyện để rút ra những bài học cho chính mình và từ từ cải thiện bản thân

Với tính cấp thiết đó, sau một thời gian học tập và nghiên cứu, cùng với sự hướng

dẫn của giảng viên bộ môn, em đã quyết định chọn đề tài: “Quy luật chuyển hoá từ

những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại và sự vận dụng vào quá trình học tập, rèn luyện và tích lũy kiến thức của bản thân”

Trang 4

3

B NỘI DUNG CHÍNH

I PHẦN I: QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

1 Vị trí của quy luật

Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất

và ngược lại hay còn được gọi là quy luật lượng – chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin Quy luật này phản ánh và quy định cách thức chung nhất của sự vận động, phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức: những thay đổi về chất trong mỗi sự vật chỉ xảy ra khi sự tích lũy về lượng trong sự vật đó đạt đến một ngưỡng nhất định và khi đó, nếu như thực hiện thành công bước nhảy, sự vật sẽ được đưa sang một trạng thái phát triển tiếp theo Ph Ăng-ghen đã có những khái quát về quy luật lượng – chất như sau:

“ trong giới tự nhiên thì những sự biến đổi về chất - xảy ra một cách xác định chặt chẽ đối với từng trường hợp cá biệt - chỉ có thể có được do thêm vào hay bớt đi một

số lượng vật chất hay vận động”

— Ph Ăng-ghen

2 Phạm trù về lượng và chất

2.1 Quan điểm của các nhà triết học cổ về lượng, chất

Từ thời xa xưa, con người đã nảy sinh những quan điểm khác nhau về lượng và chất Đối với những triết gia cổ tại Hy Lạp, vật chất thường đồng nhất với sự vật Do đó, họ cố gắng hiểu vật chất và các hình thức biểu hiện của nó từ góc độ chất Mặt khác, những triết gia thuộc trường phái Pitago lại xem đặc trưng về lượng của thế giới vật chất là cơ sở của mọi sự vật đang tồn tại Họ coi những mối quan hệ định lượng là quy luật cấu thành vạn vật trên thế giới

Trong lịch sử Triết học, phạm trù lượng và chất lần đầu tiên có được ý nghĩa riêng với tư cách là những phạm trù trong học thuyết phạm trù của Arixtốt Trong học thuyết phạm trù của ông, lượng và chất là hai phạm trù mà nếu như thiếu chúng thì bản chất tuy vẫn tồn tại nhưng ta không thể nhận thức sự tồn tại ấy Ông xem lượng là tất cả những gì

có thể phân ra thành những bộ phận cấu thành mà mỗi bộ phận trong số đó sẽ là hai hoặc

Trang 5

4

nhiều hơn, về bản chất nó là một cái gì đó và hơn nữa là một cái gì đó xác định Ông phân lượng thành hai loại: số lượng (loại lượng mang tính chất rời rạc, ví dụ, 6 cái bàn, 4 cái ghế…) và đại lượng (loại lượng mang tính chất liên tục, chẳng hạn 5m vải, 3l nước, …)

Về phạm trù chất, Arixtốt nêu lên quan điểm: " Tôi gọi chất lượng là cái mà nhờ nó các

sự vật được gọi là một cái gì đó như thế” Ông cũng là người tiên phong trong việc giải quyết một vấn đề cấp thiết của quy luật lượng chất: Vấn đề về tính đa chất của sự vật Qua đó, ông phân biệt sự khác nhau giữa hình thức với bản chất của sự vật – cái sẽ xuất hiện hay mất đi cùng với sự xuất hiện hay mất đi của chính sự vật đó Arixtốt đã đặt vấn

đề về sự thống nhất biện chứng của các phạm trù chất lượng và số lượng một cách đúng đắn Trong các tác phẩm của mình Arixtốt đã đưa ra nhiều thí dụ liên quan đến lượng và chất, vạch rõ sự phụ thuộc của những chuyển hoá chất lượng vào sự thay đổi số lượng Mãi về sau, quan điểm phiến diện thần thánh hóa, quá nhấn mạnh các đặc tính về lượng đã được cải biên trong Triết học cổ điển Đức, đặc biệt đã được thay thế bởi triết học Hegel Xét về nguồn gốc của Lượng từ sự thống nhất trong những mặt đấu tranh của cái Một và cái Nhiều, tính đứt đoạn và tính liên tục được Hegel xem như là hai phương diện của Lượng Một khi ta “trừu tượng hóa” hay không xét đến một trong 2 mặt ấy, các nghịch lý quen thuộc về tính khả phân vô hạn của vật chất, của thời gian và không gian mới nảy sinh Sau này, theo quan điểm biện chứng, Hegel đã nghiên cứu từ “chất được xác định” đến “chất thuần tuý”; khi chất phát triển đến một điểm nhất định thì lượng ra đời; sau đó, lượng tiếp tục tiến hoá, tích lũy không ngừng; cuối cùng, “số lượng” chính là đỉnh cao nhất của quá trình tiến hoá Trong việc xem xét mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất, Hegel đặc biệt nhấn mạnh phạm trù bước nhảy Chính dựa trên học thuyết của Hegel, Lênin đã đi đến một kết luận quan trọng: Để xem một người theo quan điểm biện chứng hay siêu hình về sự phát triển, tiêu chí cơ bản để đánh giá là việc người đó có thừa nhận bước nhảy hay không Có thể nói, Hegel đã phân tích một cách tỉ mỉ sự thống nhất biện chứng, mối quan hệ qua lại, sự chuyển hoá giữa lượng và chất, nhìn nhận lượng và chất trong quá trình luôn luôn vận động và phát triển không ngừng Tuy nhiên, dù có nhiều đóng góp trong sự hoàn thiện của phép biện chứng duy vật trong tương lai, Hegel về bản chất là nhà triết học duy tâm, ông chỉ coi các phạm trù lượng, chất, độ như những bậc thang tự phát triển của tinh thần, của “ý niệm tuyệt đối” chứ không phải là những bậc thang mang tính nhận thức của con người đối với thực tại khách quan

Trang 6

5

Sau này, Mác - Lênin đã kế thừa tư tưởng của Hegel và hoàn thiện hơn để rồi phép biện chứng duy vật ra đời như một cột mốc đánh dấu giai đoạn phát triển cơ bản trong quan niệm về lượng và chất, mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất nói chung Tiếp theo, chúng ta cùng đi sâu vào một cách rõ ràng, sâu sắc hơn

về quan điểm biện chứng duy vật về lượng và chất

2.2 Quan điểm biện chứng duy vật về lượng, chất

Xuyên suốt lịch sử triết học, nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm lượng, chất và mối quan hệ giữa chúng đã xuất hiện và được phổ biến Những quan điểm này phụ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận của các triết gia hoặc các trường phái triết học Tuy nhiên, phép biện chứng duy vật ra đời đã mang lại cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về khái niệm chất, lượng và mối quan hệ biện chứng giữa chúng, từ đó khái quát

thành nội dung quy luật lượng chất

2.2.1 Khái niệm về chất

Xung quanh chúng ta tồn tại vô số sự vật, hiện tượng Tại sao chúng ta lại có thể phân biệt được sự vật này hay hiện tượng kia? Đơn giản là vì những thứ khác nhau có những thuộc tính, đặc tính và quy định khác nhau Tất cả động vật và thực vật đều được đặc trưng bởi quá trình đồng hóa và dị hóa, nhưng chúng khác nhau Sở dĩ chúng ta có thể phân biệt các hiện tượng khách quan vì chúng khác nhau về chất

“Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải là sự vật, hiện tượng khác” Chất của một sự

vật, hiện tượng giúp nó được phân biệt với những sự vật, hiện tượng khác và thường trả lời cho câu hỏi “sự vật, hiện tượng đó là gì?” Ta cần phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với khái niệm chất của các ngành khoa học cụ thể và trong cuộc sống hàng ngày (hóa chất trong hóa học, hạt chất trong vật lý, ….) Những khái niệm này không đồng nhất với nhau, phạm trù triết học về chất có nội dung khái quát hơn nhiều, bao hàm được tất cả những khái niệm chất của khoa học cụ thể

Đặc trưng của chất là thể hiện tính ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng Khi chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác thì chất của những sự vật, hiện tượng này vẫn chưa thay đổi Mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn,

Trang 7

6

trong mỗi giai đoạn thì sự vật, hiện tượng đó lại thay đổi chất, sở hữu những chất riêng Hơn nữa, chất của các sự vật được quy định bởi sự kết hợp một cách hữu cơ giữa những thuộc tính vốn có của các sự vật đó; đồng thời bản thân mỗi sự vật sở hữa muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính ấy cũng biểu hiện một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, do đó mỗi thuộc tính lại được coi là một chất Như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có thể có vô vàn chất

Để xác định chất của sự vật thì ta cần phải xác định các thuộc tính của nó Đặt sự vật cần xác định thuộc tính trong mối liên hệ với một sự vật khác là cách giải quyết vấn

đề này Trước hết, thuộc tính về chất là một phương diện nào đó về chất của sự vật

được biểu hiện ra khi tác động qua lại với các sự vật khác: tính chất, trạng thái, yếu tố…

Đó là những đặc tính tồn tại vốn có của sự vật từ khi được sinh ra hoặc trong quá trình vận động và phát triển hình thành Chẳng hạn, khi cho muối vào nước và khuấy lên, ta thấy muối tan dần trong nước, đó chính là tính tan của muối Sau đó, ta nếm thử hỗn hợp muối và nước thì ta thấy có vị mặn Vậy có thể phát biểu rằng, tính tan, vị mặn, … chính

là thuộc tính của muối, chúng ta chỉ nhận biết được điều này khi chúng ta nếm thử hay nói cách khác, khi vị giác của chúng ta tiếp xúc, tương tác qua lại với chúng Tất cả những thuộc tính trên của muối là những cái mà vốn có của muối, nhưng chúng chỉ thể hiện ra trong quan hệ của muối với nước hay trong quan hệ của muối với vị giác của con người Đặc điểm cơ bản nói trên quy định cách thức nhận thức của con người đối với vật chất của sự vật, hiện tượng Qua đây, ta rút ra kết luận: Để nhận thức được chất với tư cách là sự hợp nhất của tất cả các thuộc tính vốn có của sự vật đó, chúng ta phải nhận thức sự vật trong sự hòa hợp của các mối quan hệ có thể xảy ra giữa sự vật đó với các sự vật khác

Chất có mối quan hệ vô cùng sâu sắc với sự vật, hiện tượng; chúng không thể tách rời nhau Bởi trong thực tại khách quan, ta thấy không có sự vật nào tồn tại mà không có chất và cũng không có chất nào tồn tại bên ngoài sự vật Chất của một sự vật thể hiện thông qua thuộc tính của nó Tuy nhiên, đây không phải mối quan hệ tương đương khi không phải bất kì thuộc tính vào cũng biểu hiện chất của sự vật Với tư cách là những phương diện của chất được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, các thuộc tính của sự vật được chia ra thành hai vị trí khác nhau: những thuộc tính cơ bản và những thuộc tính không cơ bản Chất cơ bản của sự vật được cấu thành từ tổng hòa các thuộc tính cơ bản của sự vật đó Tuy nhiên, thuộc tính của sự vật chỉ được thể hiện thông qua qua các mối

Trang 8

7

liên hệ cụ thể với các sự vật khác Bởi vậy, có thể nói sự phân chia thành thuộc tính cơ bản hay không cơ bản chỉ mang tính chất tương đối Chẳng hạn, trong mối quan hệ cụ thể này, thuộc tính này là thuộc tính cơ bản biểu hiện chất của sự vật, nhưng trong một mối quan hệ cụ thể khác, lại xuất hiện những thuộc tính khác còn thuộc tính này lại chỉ là thuộc tính không cơ bản Chẳng hạn, trong mối quan hệ với động vật, hay cụ thể hơn là động vật lớp Thú, bộ Linh trưởng thì những thuộc tính như thuộc tính có khả năng tư duy, chế tạo, sử dụng công cụ và sản xuất, … của con người là những thuộc tính cơ bản khiến cho con người khác biệt, tách biệt với các chi khác, loài khác, trở thành sinh vật cấp cao nhất; những thuộc tính khác không là thuộc tính cơ bản Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với con người thì những thuộc tính kể trên lại là thuộc tính không cơ bản, thay vào đó thuộc tính cơ bản là những thuộc tính như dấu vân tay, ngoại hình, …

Không những phụ thuộc vào thuộc tính, yếu tố cấu thành lên nó mà chất của sự vật, hiện tượng còn được quy định bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành Ví dụ: Với cùng ba chất C (Carbon), H (Hidro) và O (Oxy), chúng có thể liên hết với nhau tạo nên vô số chất nhưng thuộc tính của từng chất lại khác nhau Thứ nhất, ta

có CH3COOH (Axit axetic hay còn gọi là giấm) – một chất lỏng không màu với vị chua đặc trưng, có thể làm quỳ tím hóa đỏ và tạo ra những phản ứng hóa học đặc trưng của nhóm Axit Cacboxylic (Phản ứng đặc trưng nhất là tạo thành ethanol) Thứ hai, cũng từ 3 chất trên nhưng với phương thức liên kết khác, ta có C2H5OH (etanol hay rượu etylic) – một chất lỏng không màu, thành phần của những thức uống có cồn, nhưng chất này không làm đổi màu quỳ tím và có phản ứng đặc trưng với oxy tạo ra ngọn lửa màu xanh Thực tế, trong một cộng đồng, một tập thể nhất định, phương thức liên kết, mối liên hệ giữa những cá nhân ảnh hưởng đến sự phát triển của tập thể đó, có thể phát triển vững mạnh hơn hoặc cũng có thể yếu kém hơn, hay nói cách khác là làm thay đổi chất của tập thể

Qua đây, ta thấy được sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng được quy định bởi cả những yếu tố cấu thành nên sự vật và cả cấu trúc, phương thức liên kết giữa những yếu tố ấy

2.2.2 Khái niệm về lượng

Tính đồng nhất và tính đặc thù của sự vật không chỉ được xác định bởi các quy định về chất mà còn bởi các quy định về lượng Vì vậy, rượu (trong suốt) không chỉ khác

Trang 9

8

nhau về mùi vị, về tác dụng sinh học… mà còn ở độ đậm đặc (hay khối lượng riêng) giữa các loại; hai tấm ván giống nhau về chất liệu và hình dạng, nhưng khác nhau về kích thước Do đó, bên cạnh những tính quy định về chất, bất kì sự vật nào cũng có những tính

quy định về lượng Khái niệm về lượng được phát biểu như sau: “Lượng là phạm trù triết

học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật” Trong thực tế,

lượng có thể được quy định bằng những đơn vị đo lường cụ thể và chính xác như kích thước (dài hay ngắn), số lượng đại lượng (ít hay nhiều), trình độ (cao hay thấp), quy mô (rộng hay hẹp), nhịp điệu (nhanh hay chậm), … trong khi nhìn nhận về sự vận động và phát triển của sự vật

“Những lượng không tồn tại mà những sự vật có lượng hơn nữa những sự vật có

vô vàn lượng mới tồn tại”

— Ph Ăng-ghen

Trong thực tế, lượng của sự vật thường được xác định bằng những con số cụ thể như vận tốc của chiếc xe ô tô này là 60km/h, cái thùng này chứa 3l nước, … Một ví dụ khác: Trong hóa học, đối với mỗi một phân tử nước (H2O), lượng là số nguyên tử cấu thành lên nó, bao gồm 2 nguyên tử H (Hidro) và một nguyên tử O (Oxy) Tuy nhiên, không phải lượng nào cũng có thể được đo đạc chính xác bằng các con số, có những tính quy định về lượng chỉ có thể được biểu thị thông qua cách trừu tượng hay khái quát hóa bằng định tính như tình yêu, lòng tốt, trình độ văn hóa, ý thức trách nhiệm, Ngoài ra, có những lượng biểu hiện yếu tố cấu thành bên trong của sự vật (số lượng các hạt trong một nguyên tử , số lượng các lĩnh vực trong đời sống con người), có những lượng vạch ra yếu

tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao, diện tích, thể tích của

sự vật) Chỉ bản thân lượng thì không nói lên sự vật đó là gì bởi các thông số về lượng không ổn định, giữ nguyên mà thường xuyên đổi biến cùng với sự vận động biến đổi của

sự vật, đó cũng chính là phương diện không ổn định của sự vật, phương diện thay đổi không ngừng trong quá trình vận động phát triển của sự vật

Đặc trưng của lượng là tính khách quan vì nó là một hình thức thể hiện của vật chất, là cái tồn tại có sẵn ở sự vật, hiện tượng; hơn nữa còn có thể chiếm một vị trí nhất định trong không gian và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Tồn tại bên trong

sự vật, hiện tượng là vô vàn lượng được chia thành nhiều loại khác nhau; có lượng mang

Trang 10

9

tính quy định bên trong, có lượng chỉ bộc lộ đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng; hơn nữa, sự vật, hiện tượng càng phức tạp thì lượng của chúng càng đa dạng Trong tự nhiên và phần lớn xã hội, lượng có thể được xác định bằng những con số chính xác Tuy nhiên, trong một số trường hợp của xã hội và nhất là trong tinh thần con người, lượng khó

có thể cân đo đong đếm được bằng số liệu cụ thể mà chỉ có thể được nhìn nhận thông qua năng lực trừu tượng hóa

Sự khác biệt giữa chất và lượng không tuyệt đối mà chỉ mang ý nghĩa tương đối, tùy theo từng mối liên hệ mà ta xem xét được đâu là chất và đâu là lượng Một tính quy định có thể là lượng trong mối quan hệ này, nhưng trong mối quan hệ khác lại được coi là chất; ngược lại, có những thứ là chất của sự vật trong mối quan hệ này, song lại biểu thị lượng của sự vật trong mối quan hệ khác Chẳng hạn số lượng sinh viên giỏi, khá hay trung bình nhất định của một lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó Nhiều học sinh khá, giỏi có nghĩa là lớp đó học tốt, nhiều học sinh học lực trung bình thì ta có thể hiểu chất lượng học tập của lớp đó không được cao Ở đây, tính quy định này vừa biểu thị lượng cụ thể, vừa thể hiện chất của sự vật Trong ví dụ tiếp theo, số 4 trong mối quan hệ với các số nguyên dương khác thì bản thân nó được coi là chất Nhưng trong mối quan hệ số 4 có tổng số bằng số 3 và số 1 cộng lại, hay bằng số 2 mũ 2 thì khi ấy

nó được coi là lượng

Chất và lượng là hai mặt gắn liền, ràng buộc chặt chẽ và không thể tách rời Trong suốt quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, chất và lượng của không bất động, giữ nguyên mà luôn luôn vận động, thay đổi; hơn nữa vận động không phải tách biệt, cô lập với nhau mà luôn chuyển hóa lẫn nhau theo một quy luật nhất định

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

3.1 Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất

Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại chất và lượng Hơn nữa, chất và lượng của sự vật mang tính khách quan Trong sự tồn tại khách quan của chúng, sự vật có vô số chất, vì vậy, nó cũng tồn tại vô số lượng Tuy nhiên, giữa chất và lượng là mối quan hệ qua lại lẫn nhau; nếu sự vật có một chất nhất định thì chắc chắn sẽ tồn tại một lượng tương ứng với chất đó Chẳng hạn, sự phân biệt về chất của nước khi ở thể rắn (nước đá) và khi ở thể

Trang 11

10

lỏng được xác định bởi lượng là nhiệt độ nước; nước khi ở thể rắn sẽ có nhiệt độ thấp hơn nước khi ở thể lỏng Sự chuyển hóa tương quan giữa chất và lượng là cơ sở cho quá trình vận động và phát triển của sự vật

Lượng và chất luôn luôn biến đổi trong suốt quá trình vận động và phát triển của

sự vật Sự biến đổi này không diễn ra đơn lẻ, cô độc với nhau, trái lại chúng có mối quan

hệ qua lại với nhau Lượng vận động và biến đổi nhanh hơn chất, nhưng không phải mọi thay đổi của lượng đều làm thay đổi căn bản về chất Chất của sự vật có thể được giữ nguyên nếu lượng của chúng thay đổi trong một khoảng giới hạn nhất định Trong giới hận đó, sự thay đổi của lượng chưa dẫn tới sự thay đổi của chất Nếu lượng vượt qua giới hạn đó, sự vật không còn là nó, chất sẽ thay đổi, chất mới ra đời thay thế chất cũ Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm thay đổi căn bản

về chất được gọi là độ “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa

lượng và chất, nó là khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật” Chẳng hạn, độ của chất sinh viên là từ khi nhập học tới

trước khi bảo vệ thành công đồ án, luận văn tốt nghiệp

Trong giới hạn của “độ”, lượng thay đổi liên tục, tăng dần hoặc giảm dần nhưng chất vẫn chưa biến đổi Chất thay đổi chậm hơn lượng Sự thay đổi cơ bản về chất của sự vật, hiện tượng chỉ xảy ra khi lượng được tích lũy dần đến một thời điểm nhất định Những điểm giới hạn mà tại đó lượng thay đổi đủ để chất có những thay đổi căn bản được

gọi là điểm nút Ta rút ra được khái niệm của điểm nút như sau: “Điểm nút là phạm trù

triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi chất của sự vật” Mỗi hai điểm nút sẽ xác định được 1 độ Ví dụ, thời điểm sinh viên bảo

vệ thành công đồ án, hoặc luận văn tốt nghiệp là điểm nút kết thúc chất sinh viên, sinh viên sẽ chuyển lên chất mới: chất cử nhân

Khi lượng liên tục biến đổi, tích lũy đến một thời điểm nhất định, sự vật phải thực hiện một bước nhảy để có thể thay đổi căn bản về chất Vì vậy, ta có thể phát biểu khái

niệm bước nhảy như sau: “Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn

chuyển hóa của chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra” Một giai đoạn phát

triển của sự vật sẽ kết thúc khi sự vật đó thực hiện bước nhảy, đồng thời một giai đoạn phát triển mới sẽ được mở ra Như vậy, nếu lượng không được tích lũy dần dần trong suốt giai đoạn phát triển thì sự vật sẽ không thể có bước nhảy vọt về chất

Trang 12

11

Sự vật, hiện tượng khoác lên mình một chất mới có nghĩa là chúng đã thực hiện thành công bước nhảy Sau đó, lượng bên trong những sự vật, hiện tượng này lại tiếp tục tích lũy cho đến điểm nút Tại đây, chúng thực hiện một bước nhảy mới và khởi đầu cho giai đoạn phát triển tiếp theo Cứ như thế, sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng kéo dài nối tiếp nhau theo một chu kì tạo nên một đường dài thay thế nhau

vô tận sự vật, hiện tượng cũ bằng sự vật, hiện tượng mới Không những vậy, Quy luật lượng – chất còn nêu lên sự tác động trở lại lượng của chất sau khi chất đã có được những thay đổi căn bản

3.2 Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng

Sự thay đổi về lượng luôn ràng buộc chặt chẽ với sự thay đổi về chất, chịu sự ảnh hưởng của chất Sau khi sự vật đạt được sự thay đổi căn bản về chất, chất mới này không tồn tại một cách thụ động mà tác động ngược trở lại lượng của sự vật Sự tác động ngược này rõ nét nhất tại thời điểm bước nhảy về chất diễn ra, chất mới sẽ quy

mô và tốc độ phát triển của lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất và lượng Chẳng hạn, khi đã trở thành cử nhân thì tốc độ đọc, hiểu vấn đề sẽ tốt hơn khi còn là sinh viên Như vậy, không chỉ sự thay đổi về lượng gây nên những sự thay đổi về chất mà cả sự thay đổi về chất cũng gây nên những thay đổi về lượng

Qua đó, quy luật chỉ ra rằng quan hệ lượng - chất là quan hệ biện chứng Những thay đổi về lượng chuyển thành những thay đổi về chất và ngược lại; chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt dễ biến đổi hơn Lượng biến đổi, mâu thuẫn với chất cũ, phá

vỡ độ cũ, chất mới hình thành với lượng mới; lượng mới lại tiếp tục biến đổi, đến độ nào đó lại phá vỡ chất cũ đang kìm hãm nó Quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa lượng và chất tạo nên sự vận động liên tục Tùy vào sự vật, hiện tượng, tùy vào mâu thuẫn vốn có của chúng và vào điều kiện, trong đó diễn ra sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng mà có nhiều hình thức bước nhảy

3.3 Các hình thức của bước nhảy

Thứ nhất, nếu được quy định bởi tốc độ của sự thay đổi, bước nhảy sẽ chia thành 2 loại: Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật Ví

dụ, phản ứng hạt nhân (Ur 235 đạt đến khối lượng nhất định sẽ xảy ra vụ nổ hạt nhân) rất

Trang 13

12

nhanh và làm thay đổi chất của sự vật nhanh chóng Ngược lại, bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất cũ làm dần dần mất đi Ví dụ, quá trình chuyển hoá từ vượn thành người diễn ra rất lâu dài, hàng vạn năm Quá trình cách mạng đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lâu dài qua nhiều bước nhảy dần dần

Thứ hai, căn cứ vào nhịp độ và quy mô thực hiện bước nhảy, ta chia bước nhảy thành 2 loại: Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi toàn bộ về chất tất cả các mặt các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật Ví

dụ, khi thực hiện cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta đã thực hiện bước nhảy toàn

bộ trên tất cả các mặt đời sống kinh tế - chính trị - xã hội - văn hoá - đạo đức, … Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những yếu tố riêng lẻ của sự vật Ví dụ, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay đang hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi từng mặt đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa Trong hiện thực, các sự vật có thuộc tính đa dạng, phong phú nên muốn thực hiện bước nhảy toàn bộ phải thông qua những bước nhảy cục bộ Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta đang diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ, tức là chúng ta đang thực hiện những bước nhảy cục bộ ở lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội và lĩnh vực tinh thần xã hội để đi đến bước nhảy toàn bộ - xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta

Từ những sự phân tích ở trên có thể rút ra nội dung của quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại như sau: mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới lại có chất mới cao hơn Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi

4 Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, sự vận động và phát triển của vạn vật bao giờ cũng xảy ra dưới phương

thức tích luỹ dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để

chuyển về chất Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Từ xưa đến nay, dân gian ta đã có rất nhiều những câu thành ngữ, tục ngữ phản ảnh ý nghĩa này như: “tích

Ngày đăng: 15/09/2022, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2006). Giáo trình Triết học Mác-Lênin. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2011). Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2011
3. G.W.F.Hegel. (2013). Bách khoa toàn thư các khoa học triết học I - Khoa học Logic (Vol. II.2. Học thuyết về tồn tại). Hà Nội: NXB Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn thư các khoa học triết học I - Khoa học Logic (Vol. II.2. Học thuyết về tồn tại)
Tác giả: G.W.F. Hegel
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2013
4. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (1996). Arixtốt với học thuyết phạm trù. Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arixtôt với học thuyết phạm trù
Tác giả: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 1996
6. Ph.Ăngghen đấu tranh chống Đuyrinh, bảo vệ xuất sắc chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác. (n.d.).http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/3411-phangghen-dau-tranh-chong-duyrinh-bao-ve-xuat-sac-chu-nghia-duy-vat-bien-chung-cua-cmac.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph.Ăngghen đấu tranh chống Đuyrinh, bảo vệ xuất sắc chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác
Tác giả: Friedrich Engels
Năm: n.d.
7. Thủ tướng chỉ thị triển khai giải pháp tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo ứng phó với đại dịch COVID-19. (n.d.).http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Thu-tuong-chi-thi-trien-khai-giai-phap-to-chuc-day-hoc-an-toan-bao-dam-chat-luong-giao-duc-dao-tao-ung-pho-voi-dai-dich-COVID19/20219/30443.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng chỉ thị triển khai giải pháp tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo ứng phó với đại dịch COVID-19
Nhà XB: Vietnam Government Portal (Chinhphu.vn)
8. Ảnh hưởng lâu dài của dịch bệnh đối với ngành Giáo dục chưa đo đếm được. (n.d.). https://dangcongsan.vn/thoi-su/anh-huong-lau-dai-cua-dich-benh-doi-voi-nganh-giao-duc-chua-do-dem-duoc-596603.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng lâu dài của dịch bệnh đối với ngành Giáo dục chưa đo đếm được
Nhà XB: dangcongsan.vn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w