1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I Câu 1 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 1 Khái quát về hợp đồng lao động a Định nghĩa Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và n.

Trang 1

I Câu 1: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1 Khái quát về hợp đồng lao động

a Định nghĩa:

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động ( Điều 15, Bộ luật Lao động)

b Đặc trưng của hợp đồng lao động

_ Trong hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động với người sử dụng lao động

_ Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công

_ Hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện

_ Trong hợp đồng lao động, sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định

_ Hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định

2 Quyền của người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Cơ sở pháp lý: Điều 38, 39, 44, 45 Bộ luật lao động

Dựa trên quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

_ Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động (Điểm a, Khoản 1, Điều 38 Bộ luật Lao động)

Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức

độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử

Trang 2

dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở ( Khoản 1, Điều 12, Nghị định số 05/2015/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động)

Chỉ khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ này của người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động mới được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu không sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

_ Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị

06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động (Điểm b, Khoản 1, Điều 38

Bộ luật Lao động)

_ Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc (Điểm

c, Khoản 1, Điều 38 Bộ luật Lao động)

Trong đó, lý do bất khả kháng được quy định tại Khoản 2, Điều 12, Nghị định số 05/2015/NĐ – CP (quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số nội dung của Bộ luật Lao động ) như sau:

+ Do địch họa, dịch bệnh

+ Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 3

_ Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này (Điểm d, Khoản 1, Điều 38 Bộ luật Lao động)

Điều 33 quy định “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp quy định tại Điều 32 của Bộ luật này, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác”

Như vậy sau thời gian hết hạn tạm hoãn hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác thì trong vòng 15 ngày, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc Nếu người lao động không có mặt tại nơi làm việc thì người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động

_ Thay đổi cơ cấu, công nghệ ( Khoản 1, Điều 44, Bộ luật Lao động) Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 13, NĐ 05/2015/NĐ – CP thì: “Thay đổi cơ cấu, công nghệ tại Khoản 1 Điều 44 của Bộ luật Lao động gồm các trường hợp sau đây:

a) Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động;

b) Thay đổi sản phẩm, cơ cấu sản phẩm;

Trang 4

c) Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.”

_ Vì lý do kinh tế (Khoản 2, Điều 44 Bộ luật Lao động)

Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy

cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

Khoản 2, Điều 13, NĐ 05/2015/NĐ – CP quy định: “Lý do kinh tế tại Khoản 2 Điều 44 của Bộ luật Lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.”

_ Khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều

45 Bộ luật Lao động)

Điều 45, Bộ luật Lao động quy định:

“1 Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục

sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người

sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án

sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trang 5

2 Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án

sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

3 Trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều này, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.”

Như vậy, trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã hay chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của tài sản thì người sử dụng lao động cũng có quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

* Những trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

_ Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thẩm quyền, trừ trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị

12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục

_ Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý

_ Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là

Trang 6

đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động

_ Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội

3 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

* Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật

_ Đối với các trường hợp quy định tại Điều 38, Bộ luật Lao động thì khi người sử dụng lao động động muốn chấm dứt hợp đồng đối với người lao động thì phải báo trước

+ Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn + Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn

+ Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38, Bộ luật Lao động và đối với hợp đồng lao động theo mùa

vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

_ Đối với các trường hợp quy định tại Điều 44, 45 Bộ luật lao động

mà người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau:

+ Xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động

+ Trả trợ cấp mất việc cho người lao động

* Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật

Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 38,44,45 Bộ luật Lao động được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật Như vậy người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau ( Điều 42, Bộ luật Lao động)

Trang 7

_ Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

_ Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, ngoài khoản tiền bồi thường thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động

_ Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động

_ Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

_ Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước

II Câu 2 ( Bài tập)

Tháng 7/2010, ông Phạm Hồng A và Công ty cổ phần hàng không Airway tiến hành giao kết HĐLĐ 1 năm ( từ 8/7/2011 đến 7/7/2012), công việc là phi công lái máy bay ATR-72, mức lương 75 triệu đồng/ tháng Sau

đó, các bên tiến hành giao kết các HĐLĐ như sau:

_ Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 8/7/2012 đến 7/7/2013

_ Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 8/7/2013 đến 7/7/2016

Trang 8

Hết thời hạn của hợp đồng này, công ty và anh A ký kết văn bản thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động thêm 24 tháng từ ngày 8/7/2016 đến 7/7/2018

Ngày 5/1/2016, công ty Airway và A ký hợp đồng đào tạo Theo đó,

A được cử tham gia khóa đào tạo chuyển loại máy bay A320 trong thời gian

4 tháng từ tháng 1/2016 – 5/2016 Trong thời gian đào tạo, công ty vẫn trả lương đầy đủ cho A A cam kết làm việc cho công ty Airway trong thời hạn

3 năm kể từ khi đào tạo xong, nếu A chấm dứt trước thời hạn thì sẽ phải hoàn trả hoàn toàn phí đào tạo là 23.950 USD

Sau khi hoàn thành khóa học, A trở lại làm việc cho công ty Airway Tuy nhiên vào ngày 20/5/2017, A gửi văn bản thông báo chấm dứt HĐLĐ vào ngày 9/7/2017

Công ty yêu cầu A phải hoàn trả chi phí đào tạo theo như đã thỏa thuận nhưng A không đồng ý vì cho rằng mình chấm dứt HĐLĐ đúng luật thì không có nghĩa vụ phải hoàn trả chi phí đào tạo Hỏi

1 Nhận xét về việc giao kết HĐLĐ giữa công ty Airway và A

2 Việc chấm dứt HĐLĐ của A có hợp pháp không? Tại sao?

3 A có phải hoàn trả chi phí đào tạo không? Tại sao?

4 Công ty Airway có thể gửi đơn đến những chủ thể nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp?

Giải quyết vấn đề

Câu 1:

Giữa công ty Airway và A ký kết 3 HĐLĐ:

Thứ nhất, HĐLĐ xác định thời hạn từ 8/7/2011 đến 7/7/2012

Thứ hai, HĐLĐ xác định thời hạn từ 8/7/2012 đến 7/7/2013

Thứ ba, HĐLĐ xác định thời hạn từ 8/7/2013 đến 7/7/2016

Trang 9

Như vậy, các HĐLĐ giữa hai bên có thời hạn lần lượt là 12 tháng, 12 tháng và 36 tháng Theo quy định tại Điều 22, Bộ luật Lao động 2012 (BLLĐ) quy định thì cả ba HĐLĐ trên đều là HĐLĐ xác định thời hạn quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 22, BLLĐ

Khoản 2 điều này quy định

“Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn”

Theo quy định tại Khoản 2 thì giữa hai bên trong quan hệ lao động chỉ

có thể kí tối đa hai HĐLĐ có thời hạn, nếu hai bên vẫn muốn ký hợp đồng thì phải ký hợp đồng không xác định thời hạn

Vì vậy hai HĐLĐ đầu tiên mà công công ty Airway ký với A là phù hợp quy định pháp luật còn HĐLĐ thứ ba là vi phạm quy định tại Khoản 2, Điều 22, BLLĐ

Câu 2

A đã chấm dứt HĐLĐ thứ ba với công ty Airway là hợp pháp

HĐLĐ thứ ba có thời hạn từ 8/7/2013 đến 7/7/2016 (36 tháng), sau đó gia hạn hợp đồng lao động thêm 24 tháng từ ngày 8/7/2016 đến 7/7/2018

Trang 10

Tổng cộng thời hạn HĐLĐ này là 60 tháng nên đây sẽ chuyển thành HĐLĐ không xác định thời hạn

Việc gia hạn HĐLĐ làm thay đổi loại HĐLĐ theo quy định tại Điều

5, NĐ 05/2015/NĐ-CP là không hợp pháp “Thời hạn hợp đồng lao động chỉ

được sửa đổi một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và không được làm thay đổi loại hợp đồng đã giao kết, trừ trường hợp kéo dài thời hạn hợp

đồng lao động với người lao động cao tuổi và người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách quy định tại Khoản 6 Điều 192 của Bộ luật Lao động” Theo dữ liệu đề bài không đề cập đến việc A là người cao tuổi

hoặc cán bộ công đoàn không chuyên trách nên theo em việc gia hạn hợp đồng của công ty Airway và A là không hợp pháp

Theo quy định của pháp luật, hai bên chỉ có thể ký nhiều nhất là 2 HĐLĐ có thời hạn liên tiếp, nếu muốn tiếp tục quan hệ lao động, hai bên phải ký HĐLĐ không thời hạn Như vậy sau khi hết hai HĐLĐ đầu tiên, A đáng lẽ phải được ký với công ty Airway HĐLĐ không thời hạn nhưng công

ty chỉ ký với A HĐLĐ có thời hạn, việc này đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của A nên theo em, A phải được hưởng những quyền như khi ký HĐLĐ không thời hạn với công ty Airway, trong đấy có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không có lý do theo quy định pháp luật

Vì thế việc A đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hợp pháp bởi theo quy

định tại Khoản 3, Điều 37, BLLĐ “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này” A đã báo

trước cho công ty Airway theo đúng quy định của pháp luật nên việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của A là hợp pháp

Câu 3 A phải hoàn trả chi phí đào tạo

Ngày đăng: 15/09/2022, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w