Việc cho vay của Ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008
Trang 1Đ i h c Kinh t Thành ph H Chí Minh ại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ọc Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ế Thành phố Hồ Chí Minh ố Hồ Chí Minh ồ Chí Minh Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Bộ môn Tài Chính Quốc Tế
Bài nghiên cứu 2:
Việc cho vay của Ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính
2008
GVDH: Lê Thị Hồng Minh SVTH: Nhóm 2 – NH 10
TP Hồ Chí Minh, 2010
Trang 2Lời phê của Giảng viên
-DANH SÁCH NHÓM
2
Trang 4MỤC LỤC
A NỘI DUNG CHÍNH: -5
Tóm tắt -5
1 Giới thiệu -6
2 Dữ liệu: -8
3.Nhân tố cơ bản : -9
4 Những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến việc cho vay của Ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng: -16
5 Nhận xét cuối cùng -21
B PHẦN BỔ SUNG -22
1 NHTW các nước hành động như thế nào trong khủng hoảng : 22
2 Bức tranh ngân hàng một năm sau khủng hoảng: -25
3 Tác động của khủng hoảng kinh tế Mỹ đến thị trường tài chính Việt Nam: -27
C GIẢI THÍCH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT & THUẬT NGỮ -29
TÀI LIỆU THAM KHẢO -33
BẢNG BIỂU -34
4
Trang 5A. NỘI DUNG CHÍNH:
Việc cho vay của ngân hàng suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008
Victoria IvashinaTrường Đại học kinh doanh Harvard
David ScharfsteinTrường Đại học kinh doanh Harvard và NBER
Phiên bản trước: Tháng 12 năm 2008Phiên bản này: Tháng 7 năm 2009
Tóm tắt
Tài liệu này cho thấy các khoản vay mới của những người đi vay lớn giảm 47% trong thời kỳcao điểm của cuộc khủng hoảng tài chính (quý tư năm 2008) so với quý trước và giảm 79% so vớiđỉnh cao của sự bùng nổ tín dụng (quý 2 năm 2007) Sự cho vay mới dùng để đầu tư thực (như làvốn kinh doanh và chi tiêu vốn) chỉ giảm 14% trong quý cuối năm 2008, nhưng gần như thu hẹpdần những khoản vay mới cho việc tái cấu trúc (LBOs, M & A, mua lại cổ phần) liên quan đếnđỉnh điểm của cuộc bùng nổ tín dụng Sau thất bại của Lehman Brothers trong tháng 9/2008 đã cómột nhu cầu lớn các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, gây khó khăn cho các ngân hàng tái đầu tư cáckhoản nợ ngắn hạn của họ Chúng tôi cho thấy rằng có một nhu cầu rút tiền lớn của những người đivay, những người đã rút những hạn mức tín dụng của họ, dẫn tới việc tăng đột biến các khoản vaythương mại và công nghiệp được công bố trong bảng cân đối của ngân hàng Chúng tôi khảo sátxem liệu có phải sự căng thẳng trên tính thanh khoản của ngân hàng đã dẫn đến việc họ phải cắtgiảm cho vay Đặc biệt, chúng tôi thấy rằng các ngân hàng sẽ cắt giảm các khoản cho vay ít hơnnếu họ tiếp cận các khoản tiền gửi tốt hơn và không phụ thuộc vào các khoản nợ ngắn hạn Chúngtôi cũng cho rằng các ngân hàng dễ gặp nguy hiểm với việc giải ngân hạn mức tín dụng, vì họ vớiLehman Brothers đồng cung cấp nhiều những hạn mức tín dụng đã làm giảm một lượng lớn cáckhoản cho vay của họ
Chúng tôi rất biết ơn những bình luận hữu ích của Ricardo Caballero, Shawn Cole, Itay Goldstein, Gary Gorton, Anil Kashyap, Bill Keaton, Arvind Krishnamurthy, Hamid Mehran, Michael Roberts, Jeremy Stein, Phil Strahan, Amir Sufi, và những người tham gia hội thảo tại Harvard, cuộc họp thường niên AEA, Darden, Chicago (Booth), NYU (Stern), MIT (Sloan), Đại học Amsterdam, Columbia, LBS, LSE, Imperial College London, New York Fed, Hội thảo Southwind và Hội nghị IDC Chúng tôi cảm ơn Chris Allen đã trợ giúp với các dữ liệu, và Bộ phận nghiên cứu tại trường kinh doanh Harvard hỗ trợ nghiên cứu.
5
Trang 61 Giới thiệu
Các ngân hàng rơi vào khủng hoảng vào năm 2008, đã đẩy các nền kinh tế trên toàn thế giớivào suy thoái nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng này đã được bắt nguồn từ sự bùng nổ tín dụng vàlên đến đỉnh điểm vào giữa năm 2007, theo sau là sự mất kiểm soát của các khoản thế chấp dướichuẩn (sub-prime) và tất cả các loại sản phẩm chứng khoán Điều này lần lượt làm suy sụp và làmtăng mối quan tâm về khả năng thanh toán và thanh khoản của các tổ chức tài chính, dẫn đến hoảngloạn toàn hệ thống ngân hàng sau thất bại của Lehman Brothers và Washington Mutual, và chínhphủ tiếp quản Fannie Mae, Freddie Mac và AIG Mặc dù hoảng loạn giảm xuống trong nửa đầutháng 10 sau khi một loạt các hành động của chính phủ để thúc đẩy tính thanh khoản và khả năngthanh toán của ngành tài chính, giá của hầu hết các loại tài sản và hàng hóa giảm mạnh, chi phí vaymượn của công ty và ngân hàng tăng đáng kể, và thị trường tài chính đã nhanh chóng bay hơi đếnmức chưa từng thấy
Mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của cuộc hoảng loạn ngành ngân hàng
về việc cung cấp tín dụng cho khu vực doanh nghiệp Hướng tới mục đích này, chúng tôi kiểm tra
dữ liệu trên các khoản vay tổ hợp - các khoản vay ngân hàng, mà trong đó một ngân hàng chủ trì
“originates” một khoản cho vay và liên kết với các tổ chức tài chính khác để chia sẻ một phần củakhoản vay Thị trường này phát triển hơn ba mươi năm qua như là phương tiện chính mà qua đócác ngân hàng cho vay đối với các tập đoàn lớn Quan trọng hơn, nó cũng bao gồm các thể chế phingân hàng khác - những ngân hàng đầu tư như Goldman Sachs và các công ty tài chính như GECapital - cũng như nhà đầu tư thuộc chính phủ như cho vay cầm cố (CLOs), các quỹ phòng chốngrủi ro, các quỹ tương hổ, các công ty bảo hiểm, và quỹ hưu trí Như vậy, thị trường cho vay đượcxem là một phần của hệ thống “shadow banking” đã phát triển hơn ba thập kỷ qua (Gorton, 2009).Chúng tôi bắt đầu ghi nhận rằng nguồn cung cho vay đồng tài trợ bắt đầu suy giảm vào giữanăm 2007, và suy giảm nhanh trong suốt thời kỳ khủng hoảng ngành ngân hàng bắt đầu vào tháng
9 năm 2008 Khối lượng cho vay trong quý IV năm 2008 (2008:Q4) là thấp hơn 47% so với quýtrước và thấp hơn 79% ở đỉnh cao của sự bùng nổ tín dụng (2007: Q2) Hoạt động cho vay đã giảmtrên tất cả các loại hình cho vay: cấp độ đầu tư và không đầu tư; thời hạn vay và các hạn mức tíndụng; và chúng được dùng để tái cấu trúc doanh nghiệp cũng như chúng được sử dụng cho mụcđích chung của công ty và vốn lưu động
Trong khi các khoản cho vay đồng tài trợ giảm, các khoản vay thương mại và công nghiệp (C
& I) trên bảng cân đối tổng hợp của khu vực ngành ngân hàng Mỹ thực sự tăng khoảng 100 tỉ USD
từ tháng 9 đến giữa tháng 10/2008, từ một con số ban đầu vào khoảng 1500 tỉ USD (Chari,Christiano, và Kehoe, 2008) Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng sự gia tăng này đã không được thúcđẩy bởi sự gia tăng trong các khoản vay mới, mà là do sự gia tăng các khoản giải ngân của công ty
đi vay trên hạn mức tín dụng hiện tại (các cam kết đầu tiên bởi các ngân hàng cho vay đối với cáctập đoàn quy định mức cho vay và mức giới hạn cho vay) Chỉ từ thông tin từ các tài khoản, chúngtôi có thể xác định các khoản giải ngân vào khoảng 26,8 tỉ USD, chiếm khoảng 25% tổng số giatăng các khoản vay C & I được báo cáo trên bảng cân đối tài khoản ngân hàng Trong hầu hếttrường hợp, các công ty tuyên bố rằng họ đã vạch ra các hạn mức tín dụng của họ để đảm bảo rằng
họ có quyền tiếp cận với các quỹ tại một thời điểm khi có sự quan tâm lớn về khả năng thanh toán
và thanh khoản của ngân hàng Ví dụ, tập đoàn Dana, một nhà sản xuất phụ tùng xe lớn, mô tảquyết định của mình để vạch ra các hạn mức tín dụng của họ như là " Đảm bảo sự tiếp cận tínhthanh khoản của chúng tôi đến phạm vi đầy đủ nhất có thể tại thời điểm nhọc nhằng của thị trườngvốn." 1
1 Dana Holding Corp 8-K report, 2 tháng 10 năm 2008
6
Trang 7Những khoản giải ngân này là một phần của việc "sự rút tiền hàng loạt" ở các ngân hàngxảy ra ở đỉnh cao của cuộc khủng hoảng Không giống như sự việc rút tiền hàng loạt ở các ngânhàng trước đây – được thúc đẩy bởi những người gửi tiền không có đảm bảo khi mà họ không cóbảo đảm tiền gửi – sự việc đổ xô rút tiền hàng loạt ở ngân hàng này đã được thúc giục bởi nhữngngười cho vay ngắn hạn, các bên đối tác và những người đi vay đã quan tâm về tính thanh khoản vàkhả năng thanh toán của ngành ngân hàng.2
Những người nắm giữ thương phiếu không được bảo đảm từ chối đàm phán về các khoản nợcủa họ, trong khi những người cho vay lại và các đối tác kinh doanh yêu cầu nhiều tài sản thế chấphơn để bảo đảm cho các khoản cho vay và mậu dịch, tất cả đều đó làm cạn kiệt tính thanh khoảntoàn hệ thống (Brunnermeier, 2009; Gorton, 2009) Những người đi vay mà đã vạch ra những hạnmức tín dụng của họ cũng là một phần của sự việc rút tiền hàng loạt này và cũng làm giảm tínhthanh khoản của ngành ngân hàng
Tài liệu này xem xét tác động của sự việc Ngân hàng này quản lý việc cho vay Hướng tớimục đích này, chúng tôi khai thác các biến đổi trong cấu trúc nợ của những ngân hàng để nhận biếtđược các ngân hàng dễ bị ảnh hưởng hơn trong việc điều hành Chúng tôi tập trung vào hai yếu tố:phạm vi mà một ngân hàng được tài trợ bởi các khoản nợ ngắn hạn hơn là tiền gửi được bảo hiểm
và sự rủi ro tài chính của nó đối với việc giải ngân hạn mức tín dụng
Trước hết chúng tôi đã chứng minh rằng những ngân hàng nhận khoản tài trợ tiền gửi nhiềuhơn sẽ cắt giảm khoản cho vay đồng tài trợ ít hơn là những ngân hàng không nhận các khoản tài trợ
từ nguồn quỹ ổn định này Một ngân hàng với tỷ lệ tiền gửi trên tài sản trung bình giảm số lượngcủa nguồn cho vay bằng 36% trong giai đoạn giữa tháng 8 và tháng 12 năm 2008 so với năm trước.Tuy nhiên, một ngân hàng với một tỷ lệ tiền gửi trên tài sản có độ lệch chuẩn dưới trung bình giảmnguồn cho vay của nó 49%, trong khi một ngân hàng với tỷ lệ tiền gửi có một độ lệch chuẩn trênmức trung bình chỉ giảm 21% nguồn cho vay của nó Qua lịch sử các cuộc khủng hoảng ngân hàng
bị gây ra bởi sự rút tiền gửi tiết kiệm ồ ạt, thật là mỉa mai rằng các ngân hàng với những khoản tiềngửi tiết kiệm nhiều hơn (mặc dù phần lớn trong số đó bây giờ được bảo hiểm) đã ít bị ảnh hưởngbất lợi do cuộc khủng hoảng ngân hàng
Vấn đề quan tâm thứ hai của chúng tôi là về tác dụng của việc giải ngân hạn mức tín dụnghoặc mối đe dọa của việc giải ngân các khoản vay tổ hợp Thật không may, chúng tôi không trựctiếp quan sát việc giải ngân hạn mức tín dụng Việc phân tích thêm phức tạp hơn bởi thực tế là cácngân hàng mở rộng thêm các hạn mức tín dụng thì thiên về tài trợ cho họ bằng các khoản tiền gửi.Điều này đã được thể hiện trong lý thuyết và công tác thực nghiệm của Kashyap, Rajan và Stein(2002) và Gatev và Strahan (2006) Do đó, các ngân hàng với rủi ro giải ngân hạn mức tín dụng lớnhơn thì ít có rủi ro rút tiền hàng loạt của các chủ nợ ngắn hạn Điều này gây khó khăn để nhận ramột hiệu ứng độc lập của việc giải ngân hạn mức tín dụng Cách tiếp cận của chúng tôi là để kiểmtra ảnh hưởng của việc giải ngân hạn mức tín dụng không mong muốn Đặc biệt, chúng tôi chorằng các ngân hàng mà đồng cung cấp hạn mức tín dụng với Lehman Brothers đã có nhiều kinhnghiệm trong việc giải ngân các khoản tín dụng lớn sau thất bại của Lehman Những cam kết sẽ cóđược hồi đáp bởi Lehman và sau đó sẽ phải được hồi đáp bởi các thành viên khác trong hiệp hội, vàcác hạn mức tín dụng với Lehman trong hiệp hội đó sẽ có nhiều khả năng bị rút ra Thật vậy, chúngtôi thấy rằng các ngân hàng đồng cung cấp một phần lớn hơn các hạn mức tín dụng của họ vớiLehman, giảm việc cho vay của họ nhiều hơn Điều thú vị là chúng tôi không tìm thấy một sự giảmlớn hơn trong cho vay, nếu một ngân hàng đồng cung cấp nhiều các khoản cho vay với Lehman,
2 Nợ ngắn hạn bao gồm Repos Xem Gorton và Metrick (2009) cho mô tả của họ về "run on repo" trong cuộc khủng hoảng
7
Trang 8cho rằng đó là việc giải ngân hoặc là sự đe dọa của việc giải ngân đem lại tác động, không liênquan với chính Lehman.
Những phát hiện này là phù hợp với sự suy giảm trong việc cung cấp nguồn tài trợ như là kếtquả của việc rút tiền hàng loạt tại ngân hàng Tuy nhiên, tại cùng thời điểm sự suy thoái kinh tế -
mà Cục nghiên cứu Quốc gia được ghi vào 12/2007 - cũng như viễn cảnh của một cuộc suy thoáisâu hơn, ngay cả khi cuộc khủng hoảng nổ ra, cũng có khả năng giảm nhu cầu về tín dụng Trongkhi đó một sự suy giảm trong nhu cầu có thể giải thích sự suy giảm tổng thể trong cho vay suốt thời
kỳ khủng hoảng, nó cũng phải giải thích lý do tại sao nhiều ngân hàng yếu kém cắt giảm cho vaynhiều hơn những đối tượng khác Một khả năng là những ngân hàng này có xu hướng để cho cáccông ty vay khi mà nhu cầu vay đã giảm hơn trong cuộc khủng hoảng Ví dụ, các ngân hàng đầu tư,
mà không tài trợ bằng các khoản tiền gửi, có thể cho vay nhiều hơn cho hoạt động mua lại Nếunhu cầu về tài chính đã giảm nhiều trong thời gian khủng hoảng thì việc nghiên cứu của chúng tôi
sẽ là kết quả của một cú sốc về nhu cầu hơn là cung cấp Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng kết quả làtiếp tục giữ cho các ngân hàng thương mại và cho những khoản vay không được dùng cho việcmua lại Đây là một trong một số giải thích có thể thay thế mà chúng tôi khám phá Và trong khichúng tôi trình bày bằng chứng cho thấy là không phù hợp với các cách giải thích khác chúng tôikhông thể chứng minh rằng các cú sốc trong cung ứng là không tương quan với nhu cầu vay tiền.Bài báo này được sắp xếp như sau Mục 2 mô tả ngắn gọn các dữ liệu Mục 3 trình bày cácthông tin cơ bản về cho vay của toàn thể ngân hàng về nhiều loại hình cho vay, và các tài liệu quantrọng của việc tiết giảm các hạn mức tín dụng Mục 4 trình bày những sự suy thoái điển hình vàmục 5 là kết luận
2 D ữ liệu:
Dữ liệu dùng cho cuộc phân tích của chúng tôi thì được lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu của nhữngngân hàng cho vay lớn 3 Hầu hết những khoản nợ này được cung cấp qua các hiệp hội, điều đó cónghĩa là được bắt đầu bởi 1 hoặc nhiều ngân hàng (kể cả các ngân hàng thương mại và các ngânhàng đầu tư) và được bán cho hiệp hội của các ngân hàng cũng như các nhà đầu tư khác, đáng chú
ý là những danh mục trái khoán (CDOs) cũng như các quỹ phòng chống rủi ro, các công ty bảohiểm, quỹ tương hỗ và quỹ hưu trí Kích cỡ trung bình của những khoản nợ giữa năm 2000 và 2006
là 467 triệu USD, đa số là 185 triệu USD và 90% các khoản là lớn hơn 20 triệu USD Những người
đi vay thì có mức thu nhập trung bình khoảng 3.2 tỷ USD, đa số là 0.5 tỷ USD
Những tin tức được đưa ra từ dữ liệu của DealScan thì khác với tin về các khoản nợ C&Iđược báo cáo bởi hội đồng dữ trữ liên bang của chính phủ (FRB) qua 2 cách chính sau Trước tiên,chủ yếu DealScan bao gồm các khoản vay tổ hợp, trong khi dữ liệu FRB thì còn bao gồm cả cáckhoản nợ tư nhân Thứ hai, DealScan báo cáo tổng phát hành nợ mà không để tâm tới người nắmgiữ sau cùng của các khoản nợ (bao gồm các ngân hàng đầu tư, các ngân hàng nước ngoài và các tổchức phi ngân hàng), trong khi dữ liệu FRB chỉ báo cáo các khoản nợ C&I trên bản báo cáo tàichính theo quy định các ngân hàng4 Do đó, đã có sự chồng chéo nhau giữa dữ liệu của FRB và
3 Một bài dịch gần đây của tờ giấy này đã bao gồm 1 sự điều chỉnh trễ của việc báo cáo trong dữ liệu của DealScan Tuy nhiên, chúng tôi đã phóng đại việc báo cáo muộn này Chúng tôi có thể thừa nhận sự khẳng định của DealScan về việc báo cáo muộn thì không quan trọng,bằng cách tải dữ liệu từ những điểm khác nhau và việc xác nhận đó cũng không có sự khác biệt đáng kể trong số liệu từ cơ sở dữ liệu Do đó, chúng tôi không phải điều chỉnh thêm nữa cho việc trễ không quan trọng của báo cáo.
4 Dựa theo dữ liệu từ chương trình Shared National Credit (SNC)
( www.federalreserve.gov/newsevents/press/bcreg/20081008a.htm ), trong năm 2007, gần 58% của toàn bộ lời cam kết
đã được rút lại bởi các cơ quan tài chính phi ngân hàng Tuy nhiên không kể đến các công ty tài chính, các cơ quan tài
8
Trang 9DealScan, nhưng mỗi tập hợp dữ liệu thì chỉ chiếm 1 phần nhỏ của các khoản nợ tập thể ở Mỹ.Trong khi chúng tôi thì không có dữ liệu trên các khoản nợ tư nhân nhỏ, những khoản nợ trong bảnmẫu của chúng tôi chiếm một phần lớn các khoản nợ chưa trả ngân hàng Trong thực tế, giá trị củacác khoản nợ chưa trả trong mẫu của chúng tôi thì vượt quá giá trị của các khoản nợ C&I trên bảnbáo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại 5
Thêm vào các sự khác biệt của những tin tức này, 2 tập hợp dữ liệu thì khác nhau về tiêuchuẩn đánh giá trong bản báo cáo tài chính về các khoản nợ C&I của FRB, trong khi dữ liệu củaDealScan bắt nguồn từ tiêu chuẩn của các khoản nợ mới phát sinh Chúng tôi sẽ thấy được sự thiếuchuyên môn trong tiêu chuẩn đánh giá bản báo cáo tài chính của FRB, chính nó đã làm khó khăntrong việc phân loại các khoản cho vay mới từ việc giải ngân trên các khoản nợ có cam kết hiệnnay Cùng thời điểm đó, các khoản nợ mới phát sinh của dữ liệu DealScan có thể bị sai lệch Chẳnghạn như, đã có sự giảm trong các khoản nợ phát sinh chỉ là bởi vì sự suy giảm trong các hoạt độngtái cấp vốn, các hoạt động này đã bị tăng lên quá cao khi mà lãi suất giảm trong suốt thời kì bùng
nổ tín dụng bởi vì các công ty đã giữ lâu hơn nữa mức lãi suất thấp cho các khoản vay tới hạn.Chúng tôi sẽ đề cập đến những phần này sau khi trình bày những nhân tố cơ bản
3.Nhân tố cơ bản :
Phần A của biểu đồ 1 biểu thị khối lượng đô la hàng quý của các khoản nợ phát sinh từ năm
2000 đến 2008 Bởi vì có sự hiện diện của những thành phần theo thời kì của các khoản vay tổ hợp– với sự tăng lên rõ ràng trong việc vay mượn trong quý II của mỗi năm – chúng tôi cũng biểu thị 1đường điều chỉnh theo từng thời kỳ 6 Phần B của biểu đồ 1 biểu thị số lượng đô la và số lượng củacác khoản nợ phát sinh trong năm 2007 và 2008, chỗ mà chúng ta ghi chú mục lục cả 2 đường kẻcủa quý I năm 2007 Không có gì đáng ngạc nhiên khi cả 2 đường liên hệ khá chặt chẽ với nhau
chính phi ngân hàng đã không phát sinh các khoản nợ
5 Dữ liệu từ chương trình SNC của Federal Reserve Boad thì hữu ích cho việc điều chỉnh dữ liệu của DealScan và FRB Hệ thống SNC cung cấp dữ liệu hằng năm cho các khoản nợ công 20 triệu đô la trở lên, những khoản này thì do từ ba cơ quan quản lý thuộc chính quyền liên bang trở lên nắm giữ (chiếm khoảng 95% mẫu DealScan của chúng tôi) Dữ liệu này cho chúng tôi thông tin về vốn của các khoản nợ công và sự phân phối của nó giữa các cơ quan tài chính Dựa vào chương trình SNC, trong năm 2007, tổng giá trị của các khoản nợ công C&I trên bản báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại hoạt động ở Mỹ là 378.3
tỷ đôla, điều đó đã ngụ ý rằng tối thiểu 26% của các tài khoản nợ công trong tổng các khoản nợ C&I được báo cáo bởi FRB (1437.2 tỷ đôla.) Đáng chú ý là các khoản nợ công thì cơ bản được phát sinh và năm giữ bởi các ngân hàng lớn (khoản nợ nhỏ nhất tiêu biểu dành cho việc bán là 5 triệu đô) Do đó, xấp xỉ 36% tài khoản công nợ của các khoản vay C&I trên bản báo cáo tài chính của các ngân hàng lớn và các ngân hàng nước ngoài (1041.9 tỷ đô).
6 Chúng tôi dựa trên thủ tục cơ bản dành cho sự điều chỉnh theo từng thời kì đã được phác thảo bởi Nau
( www.duke.edu/~rnau/411outbd.htm ).
9
Trang 10đô la của các khoản vay đã thấp hơn 64% so với đỉnh cao của quý sự bùng nổ tín dụng, và số lượngcác khoản vay đã thấp hơn 42% So thời gian đó, khối lượng đô la dùng để cho vay của các công tydịch vụ tài chính được ký kết chỉ đạt 32% , điều đó cho thấy rằng hợp đồng tín dụng không chỉ bởi
vì sự lo lắng về chất lượng khoản tín dụng của các tổ chức tài chính
Yếu tố 2: Sự sụp đổ trong các khoản nợ mới đã tăng nhanh trong tình trạng hỗn loạn của ngân hàng Trong quý IV năm 2008, khối lượng đô la cho vay đã thấp hơn 47% so với cùng
kì năm ngoái và số lượng đô la phát hành cũng thấp hơn 33% so với cùng kì năm ngoái.
Khối lượng đôla của các khoản nợ ngân hàng đã rớt từ 701.5 tỷ đô trong quý II năm 2007,đỉnh cao của sự bùng nổ tín dụng, xuống 281.4 tỷ đô trong quý III năm 2008, và sau đó xuống còn150.2 tỷ đô trong 3 tháng tiếp sau đó của quý IV năm 2008 Sự sụt giảm trong tháng 10 năm 2008
đã là một con dốc đặc biệt Khối lượng đôla cho vay tại đỉnh cuộc khủng hoảng tài chính đã nhỏhơn ¼ giá trị của nó trong 18 tháng gần đó Số lượng đôla phát hành cũng đã nhỏ hơn 1/3 giá trịcủa nó tại đỉnh cao khủng hoảng Trong thực tế,sự cho vay trong quý IV năm 2008 đã kém hơn ½mức cho vay trong suốt tình trạng suy thoái năm 2001
Trong khi sự sụt giảm của việc cho vay này có thể là kết quả từ cung và cầu của các hợpđồng cho vay, cũng có thể rằng nó nảy sinh từ sự gia tăng trong các khoản nợ tới hạn thanh toán, tỷ
lệ tái cấp vốn, hoặc cả hai Nếu những công ty mở rộng những khoản vay tới hạn của họ tại đỉnhcao của sự bùng nổ tín dụng thì đã có một sự giảm sút trong các khoản nợ và việc đó đã gần tới hạntrong suốt cuộc khủng hoảng, như một kết quả, chúng tôi có thể thấy ít hơn các hoạt động cho vay.Thêm vào đó, nếu những công ty thiên nhiều hơn về các khoảng nợ tái cấp vốn của họ trong suốt
sự bùng nổ tín dụng, bởi vì lãi suất đã thấp và các thỏa thuận đã không tiến triển tốt đẹp, thì cũng
sẽ có một sự sụt giảm trong những khoản nợ mới phát sinh trong suốt những quý sau đó Chúng tôi
đã kiểm tra cả hai khả năng đó và nhận thấy rằng không có cái nào liên quan đến cuộc điều tra củachúng tôi Đầu tiên, chúng tôi tìm giá trị các khoản nợ đến hạn được giữ không đổi trong bất kì quýnào từ nữa năm cuối của 2005 đến tận kì chúng tôi nghiên cứu Do đó, sự sụt giảm trong nhữngkhoản vay mới trong suốt cuộc khủng hoảng không thể cho là do một sự sụt giảm trong nhữngkhoản vay đến hạn trong suốt thời gian đó Thứ hai, nếu chúng tôi hoàn toàn loại trừ những hoạtđộng tái cấp vốn của các khoản nợ hiện nay thì chúng tôi sẽ vẫn quan sát những mẫu cơ bản nhưnhau trong những hợp đồng của những khoản nợ mới phát sinh
Bảng 1 thì xuất phát từ những dữ liệu dùng trong việc thực hiện các khoản vay Một phầnlớn các khoản vay đã được dùng trong việc tái cấu trúc lại doanh nghiệp - LBOs, sát nhập và mualại (M&A), mua lại cổ phần Trong năm 2007, những hình thức của “vay tái cấu trúc doanhnghiệp” thì xấp xỉ 61% các khoản vay tổ hợp 7 31% khác của các khoản vay đã được dùng chomục đích cổ phần hóa thông thường hoặc cho việc huy động vốn mà những hoạt động này chúngtôi sẽ quy vào “khoản vsy cho đầu tư thực” Chúng tôi tạo nên sự khác biệt này để minh họa cho sựsụp đổ trong việc cho vay đã bị hạn chế bởi hoạt động tái cấu trúc lại doanh nghiệp, cái mà đã có
sự gia tăng rất lớn trong những thập kỉ gần đây
Yếu tố 3: Trong quý IV năm 2008, khối lượng đô la của các “khoản vay tái cấu trúc lại doanh nghiệp” đã thấp hơn 84% so với đỉnh cao của cuộc bùng nổ tín dụng, và khối lượng đôla thực
7 DealScan báo cáo mục đích của các khoản vay, tuy nhiên, sự miêu tả này có thể bị sai lệch Bởi việc đọc các mục đich đã được đánh dấu trong DealScan và kết hợp nó với dữ liệu SDC dựa trên sự liên kết với những điều thu thập được, chúng tôi có thể phân loại trên 20 các khoản vay từ mục đích cổ phần hóa thông thường đến những “vay tái cấu trúc lại doanh nghiệp”
10
Trang 11tế của các khoản vay đầu tư thực đã thấp hơn 72% soi với đỉnh cao “Những khoản vay tái cấu trúc lại doanh nghiệp” đã sụt giảm 60% trong quý IV năm 2008 so với quý trước, trong khi khoản vay thực sự dùng đầu tư chỉ giảm 14%.
Biểu đồ 2 đã biểu thị giá trị của “khoản vay tái cấu trúc DN” và “khoản vay đầu tư” Nó chỉ
ra rõ ràng một điều rằng cả “các khoản vay tái cấu trúc DN” và khoản vay đầu từ đều giám sút mộtcách đáng kể Mặc dù sự sụt giảm trong “khoản vay tái cấu trúc DN” từ đỉnh cao của quả bom tíndụng đã lớn hơn một mức độ nào đó so với sự sụt giảm trong khoản vay đầu tư (84% và 72%),điều đó thì dễ hiểu rằng sự cho vay đã có sự sụt giảm không chỉ bởi vì hoạt động LBO và M&A đã
bị cạn kiệt
Chú ý rằng những khoản vay đầu tư đã biểu lộ một sự sụt giảm đều đặn, trong khi có quýcác “khoản vay tái cấu trúc doanh nghiệp” đã gia tăng Đó là bởi vì có một số LBOs và sự sáp nhậplớn có thể đã làm chuyển hướng tổng số lượng quý trong bất kỳ, và có một sự chậm trễ lớn giữaLBO và lời cam kết sáp nhập tài chính và ngày đáo hạn của sự giao dịch Chẳng hạn như trongtháng 10 năm 2006 người cho vay đã cam kết 1 khoản nợ 16 tỷ đô la cho LBO của công ty giải tríHarrah, một trong những hợp đồng mua đứt lớn nhất từ trước đến nay, tuy nhiên, khoản nợ đãkhông được thanh toán cho đến tháng 1 năm 2008 khi mà tất cả các thủ tục cần thiết đã được hoànthành Thực tế, số lượng của “các giao dịch tái cấu trúc DN” được chú ý nhiều hơn giá trị của cácgiao dịch đó, điều đó chỉ ra một sự sụt giảm đều đặn từ 584 giao dịch trong quý II năm 2007 xuống
125 trong quý IV năm 2008
[Bảng 1, biểu đồ 2]
Sự sụt giảm mạnh mẽ trong việc cho vay từ đỉnh cao của quả bom tín dụng diễn ra trùngvới sự sụt giảm đáng kể trong sự tham gia đầu tư của các tổ chức vào thị trường cho vay đồng tàitrợ
Thực vậy, sự phát triển của thị trường cho vay đồng tài trợ trong thập kỉ này là sự giải thích ởmức độ lớn cho sự đổ xô vào của những nhà đầu tư tổ chức CLOs, quỹ phòng chống rủi ro, quỹtương hỗ, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí Thật đáng để xem xét liệu rằng sự sụt giảm của việccho vay trong suốt cuộc khủng hoảng thì đáng chú ý hơn sự giảm nhỏ trong sự tham gia của các tổchức Nói một cách khác, các ngân hàng đã đóng một vai trò nào đó trong sự sụt giảm của hoạtđộng cho vay ? Một cách để trả lời câu hỏi này là nên chia dữ liệu ra các khoản cho vay để đầu tư
và không dùng để đầu tư bởi vì những nhà đầu tư bỏ hầu hết vốn của họ không dùng cho việc đầu
tư (Loan Syndications and Trading Association, 2007; Ivashina and Sun, 2008)
Yếu tố 4: Trong quý IV năm 2008, việc cho vay dùng để đầu tư chiếm 77% ít hơn mức độ của
nó vào thời đỉnh cao của sự bùng nổ tín dụng, và cho vay không dùng cho đầu tư chiếm 91% cũng thấp hơn đỉnh cao đó Các khoản cho vay để đầu tư giảm 22% trong quý IV năm 2008
so với quý trước, trong khi các khoản cho vay không dùng cho đầu tư giảm 75%
Biểu đồ 3 là đồ thị khối lượng đô la của việc phát hành mới của các khoàn cho vay khôngdùng cho đầu tư và các khoàn vay cho đầu tư Đồ thị này được dựa trên các mẫu phân loại sẵn.Cảhai loại cho vay giảm đáng kể từ đỉnh cao của sự bùng nổ tín dụng Sự suy giảm trong các khoảnvay dùng cho đầu tư không thể được giải thích do sự thu hẹp trong nguồn quỹ thuộc tổ chức bởi vìcác nhà đầu tư thuộc tổ chức này không phải là một phần lớn của thị trường này Hơn nữa, sự suygiảm trong khoàn cho vay không dùng để đầu tư trong 2008: Q4 cũng không hẳn là liên quan đếnviệc thu hẹp của nguồn vốn tổ chức bởi các nhà đâu tư đã được cắt giản chi tiêu đáng kể vào cuối
11
Trang 12năm 2007, chủ yếu là CLOs mà ở đỉnh cao chiếm khoảng hai phần ba thị trường.8 Thay vào đó, sựgần như biến mất của các khoản phát hành không dành cho đầu tư là một phần của tổng thể hướngđến chất lượng, Một dạng đặc biệt được quan sát đặc trưng trong sự suy thoái.
Yếu tố 5: Trong quý IV năm 2008,cả việc phát hành công cụ hạn mức tín dụng và tiền vay theo kỳ hạn mới đều bị sụt giảm nhưng sự sụt giảm trong tiền vay theo kỳ hạn (67%) vẫn lớn hơn trong hạn mức tín dụng (27%)
Biểu đồ 4 chỉ ra các mẫu về tiền vay theo kỳ hạn và hạn mức tín dụng Những công cụ hạn mức tíndụng cho phép các công ty cho vay lên đến một mức nhất định tại một mức lãi suất được thiết lậptrước (thường là một khoản chênh lệch trên mức LIBOR) Đối với quyền này, các công ty trả thêmphí hàng năm trên tất cả các phần của khoản vay không sử dụng Theo thông lệ, hạn mức tín dụngđược tài trợ bởi ngân hàng
Ở đây cũng vậy, các khỏan tiền theo kỳ hạn và các công cụ tín dụng tuần hòan hỗ trợ lẫn nhau Ta
có thể thấy một sự suy giảm lớn trong năm 2008 so với năm 2007, dẫn đến một mức thấp trong quýcuối năm 2008 Sự suy giảm trong hạn mức tín dụng với kỳ hạn thanh toán lớn hơn một năm thìlớn hơn Những công cụ này, trong đó bao gồm một phần lớn, yêu cầu các ngân hàng giữ nhiều vốnlưu động hơn là thực hiện các công cụ với kì hạn ít hơn một năm.Vì vậy, không có gì là ngạc nhiênbởi vì rằng khi có một sự sụt giảm lớn trong kỳ hạn dài
Sự suy giảm trong hạn mức tín dụng cũng dẫn đến sự suy giảm trong cho vay đã không chỉ nhờđến sự suy giảm trong việc tham gia thể chế trong các khoản vay được cung từ các ngân hàng làngười cho vay chính trong các hạn mức tín dụng có thời hạn
[Biểu đồ 4 & 5]
Như đã nói ở phần giới thiệu, mặc dù sự suy giảm rõ ràng trong cung cấp thông tin cho vaytrong thời gian khủng hoảng, đã có một sự gia tăng đột biến khỏan vay C & I trên bảng cân đốitổng hợp của các ngân hàng Mỹ trong bốn tuần sau khi thất bại của Lehman Brothers (Chari,Christiano, và Kehoe, 2008) Biểu đồ 5 minh họa cho điều này
Để điều hoà sự suy giảm trong cho vay được cung với sự gia tăng các khoản vay trên bảngcân đối ngân hàng ", chúng tôi chú ý công thức sau:
Khỏan vay chưa = khỏan vay chưa + vay mới + giải ngân năm t – khỏan vay
trả của năm t trả của năm t-1 thu hồi ở năm t.
Vì vậy, những khoản vay chưa trả sẽ tăng nếu tổng các khoản cho vay mới và giải ngân hạnmức tín dụng vượt quá khoản vay đã thanh toán Kể từ khi dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng sự suygiảm các khoản vay mới, điều này có nghĩa là có nghĩa là tăng trong giải ngân hoặc giảm trong cáckhoản nợ đã thanh toán9
8 Theo thị trường IFR, đã có 1.5 tỷ USD cho các khoản CLO mới phát sinh trong quý cuối của năm 2007 ở
Mỹ khi so sánh với 8.6 tỷ USD của các khoản CLO mới phát sinh trong tháng 6 cùng năm http://www.vnecon.com/showthread.php?t=4128
9 Việc Tăng các khoản vay C & I không thể được giải thích bởi mục tài sản và nợ phải trả của Washington Mutual (WaMu) trong các số liệu thống kê FRB WaMu là một tổ chức tiết kiệm trước khi nó đã được mua lại bởi Chase, và
do đó không phải là một phần của số liệu thống kê báo cáo bởi FRB Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc sáp nhập này vềmột loạt khoản cho vay C & I đã được tối thiểu vì WaMu chỉ có $ 1.9 tỷ của việc cho vay C & I vay như năm 2008: Q2.
12
Trang 13Khoản nợ thu hồi:
Công ty có thể chọn để thanh toán sớm nợ với dòng tiền dư thừa hoặc phát hành cổ phiếu.Trong thực tế, trong nhiều trường hợp LBOs, có nhiều kế hoạch rõ ràng để trả nợ sớm với dòngtiền dư thừa Mặc dù chúng tôi không có bằng chứng trực tiếp của một giảm trong các khoản vay
đã thu hồi, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu các công ty chọn cách không trả nợ sớm gia tăng.Đây sẽ là trường hợp của LBOs đang gặp rắc rối, các công ty mà muốn bảo đảm cho việc có thêmtiền mặt trên bảng cân đối của họ, hoặc những người miễn cưỡng trả nợ bằng việc phát hành cổphiếu trong thị trường suy giảm Bên cạnh sự sụt giảm của các khoản vay đã thanh toán là sự gia
tăng trong các khoản cho vay gia hạn Một số nợ ngân hàng dùng để tài trợ cho LBOs có " Pik Toggles", điều mà cho phép các công ty tăng nợ chưa trả chính trên khoản vay thay cho thanh toán
lãi bằng tiền mặt (ví dụ: để chọn lãi suất trả nợ tốt nhất) Trong tháng 7 năm 2008, Harrah'sEntertainment chọn cho chuyển về cho vay ngân hàng $1.4 tỷ cho vay của nó như một số doanhnghiệp khác Điều này cho thấy sự tăng các khoản nợ chưa trả
Giải ngân hạn mức tín dụng
Giải ngân của hạn mức tín dụng còn tồn tại không tính là khoản cho vay mới trong dữ liệucủa chúng tôi, nhưng sẽ tính là khoản vay bổ sung C & I trên bảng cân đối của các ngân hàng Mỹ.Trong khi chúng tôi không có dữ liệu tổng hợp về giải ngân hạn mức tín dụng, thì có dấu hiệu
rõ ràng từ dữ liệu chương trình phân phối tín dụng quốc gia của FRB (SNC), từ khảo sát của FRBcủa Khoản cho vay kinh doanh, và từ những báo cáo về việc các công ty tăng giải ngân đáp lại mốiquan tâm ngày càng cao về khả năng tiếp cận đến nguồn tín dụng
Theo dữ liệu của chương trình SNC của FRB, trong năm 2008, các phần hạn mức tín dụngchưa dùng đến được tính tăng tỷ lệ phần trăm của tổng số cho vay được cam kết bởi các ngân hànggiảm xuống 9% so với mức trung bình của lịch sử Đưa ra tổng hạn mức tín dụng chưa thanh toán,điều này ngụ ý rằng sự tăng thêm 119 tỷ $ có thể đã được rút ra từ các hạn mức tín dụng chưa dùngđến, khoản tiền mà gần với mức tăng 100 triệu $ trong khoản vay C & I sau thất bại của LehmanBrothers
Một hiện tượng tương tự được biết đến từ Khảo sát của các công ty về các khoản cho vaykinh doanh, có báo cáo lưu chuyển dữ liệu của các dòng cho vay trong tuần đầu tiên của tháng thứhai của mỗi quý dương lịch Số tiền rút ra trên hạn mức tín dụng trong tuần đầu tiên của thángmười một năm 2008 là $ 13,6 tỷ lớn hơn nó đã được ba tháng trước đó Chia con số này theo tỷ lệtrên toàn quý ngụ ý việc giải ngân tốt cũng vượt quá mức tăng trong C & I trên bảng cân đối tàikhoản vay ngân hàng
Cuối cùng, Bảng 2 liệt kê ra 34 ngân hàng giải ngân hạn mức tín dụng báo cáo từ giữa tháng
8 và tháng 12 năm 2008 Những thông báo đã được tìm thấy trong Factiva hay Reuters bằng cách
sử dụng các từ tìm kiếm (“rút” hay “bơm”) và (“quay vòng” hoặc “RC” hay “cam kết” hoặc “tíndụng” hoặc “vay”) Không có thông báo tương đương trong 3 tháng trước, gợi ý rằng có sự gia tăngtrong giải ngân Các mức độ giải ngân được xác định trong cuộc khảo sát này đạt $ 26.8 tỷ, tăng24% trong các khoản cho vay C & I trên bảng tổng hợp số dư ngân hàng Lưu ý rằng, không giống
như dữ liệu từ Chương trình SNC hay Khảo sát của các khoản cho vay kinh doanh, giải ngân được
thu thập từ các báo cáo không trực tiếp so sánh với các khoản cho vay C &oi I được báo cáo bởi
FRB vì: chúng tôi không quan sát tất cả việc giải ngân và bởi vì một số trong những hạn mức tíndụng này được tài trợ bởi các tổ chức phi ngân hàng
Thật thú vị, 20 trong số 30 ngân hàng được đánh giá trong mẫu đã dưới mức đầu tư vào cuốinăm 2008 Vào thời điểm giải ngân, hợp đồng hoán đổi nợ xấu (CDS) trải rộng trong 29 ngân hàng
mà đã có sẵn dữ liệu đã được 1.509 điểm cơ sở và trung bình là 1.007 điểm cơ sở, cho thấy xác
13
Trang 14suất mặc định cao Mặc dù có sự lan truyền CDS cao, 13 trong số 20 ngân hàng có mức độ tỷ lệđầu tư thấp có thể rút và trả lãi suất dưới mức lãi suất phổ biến cho các khoản nợ không dùng chođầu tư (LIBOR + 270 điểm cơ sở cho BB) Mặc dù vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ
có thể ngăn một công ty rút hạn mức tín dụng của nó (Sufi, 2009), nhiều khoản vay bắt nguồn hainăm trước được "giao ước-kém chất lượng" chúng có các điều khoản nới rộng, điều đó sẽ khôngngăn chặn họ rút hạn mức tín dụng khi mà điều kiện tài chính trở nên tệ hơn.10
[Bảng 2]
Nó cung cấp các thông tin lý do tại sao các công ty rút hạn mức tín dụng Trong 20 trườnghợp, các công ty tuyên bố rằng họ đã rút hạn mức tín dụng để tăng cường tính thanh khoản của họ
và tính linh hoạt tài chính trong cuộc khủng hoảng tín dụng
Ví dụ, trong một tập hồ sơ 8-K với SEC, công ty Tribune ghi rằng nó đang vay bằng công cụ
ở tín dụng quay vòng để tăng vị thế tiền mặt của nó để giữ được linh hoạt tài chính trong tình trạngkhông chắn chắn hiện tại của thị trường tín dụng Trong khi sự phá sản của Tribune được đệ trìnhtrong tháng 12 năm 2008 và vấn đề tín dụng của các các công ty khác được liệt kê trong bảng 2 đãlàm rõ sự hỗn loạn của thị trường tài chính thì không chỉ do cho việc gia tăng trong giải ngân, nódường như là sự kết hợp của các công ty – cụ thể là vấn đề tín dụng và thị trường – tính bất ổn địnhlớn về tài chính đã dẫn đến sự đẩy nhanh các khoản giải ngân
Lý do khác, mà nó được đưa ra để giải thích đỉnh cao của các khoản vay C&I trên bản cân đối
kế toán, là trong suốt cuộc khủng hoảng các ngân hàng phải mang những tài sản trước đây trên bảncân đối nội bộ chuyển vào sổ sách của họ Ví dụ như, một ngân hàng tài trợ cho một thương phiếuđược bảo đảm bằng tài sản (ABCP) tiêu biểu sẽ cung cấp sự hỗ trợ về tính thanh khoản, cái mà nếuđược sử dụng, có thể sẽ kết thúc việc mang những tài sản cơ sở vào bảng cân đối kế toàn của ngânhàng Mặc cho sự hỗ trợ về tính thanh khoản ít phổ biến trong công cụ đầu tư cấu trúc (SIVs), cácngân hàng cũng có thể cung cấp cho những quỹ có tác động như nhau trên bảng cân đối kế toán của
họ Có 3 lý do để tin rằng điều này không thể giải thích cho cái mũi nhọn trong các khoản vay C&Itrên bảng cân đối kế toán của ngân hàng sau sự phá sản của Lehman Trước tiên, tài sản tiêu biểuđược dùng trong những công cụ này thì không phải là các khoản vay C&I Thứ hai, vấn đề chínhtrong thị trường này thì đã được chứng minh trong hầu hết một năm trước sự phá sản của Lehman.Quả thực vậy, Citibank đã tạo nên những tin tức trong tháng 12 năm 2007 cho việc mang lại 49 tỷđôla của việc thế chấp nhà ở trở lại chứng khoán trên bảng cân đối kế toán của nó.11 Cuối cùng, là
do sự phơi bày các khoản vay C&I của các ngân hàng từ các công cụ này nhỏ hơn so với sự phơibày của họ về các khoản giải ngân hạn mức tín dụng Theo như Fitch Ratings, tài thời điểm cuốiquý III năm 2007: tổng số lượng của những công cụ thanh khoản được phát hành bởi ngân hàng
Mỹ liên quan tới việc phát hành ABCP là 357 tỷ đôla, và dòng thanh khoản bảo đảm cho SIVs thấpnhất là 191 tỷ đôla (52% của tổng dư nợ) 12 Ngược lại, chương trình SNC ước tình rằng tại cuốinăm 2007 xấp xỉ 1.4 triệu đôla của dòng chu chuyển được tài trợ bởi các ngân hàng được mở rộng,tạo ra cho nó một khoảng cách biệt lớn nhất so với bản cân đối nội bộ của các ngân hàng
10 Một hợp đồng vay vốn điển hình cũng bao gồm một (MAC) cung cấp cho phép người cho vay để chấm dứt hợp đồng cho vay nếu bên vay có một thay đổi vật liệu trong tình trạng tài chính của mình Những quy định rõ ràng loại trừ các thay đổi bất lợi trong điều kiện chung về kinh tế, thị trường tài chính hoặc các ngành công nghiệp thực hiện rộng Từ một sự thay đổi vật liệu bất lợi là phải giải thích, cách gọi nó thường dẫn đến kiện tụng Vì vậy, mặc dù tình trạng tài chính của nhiều công ty xấu đi, sự suy giảm rõ ràng là không đủ cho ngân hàng để gọi việc cung cấp MAC và nguy cơ kiện tụng Lưu ý rằng các ngân hàng không có thể gọi một điều khoản MAC bởi vì họ sở hữu điều kiện tài chính làm cho nó khó khăn cho họ để tài trợ cho vay; MAC mệnh đề liên quan đến sức khỏe của bên vay, không phải là người cho vay.
11 “Citigroup Says It Will Absorb SIV Assets”, MarketWatch, 13 tháng 12 năm 2007.
14
Trang 15Mặc dù các khoản vay C&I trên bảng cân đối tài khoản vay ngân hàng tăng từ tháng 9 đếngiữa tháng 10, biểu đồ 5 cho thấy nó chỉ giảm sau ngày 14 tháng 10 năm 2008, khi kho Kho bạc
Mỹ đã mua lại cổ phần và chứng quyền tại 9 ngân hàng lớn như một phần của Chương trình cắt
giảm những vấn đề về tài sản (TARP) và FDIC đã giới thiệu Chương trình bảo lãnh thanh khoản tạm thời để đảm bảo các vấn đề cấp phát nợ mới Veronesi và Zingales (2008) đã chứng
minh điều này dẫn đến một sự suy giảm lớn trong xác suất vỡ nợ tiên đoán khi đo bằng chênh lệchhoán đổi tín dụng ngân hàng không trả nợ đúng hạn Vì vậy khi mối quan tâm về khả năng thanhtoán và tính thanh khoản của ngân hàng giảm, các công ty chậm giải ngân hạn mức tín dụng Điềunày cung cấp một số hỗ trợ thêm để thấy rằng giải ngân hạn mức tín dụng tạo nên một hiện tượng
“đóng băng” của ngân hàng
4 Những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến việc cho vay của Ngân h à ng trong thời kỳ khủng hoảng:
Trong phần này, chúng tôi khảo sát những yếu tố điển hình ảnh hưởng đến việc cho vay củangân hàng trong suốt thời kỳ khủng hoảng Điều thú vị là có khả năng những ngân hàng yếu, cókhả năng đi theo sự thất bại của Lehman Brothers, đã giảm việc cho vay nhiều hơn so với nhữngngân hàng khác Về mặt lý luận, chúng tôi tập trung chủ yếu vào 2 nhân tố làm cho một số ngânhàng này dễ bị tác động hơn những ngân hàng khác: (i) Phạm vi cung cấp nợ ngắn hạn nhiều hơnnhững khoản tiền gửi được bảo đảm và (ii) sự sụt giảm giải ngân các hạn mức tín dụng Như đã nóitrong phần giới thiệu, những ngân hàng đã có thời kỳ hết sức khó khăn trong việc gia hạn nhữngkhoản nợ ngắn hạn (bao gồm cả việc cho vay lại) bởi vì mối quan tâm về khả năng trả nợ và tínhthanh khoản của hệ thống ngân hàng (Brunnermeier, 2009; Gorton, 2009) Những ngân hàng nàycũng phải đối mặt với sự sụt giảm không mong đợi trong giải ngân hạn mức tín dụng tuần hoàn của
họ Cả 2 nhân tố này làm tăng nhu cầu về tính lỏng của ngân hàng Có lẽ điều này đã dẫn đến việcngân hàng cắt giảm những khoản cho vay không có tính thanh khoản
Theo điều tra, chúng tôi nhận thấy những ngân hàng ít gặp vấn đề về vốn ngắn hạn là nhữngngân hàng tốt hơn trong việc đem vể cho họ những khoản tiền gửi Chúng tôi cho rằng nhữngkhoản tiền gửi, đặc biệt là những khoản tiền gửi có bảo đảm, là những nguồn ít biến động hơn củavốn so với những khoản nợ ngắn hạn Thực vậy, Gatev và Strahan (2006) nhận thấy rằng nhữngkhoản tiền gửi tăng trong điều kiện thị trường nợ ngắn hạn diễn biến xấu đi, trong khi những thểloại vốn khác không đi theo hướng này Do đó, chúng tôi dự đoán rằng những công ty (những ngânhàng) với số lượng tiền gửi lớn so với tài sản sẽ cắt giảm việc cho vay ít hơn trong suốt thời kỳkhủng hoảng của ngân hàng
Để kiểm tra dự đoán đó, chúng tôi đã tính tổng khoản tiền gửi như một phần giá trị nguồn vốnđược tính vào tháng 12 năm 2007 Giả sử rằng chúng tôi sử dụng những khoản tiền gừi có bảođảm, tuy nhiên chúng tôi không thể lấy những dữ liệu đó từ những ngân hàng nước ngoài (như làRoyal của Scotland, Societe Generale) Bảng 3 đã cho thấy những ngân hàng tầm trung đã có đến56% vốn huy động từ tiền gửi Ngân hàng tại vị trí thứ 25 (P25-25th percentile) của mẫu chúng tôi
có tiền gửi chiếm 26% Thực tế, 12 trong số 38 ngân hàng trong mẫu này là những ngân hàng đầu
tư (như Goldman Sachs) hay những công ty tài chính (CIT Group va GE Capital) có mức tiền gửirất thấp Chúng tôi đã bỏ qua ngân hàng đầu tư Bear Stearns, đã phá sản vào tháng 3 năm 2008.Chúng tôi vẫn giữ Lehman Brothers, đã sụp đổ vào tháng 9 năm 2008 và Merrill Lynch vàWachovia, cả 2 đều được mua trong tháng 10 năm 2008 Không có kết quả nào phụ thuộc vàonhững quyết định đưa ra và loại trừ
12 “Thương phiếu được bảo đảm bằng tài sản và sự phơi bài của ngân hàng Global”, Fitch Ratings, 12 tháng 9 năm 2007; “SIVs – đánh giá sự phơi bày của ngân hàng Sponsor”, Fitch Ratings, 14 tháng 11 năm 2007.
15
Trang 16Crisis Obs P25 P50 P75 Mean SD
All loans
% ∆ Total number of loans II vs I 38 -0.56 -0.49 -0.36 -0.47 -0.16
% ∆ Total number of loans II vs Pre 38 -0.75 -0.65 -0.49 -0.59 0.22
% ∆ Total number of loans (lead bank) II vs I 38 -0.55 -0.36 -0.23 -0.34 0.33
% ∆ Total number of loans (lead bank) II vs Pre 38 -0.70 -0.50 -0.33 -0.42 0.49
% ∆ Total amount of loans (lead bank) II vs.I 38 -0.67 -0.54 -0.36 -0.50 0.31
% ∆ Total amount of loans (lead bank) II vs.Pre 38 -0.80 -0.62 -0.37 -0.50 0.53
Real investment loans:
% ∆ Total number of loans II vs I 38 -0.51 -0.38 -0.21 -0.36 0.24
% ∆ Total number of loans II vs Pre 38 -0.64 -0.55 -0.38 -0.49 0.28
% ∆ Total number of loans (lead bank) II vs I 38 -0.60 -0.17 0.26 -0.13 0.62
% ∆ Total number of loans (lead bank) II vs Pre 38 -0.77 -0.54 -0.02 -0.15 0.97
% ∆ Total amount of loans (lead bank) II vs I 38 -0.71 -0.49 -0.25 -0.44 0.39
% ∆ Total amount of loans (lead bank) II vs Pre 38 -0.82 -0.6 -0.2 -0.31 0.97
Chúng tôi tính toán trên việc cho vay trung bình hàng tháng của mỗi ngân hàng trong 3 thờikỳ: trước khủng hoảng (08/2006 - 07/2007), khủng hoảng đợt I (08/2007 – 07/2008) và khủnghoảng đợt II (08/2008 - 12/2008) Thời kỳ trước khủng hoảng là những năm dẫn đến việc sụp đổcủa việc bùng nổ tín dụng Khủng hoảng đợt I bắt đầu từ việc sụp đổ của những thị trường dướichuẩn trong mùa hè năm 2007 Khủng hoảng đợt II bắt đầu từ tháng 8 năm 2008 khi hợp đồnghoán đổi nợ xấu căng thẳng trong tổ chức tài chính bắt đầu tăng và nó bao trùm thời kỳ mà nhữngmối quan tâm lớn thuộc về tính thanh khoản và khả năng trả nợ của hệ thống tài chính (khủnghoảng ngân hàng)
Chúng tôi đo lường việc cho vay của ngân hàng theo 3 cách khác nhau: (i) số lượng quy trìnhcho vay đồng tài trợ mà một ngân hàng tham gia, (ii) số lượng quy trình cho vay đồng tài trợ màngân hàng là người dẫn đầu, (iii) tổng số lượng đôla của quy trình cho vay đồng tài trợ mà ngânhàng là người dẫn đầu13 Chú ý rằng chúng tôi không quan sát những lượng thực tế được ngân hàngcho vay, mà chỉ quan sát lượng tiền quy trình cho vay và có khả năng một ngân hàng là người dẫnđầu cho vay hoặc những loại khác của thành viên hiệp hội Để chỉ ra sự thay đổi trong việc cho vaycủa ngân hàng trong giai đoạn II của khủng hoàng, chúng tôi tính phần trăm thay đổi trên mỗi biếntrong thời kỳ cơ sở là giai đoạn I của khủng hoảng hoặc tiền khủng hoảng
Như chúng ta có thể thấy được từ bảng 3, trong giai đoạn II của khủng hoảng những ngânhàng tầm trung đã cắt giảm nhanh chóng việc cho vay Ví dụ như trong giai đoạn II của khủnghoảng, những ngân hàng tầm trung đã giảm số lượng của nó trong số dẫn đầu xuống 36% so vớigiai đoạn I của khủng hoảng và 50% so với giai đoạn tiền khủng hoảng Có sự giảm đi 54% trong
13 Nếu việc cho vay nhiều hơn một ngân hàng, chúng tôi phân phối những phần bằng nhau của số lượng tiền vay cho mỗi ngân hàng đứng đầu.
16
Trang 17khối lượng đôla của số dẫn đầu so với giai đoạn I của khủng hoảng và giảm đi 62% so với tiềnkhủng hoảng.
Câu hỏi được đặt ra là liệu việc giảm đi đó có liên quan đến những khoản tiền gửi hay không.Bảng 4 cho thấy kết quả của việc giảm tăng trưởng các khoản vay trên các khoản tiền gửi (đượcbình thường hóa bởi tài sản) Ở những cột lẻ, biến phụ thuộc của chúng tôi là tăng trưởng vay liênquan đến giai đoạn I của khủng hoảng trong thời kỳ cơ sở và ở những cột chẵn, biến phụ thuộc làtăng trưởng vay liên quan đến giai đoạn tiền khủng hoảng trong thời kỳ cơ sở Chú ý rằng đây mộtgiai đoạn suy giảm tiêu biểu trong 38 quan sát Bất kể chúng tôi xác định sự thay đổi trong nhữngkhoản vay, hệ số trên tiền gửi là xác định và có ý nghĩa thống kê trong hầu hết những chi tiết Ví dụtrong cột 3, bảng 4, phần A, biến phụ thuộc là phần trăm thay đổi từ giai đoạn I đến giai đoạn IItính trên số khoản vay nợ ở những ngân hàng có vay trò quyết định Những ngân hàng tầm trunggiảm 34% trong số lượng cho vay đồng tài trợ, tuy nhiên hệ số ước lượng nói lên độ lệch chuẩntiền gửi của những ngân hàng trên mức giảm trung bình đôla cho vay 14%, trong khi độ lệch chuẩncủa những ngân hàng dưới mức giảm trung bình 51% trong khối lượng đôla cho vay
[Bảng 4]
Những ngân hàng với lượng tiền gửi thấp trãi qua những sự suy giảm lớn nhất trong vấn đềcho vay Tuy nhiên, có thể những ngân hàng mà rất nhiều trong số đó là ngân hàng đầu tư haynhững công ty tài chính, chuyên về những thể loại vay đã có kinh nghiệm trong việc sụt giảmnhanh về nhu cầu Đặc biệt, có sự giảm mạnh về hoạt động mua quyền kiểm soát công ty và muabán sát nhập trong suốt giai đoạn I và II Nếu những ngân hàng đầu tư tạo ra nhiều khoản vay trướckhủng hoảng (có lẽ đã đóng góp vào vốn cổ phần và kinh doanh tư vấn mua bán sát nhập), nó cóthể tạo ra mô hình mà chúng ta quan sát Phần B nói đến vấn đế này bằng việc tập trung vào những
khoản cho vay đầu tư thực tế (real investment loan) - nó được dùng cho những mục đích hợp tác hay vốn hoạt động Chúng tôi quan sát những mẫu kết quả cơ bản, với những hệ số xác định
và có ý nghĩa thống kê trên biến tiền gửi
Phân tích sử dụng tổng những khoản tiền gừi trong những biến giải thích chính của chúng tôi.Bởi vì những khoản tiền gửi có bảo đảm là một khoản cung cấp vốn ít biến động hơn so với nhữngkhoản tiền gửi không bảo đảm, nó có lợi để chứng minh mối liên hệ giống nhau chứa đựng trongbiến đó Không may chúng tôi không có được thông tin đáng tin cậy về những khoản cho vay cóbảo đảm của những ngân hàng nước ngoài trong mẫu Tuy nhiên, về những ngân hàng đó chúng tôi
có được 18 ngân hàng, chúng tôi tìm kiếm sự so sánh có hệ thống giữa việc tăng cho vay và cáckhoản tiền gửi an toàn Sự so sánh giữa sự thay đổi trong số lượng cho vay đồng tài trợ từ tiềnkhủng hoảng đến giai đoạn II của khủng hoàng và phần trăm của tiền gửi có bảo đảm tính đượctrong tháng 12 năm 2007 là 0.58
Lưu ý rằng trong khi chúng ta sử dụng những khoản tiền gửi để tính trong tháng 12 năm 2007thì khủng hoảng bắt đầu vào nửa cuối năm 2007 Việc tìm kiếm của chúng tôi sẽ bị sai lệch nếusuốt thời kỳ khủng hoảng, những khoản tiền gửi được phân phối lại cho những ngân hàng ít gặpvấn đề hơn Để giải quyết khả năng này, bảng 4, phần C trình bày phân tích của chúng tôi sử dụngnhững khoản tiền gửi tại thờ điểm cuối năm 2006 Những thông tin không đổi một cách định tính Bây giờ chúng ta đi đến những phân tích tác động của khả năng sụt giảm của việc thanh toánnhững công cụ tín dụng tuần hoàn trong hành vi cho vay của những ngân hàng Như đã nhắc đếntrong phần giới thiệu và ở bảng 2, những công ty rút tiền từ hạn mức tín dụng của họ chủ yếu bởi vìmối quan tâm về ngân hàng thực hiện những cam kết này Một cách để xác định những tác độngcủa việc giải ngân hạn mức tín dụng trong việc cho vay để ước tính mối liên hệ giữa tăng cho vay
và cổ phiếu hiện hữu của việc chưa thanh toán tín dụng tuần hoàn Vấn đề với sự tiếp cận ở đây lànhững hạn mức tín dụng và những khoản tiền gửi thì được đối chiếu một cách rất rõ ràng Biểu đồ
17
Trang 186 chỉ ra mối quan hệ giữa tiền gửi được đo bởi tổng tài sản và những khoản tín dụng tuần hoàn như
là một phần của tổng cho vay Sự so sánh có hệ thống của họ là 0.69 Kashyah, Rajan và Stein(2002) tranh luận rằng chúng tôi nên quan sát như là một mối quan hệ bởi nó hiệu quả cho nhữngtập đoàn tài chính trong việc giữ những tài sản có tính lỏng để đáp ứng cho những nhu cầu thanhkhoản không chắc chắn của những người gừi tiền và những người vay tiền, miễn là những nhu cầu
về tính thanh khoản không tương quan hoàn hảo Gatev và Strahan (2006) cho rằng khi thị trườngthương phiếu ảm đạm, những công ty rút những hạn mức tín dụng của họ, trong khi những quỹ bịrút tiền từ thị trường tiền tệ và gửi vào ngân hàng Do đó, những ngân hàng mạnh về cơ sở tiền gửi
có một vị trí tốt nhất để tài trợ cho hạn mức tín dụng
Hình 6 Mối quan hệ giữa Tiền gửi/Tài sản và Những vòng quay/Tổng cho vay.
Những ngân hàng được nêu tài trợ cho những khoản tiền gửi, chọn có nhiều rủi ro hơn tronghạn mức tín dụng, chúng tôi cần xác định một cú sốc bất ngờ trong việc giải ngân hạn mức tíndụng Việc đo lường của chúng tôi trên phạm vi những ngân hàng có chung hạn mức tín dụng vớiLehman Brothers Chúng tôi cho rẳng có ít nhất 2 lý do những ngân hàng có chung nhiều hạn mứctính dụng với Lehman sẽ yếu kém trong việc giải ngân hạn mức tín dụng sau sự sụp đổ củaLehman Đầu tiên, nếu một công ty rút ít hơn số lượng tối đa trong hạn mức tín dụng của nó, sau
đó những ngân hàng khác trong hiệp hội phải tài trợ những phần lớn hơn sau khi Lehman sụp đổ
Để thấy rằng tại sao, giả sử rằng Lehman và JPMorgan có cùng những cam kết 150 triệu đô bằngnhau trong 300 triệu đô công cụ tín dụng tuần hoàn Trước khi Lehman sụp đổ, nếu một công ty rút
100 triệu đô từ công cụ này, mỗi ngân hàng chỉ phải trả 50 triệu đô Sau khi Lehman sụp đổ, JPMorgan phải trả 100 triệu đô Do đó, sự sụp đổ của Lehman mang lại gánh nặng tài trợ cho nhữngthành viên khác trong hiệp hội14 5 ngân hàng trong bảng 2 đã nói rõ trường hợp đó15
14 Tuy nhiên, lưu ý rằng nếu một công ty yêu cầu 300 triệu đô và Lehman đáp ứng được giao kết của nó, JPMorgan vẫn
sẽ chỉ chịu trách nhiệm 150 triệu đô.
15 Trường hợp của Marriott 10-Q, thứ 3 ngày 3 tháng 10 năm 2008; “Chesapeake Energy gửi vào 460 triệu đô tín dụng
và rút ra trên RC “, Reuters, ngày 16 tháng 10 năm 2008; Báo cáo của Parker Drilling 8-K, 22 ngày 22 tháng 10 năm 2008; “FreeScale rút 460 triệu đô “, Reuters ngày 24 tháng 10 năm 2008, Accuride Corporation 8-K, 30 tháng 10 năm 2008.
18
Trang 19Lý do thứ hai tại sao sự thất bại của Lehman dẫn đến việc những thành viên cho vay đồngtài trợ lại có những khoản giải ngân thêm, lý do vì việc sụp đổ của Lehman làm tăng khả năng cáccông ty được tài trợ bởi Lehman sẽ rút hạn mức tín dụng của họ Một công ty luôn phải đối mặt vớinhững rủi ro mà ngân hàng của mình sẽ không thể hoặc không sẵn sàng tài trợ cho hạn mức tíndụng của nó Nhận được cam kết từ những nhà cho vay đa năng (như trong hiệp hội cho vay), làmột cách để giảm bớt nguy cơ này, nhưng cách này không loại trừ hẳn rủi ro Trong ví dụ trên, saukhi Lehman thất bại, bây giờ công ty chỉ có cam kết $ 150 triệu từ Morgan Vì vậy, rủi ro mà công
ty sẽ không thể rút hạn mức tín dụng của nó cũng tăng lên Thay vì phải chịu thêm rủi ro này, công
ty có thể lựa chọn hợp lý để rút hạn mức tín dụng của mình, thậm chí nếu nó không có một nhu cầutrước mắt cho nguồn tài trợ Trong thực tế, công ty truyền thông FairPoint giải thích ngắn gọn việcgiải ngân của nó ở trên như là hành động “cần thiết để bảo vệ quyền tiếp cận của nó đến nguồn vốnbởi vì mức độ tham gia của Lehman Brothers trong công cụ nợ của công ty và sự không sẵn baobọc cả công ty đó và các thị trường tài chính nói chung” Việc khuyến khích rút hạn mức tín dụngđược tăng thêm, nếu công ty phỏng đoán rằng những người khác cũng sẽ được rút trong hạn mứctín dụng của họ vì nó làm tăng cơ hội mà các ngân hàng sẽ không thể hoặc không sẵn sàng tài trợcho các hạn mức tín dụng của họ Điều này là hợp lý khi dẫn tới những người gửi tiền đổ xô tớingân hàng như trường hợp Diamond và Dybvig (1983) Tổng quát, người ta ước tính rằng tại thờiđiểm nộp đơn phá sản của Lehman đã có 30 tỷ $ các cam kết luân chuyển chưa được rút.16
Vì những lý do này, chúng tôi dự đoán rằng các ngân hàng đồng cung cấp với Lehman sẽphải giải ngân hạn mức tín dụng nhiều hơn và sẽ chịu áp lực nhiều hơn để cắt giảm việc cho vayhợp tác Để kiểm tra dự đoán này, chúng tôi đo lường số lượng chưa thanh toán của hạn mức tíndụng đồng hợp tác với Lehman khi mà một phần trăm của tất cả các hạn mức tuần hòan được bắtđầu trước khi kết thúc năm 2007 và chưa thanh toán suốt quý IV năm 2008 Chúng tôi chỉ tínhnhững khoản vay, nơi Lehman là một trong những người cho vay chính vì Lehman sẽ không cókhả năng bán được những cam kết trong thị trường thứ cấp 17 Tuy nhiên, rất quan trọng để nhớrằng sự ủy nhiệm của chúng ta là một thước đo cơ bản bởi vì chúng ta hiếm khi biết sự phân phốihiện tại trong việc cho vay đồng tài trợ và bởi vì chúng tôi không biết liệu rằng có sự giải ngântrước đây trong các hạn mức tín dụng đang tồn tại
Theo báo cáo tại Bảng 3, theo mức trung bình, 6% của những hạn mức tuần hoàn là đồngcung cấp với Lehman Các kết quả ở Bảng 5 cho thấy rằng các ngân hàng đồng cung cấp một phầnlớn hơn các hạn mức tín dụng với Lehman, cắt giảm cho vay của mình nhiều hơn các ngân hàng ítcung cấp với Lehman Cột 3 của Bảng 5, Phần A báo cáo kết quả, trong đó biến phụ thuộc là sựthay đổi tỷ lệ phần trăm thay đổi trong số lượng các khoản vay có nguồn gốc từ các ngân hàngtrong giai đọan II so với giai đọan I Ước tính điểm cho thấy rằng các ngân hàng có độ lệch tiêuchuẩn cao hơn chịu rủi ro của Lehman thông qua những hạn mức tuần hoàn giảm 44%, trong khicác ngân hàng với độ lệch chuẩn thấp hơn chịu rủi ro từ Lehman giảm 25% trong cho vay Một sosánh các cột 3 và 4 cho thấy rằng nó tác động thấp hơn trong thời kỳ tiền khủng hoảng, phù hợp vớithời gian Lehman sụp đổ
Một trong những mối quan tâm trong phân tích này là việc đồng cung cấp các hạn mức tuầnhoàn với Lehman có thể để lại những rủi ro khác cho các ngân hàng cung cấp với Lehman Trong
16 Phần trình bày của Loan Syndications và Hiệp hội Kinh doanh "Kiểm tra pháp lý và thực tế kinh doanh của vay Syndicated thừa hưởng", WilmerHale, Boston, 15 tháng 7 năm 2009.
17 Chúng tôi sử dụng cụm từ cho vay hợp tác 'để xác định các khoản cho vay với nguồn quỹ đáng kể từ Lehman Nói chung, cho vay với các cam kết nhỏ được gọi là “participants”, một tiêu đề mặc định Khác hơn là “participant” - ví dụ như đề, “đại lý chứng minh tài liệu”, “đồng sắp xếp”, “đồng tác quản lý”, vv - Xác định cam kết lớn và được sử dụng bởi xx để tính toán những người nắm chính trong thị trường cho vay đồng tài trợ, được báo cáo trong “bảng xếp hạng”
19
Trang 20phạm vi các ngân hàng bị mất tiền như là kết quả của các rủi ro này, cuộc nghiên cứu của chúng tôichỉ đơn giản là phản ánh một thực tế là các ngân hàng kinh doanh với Lehman đang chịu tình hìnhtồi tệ hơn và do đó phải cắt giảm cho vay Trong khi sự giải thích này thật thú vị, chúng tôi nghingờ rằng đó không phải là lời giải thích Bảng 5, phần C chỉ ra rằng các ngân hàng mà đồng cungcấp nhiều hơn các khoản cho vay kỳ hạn với Lehman không cắt giảm cho vay nhiều hơn Điều nàycho thấy đó là giải ngân – hay mối đe dọa từ giải ngân - đó là thúc đẩy sự tác động, không phải làmối quan hệ với tự bản thân Lehman.
[Bảng 5]
Một mối quan tâm chung từ những phát hiện của chúng tôi có lẽ chúng được dẫn dắt bởi bảnchất của người vay hơn là cấu trúc tài chính ngân hàng và rủi ro hạn mức tín dụng Ví dụ, có thểnhận biết rằng các công ty vay từ ngân hàng ký quỹ đáng tin cậy, thì ít bị ảnh hưởng bởi suy thoái
và vì thế ít chịu một cú sốc tiêu cực từ nhu cầu vay tiền Để giải quyết vấn đề này, Bảng 6 cung cấpcác số liệu thống kê tóm tắt về người đi vay trong thời kỳ tiền khủng hoảng Dữ liệu doanh thu củaDealScan, trong khi phần còn lại của dữ liệu là của Compustat Kết hợp với Compustat làm giảm
số lượng người đi vay các thống kê này dựa trên đó Chúng tôi tính trung bình cho mỗi ngân hàng
và sau đó trung bình trên toàn ngân hàng Cột đầu tiên cung cấp trung bình cho tất cả 38 ngân hàng.Cột 2 giới hạn các mẫu cho 10 ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi trên tài sản cao nhất trong tháng 12 năm
2007, trong khi cột 3 chỉ ra dữ liệu trên 10 ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi trên tài sản thấp nhất Không
có sự khác biệt rõ ràng qua hai hệ thống ngân hàng về doanh thu, tài sản đi, đòn bẩy, Q, hay lợinhuận trên tài sản của người đi vay Nó thể hiện rằng nếu người đi vay của những ngân hàng kýquỹ đáng tin cậy ít bị rủi ro bởi suy thoái, nó không xuất phát từ một trong những đặc trưng này Cột 4 và 5 chỉ ra đặc thù của người đi vay trong 10 ngân hàng có rủi ro hạn mức tín dụng caonhất với Lehman và 10 ngân hàng với rủi ro hạn mức tín dụng thấp nhất với Lehman Có vẻ làdoanh thu trung bình của người đi vay được tài trợ bởi các ngân hàng có mức chu chuyển từLehman thì lớn hơn nhiều so với được tài trợ bởi ngân hàng có rủi ro với Lehman thấp Điều ngượcthì đúng đối với tài sản (Lưu ý rằng các dữ liệu tài sản đến từ tiểu mẫu phù hợp với Compustat).Không có các đặc tính nào khác trên toàn tiểu mẫu
Để xem liệu sự khác biệt về kích cỡ có thể ảnh hưởng đến hành vi cho vay trong thời khủnghoảng – bởi vì những người đi vay lớn đã có một cú sốc lớn từ nhu cầu vay tiền - chúng tôi tínhđến cả doanh thu trung bình của những người đi vay ngân hàng trong thời kỳ tiền khủng hoảng.Các kết quả được báo cáo trong phần A của Bảng 7 Biến doanh thu thì không có ý nghĩa thống kê,
và việc đưa nó vào không có nhiều ảnh hưởng đến biến tiền gửi và biến rủi ro với Lehman Thước
đo kích thước của tài sản (không ghi trên báo cáo) cũng không có hiệu lực đối với hệ số lãi suất Cuối cùng, chúng tôi lưu ý rằng các ngân hàng có khoản tiền gửi thấp trong mẫu chủ yếu làcác ngân hàng đầu tư Những ngân hàng đã trãi qua việc tăng cho vay nhiều hơn trong suốt sự bùng
nổ tín dụng phần vì sự hiện diện mạnh mẽ của mình trong việc tài trợ cho các hoạt động LBO và M
& A Do đó, sẽ không ngạc nhiên nếu việc cho vay của họ đã giảm nhiều trong cuộc khủng hoảng
vì các hoạt động LBO và M & A cạn kiệt Để kiểm soát khả năng này chúng tôi đã tính đến danhnghĩa ngân hàng đầu tư trong những suy thoái cơ sở Những sự suy thoái này được báo cáo tạiPhần B, Bảng 7 Các hệ số danh nghĩa của ngân hàng đầu tư thì không có ý nghĩa thống kê, không
có thay đổi đáng kể so với các hệ số khác Chúng tôi kết luận rằng trong khi có khả năng bản chấtcủa bên vay có thể điều khiển nhu cầu vay vốn - và những đặc trưng này có thể có tương quan vớicác khoản tiền gửi tin cậy và rủi ro hạn mức tín dụng - chúng sẽ dường như không tuân theonguyên tắc Chúng tôi biết chẳng có lý thuyết cụ thể nào kết hợp giữa bên vay và ngân hàng là phùhợp với những phát hiện của chúng tôi
[Bảng 6 & 7]
20
Trang 21ro hơn trong việc giải ngân hạn mức tín dụng thì giảm cho vay của mình các ngân hàng khác
Sự sụt giảm trong việc cung cấp tín dụng có ý nghĩa quan trọng Nếu không có sự suy giảmtrong việc cung cấp hạn mức tín dụng, có khả năng sẽ giảm bớt sự suy giảm trong nhu cầu vay vốn
do áp lực giảm trên chênh lệch lãi suất Tuy nhiên, việc giảm cung cấp, gia tăng áp lực đi lên củachênh lệch lãi suất, và dẫn đến sự giảm lớn hơn trong cho vay hơn người ta có thể nhìn thấy trongmột cuộc suy thoái điển hình Sự kết hợp của tình trạng suy thoái và khủng hoảng ngân hàng là mộtvấn đề còn nhiều tranh cãi
Thực tế là một số ngân hàng bị ảnh hưởng bất lợi nhiều hơn có thể ảnh hưởng đến việc phânphối tín dụng trong nền kinh tế Nếu vấn đề mối quan hệ giữa ngân hang và người vay có ý nghĩacho quá trình cho vay, sau đó người đi vay của một ngân hàng hạn chế về tính thanh khoản có thểkhông dễ dàng chuyển đổi cho một ngân hang ít hạn chế hơn về thanh khoản Vì vậy, một số ngânhàng có thể có đủ vốn để cho vay, nhưng không sẵn sàng mở rộng tín dụng cho các công ty mà họkhông có mối quan hệ trước đó Khả năng chuyển đổi người cho vay có thể giảm nhẹ những tácđộng của việc giảm cung cấp tín dụng Kinh nghiệm từ sự thất bại của Continental Illinois NationalBank vào năm 1984 cho thấy chuyển đổi như vậy là không dễ dàng (Slovin, Sushka và Polonchek,1993) Liệu vấn đề trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là một câu hỏi mở và xứng đáng đểnghiên cứu nhiều hơn hay không?
21
Trang 22B. PHẦN BỔ SUNG
1 NHTW các nước hành động như thế nào trong khủng hoảng :
Khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn tiếp tục lan rộng Danh sách các quốc gia chịu ảnh hưởngngày một tăng Hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới đều tụt dốc Tuy vậy, tác động củacuộc khủng hoảng đến mỗi quốc gia là không giống nhau và hãy xem chính phủ các nước đang làm
gì để giảm nhẹ tác động từ cuộc khủng hoảng này
Với lần cắt giảm này, lãi suất cơ bản đồng USD được đưa về mức 1,5%, lãi suất cơ bản Eurogiảm còn 3,75%, lãi suất Đô la Canada còn 2,5%, lãi suất cơ bản đồng Bảng Anh còn 4,5%, lãi suấtđồng Krona của Thụy Điển giảm còn 4,25%
Trung Quốc
Dù được đánh giá là chịu tác động không lớn của cuộc khủng hoảng hiện nay, nhưng TrungQuốc cũng đã gia nhập làn sóng cắt giảm lãi suất khi hạ tỷ lệ lãi suất cơ bản thêm 0,27% xuống còn6,93% Hồng Kông cũng giảm lãi suất cơ bản xuống 2%
Như vậy, đây là lần thứ hai trong vòng 3 tuần, Trung Quốc tiến hành cắt giảm lãi suất
Một khoản tài chính trị giá 200 tỷ Bảng cũng sẽ được Ngân hàng trung ương Anh sẵn sàngcung cấp cho hệ thống ngân hàng trong trường hợp cần thiết phải tăng khả năng thanh toán bằngtiền mặt
Một công ty đặc biệt cũng sẽ được thành lập để cung ứng 250 tỷ bảng đảm bảo các khoản vaycho các ngân hàng và các tổ chức tài chính
Kế hoạch này đã được đưa ra sau khi cổ phiếu của các ngân hàng Anh bổ nhào trong phiên giaodịch ngày 7/10 và Phòng Thương mại Anh cảnh báo nền kinh tế nước này đã thực sự rơi vào suythoái, số người thất nghiệp có thể tăng thêm 350.000 ngàn người trong năm tới
Từ ngày 7/10, Chính phủ Anh cũng tăng mức đảm bảo cho các tài khoản tiết kiệm từ 35.000Bảng (62.000 USD) lên 50.000 Bảng
22
Trang 23Một trong những ảnh hưởng đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính tại Anh là việc ngân hàngNorthern Rock và Ngân hàng cho vay thế chấp Bradford & Bingley đã bị quốc hữu hoá và hai ngânhàng lớn khác là HBOS và Lloyds TSB đã phải sáp nhập.
Tuy nhiên sau đó, một kế hoạch mới đã được dàn xếp giữa chính phủ và các ngân hàng tư nhânchỉ vài giờ trước khi thị trường chứng khoán mở cửa trở lại sáng 6/10 Theo đó, các ngân hàng tưnhân đã đồng ý cung cấp thêm 15 tỷ euro, đưa tổng số tiền bơm cho HRE lên 50 tỉ euro
Chính phủ Đức cũng đã thông báo sẽ bảo đảm không giới hạn cho các tài khoản tiền gửi cánhân Tuy nhiên, Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng khẳng định, lãnh đạo/ các nhà quản lý củacác tổ chức tài chính sẽ phải chịu trách nhiệm về “việc kinh doanh vô trách nhiệm” của mình
Quốc hội Iceland cũng đã thông qua một dự luật khẩn cấp cho phép chính phủ có quyền lực lớnhơn để can thiệp sâu vào hoạt động của các ngân hàng
Ông Haarde cho biết, dự luật này sẽ giúp quốc đảo này tránh được một làn sóng phá sản.Iceland cũng sẽ đưa ra sự bảo đảm không hạn chế đối với tất cả các tài khoản tiền gửi
Đồng Krona của nước này đã giảm mạnh giá so với USD sau khi chính phủ quốc hữu hoá ngânhàng lớn thứ ba Glitnir hồi tuần trước Tính đến ngày 3/10, đồng tiền này đã mất đi một phần nămgiá trị của nó
Chính phủ Iceland cũng đã nhất trí các biện pháp cho phép các ngân hàng bán một số tài sản ởnước ngoài để củng cố hệ thống tài chính của họ
23
Trang 24Sau nhiều cố gắng cứu trợ thất bại, tập đoàn BNP Paribas của Pháp đã nhất trí mua lại 75%hoạt động của Fortis tại Bỉ và Luxembourg Riêng hoạt động của BNP tại Hà Lan đã bị quốc hữuhoá.
Ailen
Ailen là chính phủ đầu tiên thực hiện các biện pháp cứu nguy cho các ngân hàng với cam kếtđảm bảo cho tất cả các khoản tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các khoản nợ tại 6 ngân hàng lớn củanước này trong 2 năm Cam kết này được đưa ra vào ngày 30/9
Ban đầu, động thái này đã khiến một số quốc gia châu Âu ngạc nhiên, tuy nhiên sau đó nhiềunước đã “theo bước” Ailen
Tây Ban Nha
Thủ tướng Tây Ban Nha Jose Luis Rodriguez Zapatero hôm thứ ba (7/10), đã tăng mức đảmbảo tiền gửi tại các ngân hàng lên 100.000 euro (136.000 USD) từ mức 20.000 euro trước đó.Thủ tướng Zapatero khẳng định với các ngân hàng hàng đầu nước này rằng, chính phủ sẽ thựchiện các biện pháp khẩn cấp nhằm tăng mức bảo đảm tiền gửi để củng cố niềm tin trong hệ thốngtài chính
Tây Ban Nha cũng đã kêu gọi các quốc gia châu Âu nên hành động chung để giải quyết nhữngvấn đề của cuộc khủng hoàng tài chính thế giới hiện nay
24
Trang 25Trong một thông báo, Tổng thống Medvedev đã kêu gọi cộng đồng quốc tế đưa ra các biệnpháp khẩn cấp để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay.
Ông nói: “Cuộc khủng hoảng trong hệ thống tài chính quốc tế hiện nay cần có sự phối hợphành động nhanh chóng Đây rõ ràng là thời điểm để cùng đưa ra những quyết định mới”
Đề xuất này sẽ được trình lên quốc hội thông qua vào thư hai tới
2 Bức tranh ngân hàng một năm sau khủng hoảng:
Một năm sau khủng hoảng, giật mình nhìn lại quá khứ, đã có "kẻ được, người mất"
Kẻ chiến thắng
Tại Mỹ, ngân hàng Goldmans Sachs có lịch sử hình thành lập từ năm 1869 đã trở thành một
trong hai ngân hàng lớn nhất của Mỹ, cùng với Morgan Stanley, đứng về phía những "người chiếnthắng"
Trong quý II/2009, khi kinh tế thế giới suy thoái nặng nhất, ngân hàng này đã đạt một thành côngvượt bậc, lợi nhuận tăng 65% so với cùng kỳ năm trước, khoảng 3,4 tỷ USD
Kết quả này đã gây ra nhiều chỉ trích từ những người cho rằng nó nắm trong tay những quỹ đầu
cơ khổng lồ sống nhờ các hoạt động không liên quan gì tới cung cấp tài chính cho nền kinh tế.Những phê phán này càng nổi lên khi mà Goldmans Sachs công bố cam kết về các khoản tiềnthưởng hậu hĩnh, trị giá tới 11,4 tỷ USD, bắt đầu "rót" từ đầu năm 2010
Lợi nhuận của ngân hàng hàng đầu nước Mỹ không phải đến một cách ngẫu nhiên Đó là kếtquả của một lựa chọn chiến lược đã có từ lâu: tuyển mộ các chuyên gia có chất lượng cao.Goldmans Sachs là ngân hàng đầu tiên tuyển dụng những người tốt nghiệp có kết quả tốt từ nhữngnăm 1930, và có chính sách tiền lương hợp lý, vừa hào phóng với các nhân viên giao dịch, lại vừakiểm soát được rủi ro, một yếu tố then chốt khiến nhiều ngân hàng bị mất giá trị
Một ngân hàng khác, JP Morgan Chase, cũng bước ra khỏi khủng hoảng với vị thế của kẻ
thắng Thiết chế tài chính này nhờ sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ đã mua lại ngân hàng tín thácWashington Mutual rơi vào khó khăn trong tháng 9/2008, nhờ đó biến đổi quy mô hoạt động Sau
vụ này, JP Morgan sở hữu mạng lưới đại lý mạnh hơn, trong khi thị trường bị co hẹp lại chỉ sau vài
25
Trang 26tháng với 80 vụ đổ vỡ ngân hàng kể từ đầu năm 2009 Mạng lưới đại lý hiện nay đưa ngân hàngnày lên ngang tầm với Bank of America hay Well Fargo trên thị trường ngân hàng bán lẻ, với thịphần chiếm 10% lượng tiền gửi.
Trong khi đó, tại Anh, mặc dù ngành ngân hàng bị cơn bão khủng hoảng tài chính tàn phá nặng
nề và phải nhờ tới sự hỗ trợ của Nhà nước, Barclays vẫn được hưởng lợi Là ngân hàng châu Âu
duy nhất dám mua lại hoạt động của Lehman với số tiền tượng trưng (không kể lĩnh vực bất độngsản), Barclays đã thu được một món hời lớn nhờ quyết định dũng cảm
Cuối cùng, trong danh sách những kẻ thắng không thể phủ nhận có ngân hàng đầu tư lớn nhất
của Pháp, BNP Paribas Trong vòng hai năm, thể chế này vươn từ vị trí thứ 10 lên thứ 7 về giá trị
trên thị trường chứng khoán (không kể các ngân hàng của Trung Quốc) và đạt được điều đó màkhông cần tăng vốn, đồng thời vươn từ vị trí thứ 9 lên thứ 6 thế giới xét về mặt lợi nhuận Có đượcbước tiến này là do BNP Paribas đã mua lại ngân hàng Fortis của Bỉ, cho phép mở rộng mạng lướihoạt động tại châu Âu, phình to thêm khả năng thu hút tiền gửi và chiếm thêm thị phần trên thịtrường đầu tư vốn
Những kẻ thất bại
Phía những người thua thiệt rõ ràng đông hơn, có cả một số tên tuổi lớn, làm dấy lên một cuộc
thảo luận gay gắt trong suốt năm 2008 Một trong số đó là ngân hàng Citigroup, từng là người
khổng lồ trong giới tài chính toàn cầu, và việc bị rơi tự do sau một thập kỷ thống trị là một dấu ấnkhó phai đối với nhiều người
Sau vụ đổ vỡ của Lehman Brothers, điểm khởi đầu cho sự mất lòng tin vào các ngân hàng,
thiết chế từng mệnh danh là "siêu thị dịch vụ tài chính" này bị kẹt trong các khoản đầu tư rủi ro củachính mình Ngân hàng đã bỏ hàng trăm tỷ USD vào các sản phẩm mà nay không còn giá trị gì, vàvậy là "đám cháy" bắt đầu Chính phủ Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải can thiệp để đổi lấy36% cổ phần của tập đoàn Kết thúc sự bá chủ của Citigroup, bằng chứng rõ nhất là giá trị trên thịtrường chứng khoán của hãng đã giảm từ 187 tỷ euro tháng 7/2007 xuống còn 40 tỷ sau hai năm
Một "nạn nhân" rất nổi tiếng khác của cuộc khủng hoảng ngân hàng, cũng ở Mỹ, là Merrill
Lynch, từng là một "đóa hoa" của thị trường chứng khoán Phố Wall, đã bị Bank of America mua
đứt vào tháng Giêng Vụ mua lại này do chính phủ Mỹ đạo diễn và hỗ trợ nhằm tránh sự bùng nổcủa hệ thống ngân hàng toàn quốc
Merrill Lynch đã có một kết cục vừa buồn lại vừa tai tiếng Trong khi ngân hàng gần phá sản
và sắp bị bán, chủ tịch Merrill Lynch lại điềm nhiên phân phối tiền thưởng cho tất cả các nhânviên Vụ việc khi bị tiết lộ đã làm dấy lên cơn thịnh nộ của Tổng thống Mỹ Barack Obama
Ở bên này Đại Tây Dương, thiệt hại còn lớn hơn, có nước toàn bộ hệ thống ngân hàng bị tànphá (như Anh hay Aixơlen), thị trường chứng khoán mất điểm tệ hại (Bỉ), một số nền kinh tế chaođảo (Đức) hay ngân hàng UBS của Thụy Sỹ được xem là ngôi sao nổi bật bị truất ngôi
Lịch sử của UBS là một thảm họa: Để trở thành ngân hàng đầu tư số 1 thế giới, thiết chế tàichính uy tín nhất Thụy Sỹ, dưới sự thúc đẩy của vị chủ tịch, đã chấp nhận tất cả các rủi ro để đầu tư
ồ ạt vào các sản phẩm tài chính "độc hại" liên quan tới hình thức tín dụng thế chấp dưới chuẩn Trong khi phần lớn các ngân hàng cảm thấy gió đã đổi chiều từ mùa Hè năm 2007 nên cố gắng hạn chế khoản đầu tư này, UBS vẫn tiếp tục đổ tiền vào Kết quả, họ phải hứng chịu các khoản thiệt hại khổng lồ, hàng nghìn nhân viên thất nghiệp và rơi xuống phần cuối của bảng xếp hạng các ngân hàng quốc tế lớn.
Danh sách một số vụ sáp nhập và mua lại đáng chú ý Thời điểm sáp nhập Ngân hàng bị mua lại Ngân hàng mua lại
26
Trang 27Tháng 4-2008 Bear Stearns JP Morgan
Tháng 9-2008 Lehman Brothers Barclays, Nomura Holdings
Tháng 9-2008 Bradford & Bingley Chính phủ Anh, Banco Santander
Nguồn: Tổng hợp từ thông tin của FDIC, báo chí và trang web của các tổ chức có liên quan
3 Tác động của khủng hoảng kinh tế Mỹ đến thị trường tài chính Việt Nam:
Khủng hoảng kinh tế Mỹ 2008 vừa qua bắt đầu từ khủng hoảng các hợp đồng cho vay bất độngsản thế chấp, tổng số khoảng 12 ngàn tỷ USD, trong đó 3 đến 4 ngàn tỷ USD là dưới chuẩn, khóđòi Những người không có khả năng trả nợ cũng được cho vay.Những hợp đồng đó được chuyêngia tài chính Phố Wall gom lại và phát hành chứng khoán phái sinh, được bảo đảm bởi những hợpđồng cho vay thế chấp này để bán ra trên khắp các thị trường quốc tế.Khi các chứng khoán này mấtgiá thảm hại, thị trường không có người mua, nên các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức tàichính nắm hàng ngàn tỷ USD chứng khoán đó không bán được, mất khả năng thanh khoản, và mấtkhả năng thanh toán, đi đến gục ngã hoặc phá sản
Theo nhận định của các Bộ hữu quan, thì cuộc khủng hoảng ở Mỹ sẽ ít ảnh hưởng trực tiếp đếnthị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng của Việt Nam vì thị trường tài chính Việt Nam chưa có
sự liên thông với thị trường tài chính Mỹ và các nước phát triển khác, đồng thời Việt Nam cũngkhông tham gia mua bán chứng khoán phái sinh này
Tại cuộc họp báo do Văn phòng Chính phủ tổ chức ngày 30/9/2008, tại Hà Nội, Thống đốcNgân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khẳng định hệ thống ngân hàng Việt Nam không bị ảnhhưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ Cũng theo Thống đốc, dự trữ ngoại hối của ViệtNam vẫn tiếp tục tăng và hiện nay đã tăng 1,6 tỷ USD so với đầu năm 2007 Khoản dự trữ nàycũng đang rất an toàn bởi các ngân hàng thuộc các quốc gia mà Việt Nam đang gửi ngoại hối đều ởmức an toàn: 82% số tiền dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang gửi tập trung vào các ngân hàngtrung ương của các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các tổ chức tài chính quốc nhu; 18% cònlại gửi đầu tư các ngân hàng thương mại nước ngoài cũng là các tổ chức có mức độ tín nhiệm cao,xếp hạng AAA và AA Thống đốc nhấn mạnh những ngân hàng đầu tư, tập đoàn đổ vỡ vừa qua tại
Mỹ thì Việt Nam không có quan hệ
Tuy nhiên cuộc khủng hoảng vẫn có một số tác động gián tiếp là đáng kể Trước hết, đó là diễnbiến của tỷ giá và lãi suất USD Tỷ giá USD với đồng Việt Nam trên thị trường có nhiều biến động
do tâm lý của người dân Trước tình hình đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cócác biện pháp, chính sách để điều hành, ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản, giúp doanh nghiệp tiếpcận nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, rà soát vàkiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Về thị trường chứng khoán, luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có hiệntượng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô của ViệtNam trong những tháng gần đây có những chuyển biến tích cực, nhưng thị trường chứng khoánViệt Nam tiếp tục sụt giảm VN-index giảm liên tục và lập đáy mới xuống dưới 350 điểm Việc nhàđầu tư nước ngoài có biểu hiện rút khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam đã gây tâm lý hoangmang cho các nhà đầu tư trong nước
27