1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRƯỚC CỘT MỐC 31/12/2010

31 392 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn Về Vấn Đề Tăng Vốn Của Các NHTM Việt Nam Trước Cột Mốc 31/12/2010
Trường học University of Economics Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Kinh tế tài chính ngân hàng
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 307,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRƯỚC CỘT MỐC 31/12/2010

Trang 1

BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRƯỚC CỘT MỐC 31/12/2010

I Lý luận chung:

1 Sự cần thiết về việc tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam:

Để triển khai kế hoạch hoạt động trong những năm sắp tới và thực hiện chiến lượcphát triển hoạt động kinh doanh, việc tiếp tục tăng vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại

có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng nói riêng, vànền kinh tế nói chung Thông qua việc tăng vốn điều lệ, sẽ tạo điều kiện cho các ngânhàng nâng cao năng lực hoạt động, khả năng cạnh tranh của bản thân ngân hàng tronggiai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước; cụ thể:

+ Nâng cao khả năng huy động vốn và cho vay đối với khách hàng nhằm thúc đẩyphát triển kinh tế xã hội;

+ Nâng cao khả năng đầu tư tài sản, góp vốn mua cổ phần, phát triển hệ thốngcông nghệ hiện đại phục vụ công tác quản trị ngân hàng và cung ứng các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng mới, tạo cơ sở để phát triển mạng lưới chi nhánh nhằm đáp ứng ngày càngtốt hơn nhu cầu của khách hàng;

+ Nâng cao khả năng chống đỡ với các rủi ro trong hoạt động và đáp ứng tốt hơncác chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng

+ Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các ngân hàng có vốn đầu tư của nướcngoài trong thời kỳ mở cửa hội nhập, nâng cao vị thế của các Ngân hàng thương mại ViệtNam trong các giao dịch tài chính quốc tế

Việt Nam đã hội nhập thực sự với nền kinh tế thế giới kể từ khi gia nhập WTO,

cơ chế bao cấp dần dần được xóa bỏ, do đó nguy cơ xảy ra các vụ phá sản ngân hàng làhoàn toàn có thể xảy ra, nhất là khi nước ta cũng không nằm ngoài khu vực chịu tác độngtiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu Mặt khác, thực tế ở Việt Nam, khoảng cáchgiữa sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ tài chính với hoạt động quản trị rủi ro đangngày càng lớn Trong bối cảnh đó theo quy định của Nghị định141/2006/NĐ-CP buộc cácngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) phải tăng vốn điều lệ theo lộ trình với bước

1 đến hết năm 2008 phải đạt 1000 tỷ đồng và bước 2 phải đạt 3.000 tỷ đồng hạn chót31/12/2010

Lý do tăng vốn được lãnh đạo của các NHTM CP lý giải là nhằm giải quyết bàitoán nâng cao năng lực tài chính và chất lượng dịch vụ để tiếp cận theo các tiêu chuẩnquốc tế, buộc phải bổ sung thêm vốn, nhằm nâng cao tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo tiêuchuẩn Basel; đồng thời thu hẹp khoảng cách về năng lực tài chính, công nghệ của cácNgân hàng thương mại Việt Nam với Ngân hàng thương mại trong khu vực; tăng vốn là

để có đủ chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ phát triển mạng lưới tranh thủ chiếm lĩnhthị phần Do vậy, việc tăng vốn điều lệ là một việc làm tất yếu, vì nếu quy mô vốn ít sẽrất khó nâng cao năng lực cạnh tranh trên sân chơi tự do Họ cho rằng vốn ít đồng nghĩachấp nhận tụt hậu trong cuộc cạnh tranh quá khốc liệt hiện nay Hơn nữa ít vốn thì khôngthể nào mở rộng kinh doanh, phát triển công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm Nhưng mộtthực tế đáng lo ngại đó là các ngân hàng nhỏ, ngân hàng yếu kém sáp nhập lại với nhauthì chỉ có cộng thêm vốn theo đúng quy định, chứ những yếu tố khác ít có cơ hội nhânlên, không mang lại đội ngũ quản lý giỏi hơn, không có được chất lượng hoạt động tốthơn, không làm tăng thêm sức mạnh gì cho chính nó cũng như cho toàn hệ thống, càng

Trang 2

không có gì bảo đảm cho sự an toàn hơn cho cả hệ thống ngân hàng Đây là điều đáng longại nhất cho BHTGVN trong việc bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền góp phần duy trì

sự phát triển an toàn bền vững hệ thống tài chính ngân hàng trong thời gian tới

2 Văn bản qui định:

a Nghị định của chính phủ số 141/2006/NĐ-CP ngày 22-11-2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng:

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 12 tháng 12 năm 1997, Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 17 tháng 6năm 2003;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997, Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chính thức thông quamột số điều khoản như sau:

2008 và ngày 31 tháng 12 năm 2010

2 Các tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghịđịnh này có hiệu lực và trước ngày 31 tháng 12 năm 2008, phải đảm bảo có ngay số vốnĐiều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định chonăm 2008 tại Danh mục ban hành kèm theo

3 Các tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31tháng 12 năm 2008 phải đảm bảo có ngay số vốn Điều lệ thực góp hoặc được cấp tốithiểu tương đương mức vốn pháp định quy định cho năm 2010 tại Danh mục ban hànhkèm theo

Điều 3 Quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước

Giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định xử lý, kể cả việc thu hồi Giấyphép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng có số vốn điều lệ thực góp hoặcđược cấp thấp hơn mức vốn pháp định tương ứng đối với từng loại hình tổ chức tín dụngquy định cho từng thời kỳ nêu trong Danh mục ban hành kèm theo

Điều 4 Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo vàthay thế Nghị định số 82/1998/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ về banhành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng

Điều 5 Trách nhiệm thi hành

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./

Dưới đây là danh mục mức vốn pháp định đối với các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt

động tại Việt Nam.(Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP

ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ)

Trang 3

STT Loại hình tổ chức tín dụng

Mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm

1 Ngân hàng thương mại

A Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

B Ngân hàng thương mại cổ phần 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

D Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

Đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD

4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng

6 Quỹ tín dụng nhân dân

A Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

B Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng

II Tổ chức tín dụng phi ngân hàng

2 Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng

b Ngày 14-1-2010 Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 398/NHNN-TTGSNH yêucầu giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh thành phố chỉ đạo các tổ chức tín dụng(ngân hàng thương mại cổ phần, không bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước đã cổphần hóa, tổ chức tín dụng phi ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) có trụ sởchính trên địa bàn triển khai báo cáo tình hình tăng vốn điều lệ năm 2009 theo chấp thuậncủa Ngân hàng Nhà nước; khẩn trương xây dựng kế hoạch tăng vốn trong năm tài chính

2010 trình cấp có thẩm quyền thông qua theo quy định hiện hành, trong đó nêu rõ tiến độthực hiện tăng vốn và phương án xử lý trong trường hợp không đạt được mức vốn này

c Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 397/NHNN-TTGSNH yêu cầucác ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng trách nhiệm hữuhạn 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không phải là cổ phần xâydựng kế hoạch tăng vốn điều lệ năm tài chính 2010 Để đảm bảo các tổ chức tín dụng(TCTD) thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo đúng quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-

CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục mức vốn pháp định của cácTCTD (Nghị định 141), Theo Văn Bản này Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Quýđơn vị:

1 Khẩn trương xây dựng kế hoạch tăng vốn trong năm tài chính 2010 trình cáccấp có thẩm quyền thông qua theo quy định hiện hành(Trong đó nêu rõ tiến độ thực hiệntăng vốn và phương án xử lý trong trường hợp tổ chức tín dụng không đạt được mức vốnnày)

2 Chậm nhất ngày 31/03/2010 có văn bản báo cáo Thống đốc Ngân hàng nhànước (qua Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng) về việc tăng vốn điều lệ của Quý đơn

vị, trong đó báo cáo cụ thể về:

Trang 4

 Kết quả việc thực hiện tăng vốn năm 2009

 Kế hoạch tăng vốn điều lệ năm 2010 của Quý đơn vị nêu tại điểm 1 củacông văn này

 Đề xuất biện pháp xử lý đối với những trường hợp không đảm bảo mức vốnquy định

3 Đề nghị các đơn vị nhận được công văn này nghiêm túc triển khai thực hiện

và báo cáo Thống đốc ngân hàng nhà nước đúng tiến độ

d Ngày 10-5-2010 Văn bản số 3417/NHNN-TTGSNH yêu cầu tổ chứ tín dụng cómức vốn điều lệ trong năm 2010 chưa đảm bảo mức vốn pháp định theo Nghị định 141chậm nhất ngày 30.6.2010 phải trình Ngân hàng Nhà nước hồ sơ đề nghị chấp thuận tăngvốn.Văn Bản có nội dung như sau:

1 Chậm nhất ngày 30/6/2010, tổ chức tín dụng phải trình Ngân hàng Nhà nước

hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn (đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141) theoquy định hiện hành

Sau thời điểm này, trường hợp tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nướcchấp thuận việc tăng vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước tạm thời không xem xét đề nghị

mở rộng mạng lưới (công ty trực thuộc sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, Quỹ tiếtkiệm, ATM, điểm giao dịch) hoặc bổ sung nội dung hoạt động của tổ chức tín dụng

2 Đối với các tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăngvốn điều lệ đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141: Định kỳ ngày mùng 5 hàngtháng, tổ chức tín dụng có văn bản báo cáo việc thực hiện tăng vốn điều lệ về Ngân hàngNhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ chức tín dụng cổ phần) hoặc Cơ quanThanh tra, giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tín dụng không phải là tổ chức tín dụng cổphần), trong đó nêu rõ những khó khăn vướng mắc (nếu có)

3 Đối với các tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấp thuậntăng vốn điều lệ hoặc không được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ đểđảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141 Chậm nhất ngày 30/9/2010, tổ chức tíndụng phải có phương án chấm dứt tư cách pháp nhân của tổ chức tín dụng theo luật định(bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại, tự giải thể ) trình Ngân hàng Nhà nước chinhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ chức tín dụng cổ phần) hoặc Cơ quan Thanh tra, giámsát ngân hàng (đối với tổ chức tín dụng không phải là tổ chức tín dụng cổ phần)

3 Các biện pháp tăng vốn điều lệ:

Phải lựa chọn thời điểm và phương thức hợp lý để tăng vốn NHTMCP có thểtăng vốn dưới hình thức chủ yếu là phát hành thêm cổ phiếu Trong điều kiện hiện nay,phát hành thêm cổ phiếu quả là một bài toán rất khó cho các NHTMCP, trước mắtNHTMCP chỉ nên phát hành cổ phiếu để huy động từ cổ đông hiện hữu hoặc trả cổ tứccho cổ đông bằng cổ phiếu

Các ngân hàng chủ động hơn thì phát hành trái phiếu chuyển đổi trước đó mộtnăm, đợi đến khi trái phiếu thành cổ phiếu thì khớp với hạn mà nhà nước yêu cầu

Xây dựng và đề xuất với Ngân hàng Nhà nước một tỷ lệ sở hữu cổ phiếu hợp lýcủa cổ đông chiến lược và cổ đông nước ngoài Với tỷ lệ 30% cho cổ đông nước ngoàinhư hiện nay vẫn còn là một tỷ lệ khiêm tốn Tỷ lệ này có thể cao hơn nhưng vẫn kiểmsoát được sự chi phối của cổ đông nước ngoài Nếu tỷ lệ này được tăng lên sẽ giúp cho

Trang 5

NHTMCP tranh thủ được một nguồn lực rất lớn cho việc gia tăng quy mô vốn của mìnhtrong điều kiện cần thiết hiện nay

Sáp nhập các ngân hàng, hoặc mua lại các ngân hàng nhỏ để hình thành nên mộtngân hàng có tiềm lực tài chính lớn hơn, hình thành nên một tập đoàn tài chính đa năngcũng là một giải pháp rất hiệu quả cho các NHTMCP hiện nay

_ Ngân hàng An Bình nâng vốn từ 200 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng,

_ Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) nâng vốn điều lệ từ 618 tỷ đồng lên1.500 tỷ đồng

Trong năm 2007:

_ Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội (MB) tăng vốn điều lệ lên mức 1.500

tỷ đồng,

_ EAB tăng vốn điều lệ từ 880 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng,

_ Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh(VPBank) tăng vốn điều lệ từ 750 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng,

_ Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB) tăng vốn điều lệ lên1.200 tỷ đồng,

_ Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank) tăng vốn điều lệ lên1.000 tỷ đồng…

Trong năm 2008:

STT Ngân hàng

Vốn điều lệ sau khi tăng cuối năm 2008 (tỷ đồng)

1 Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông CửuLong (MHB) 816

2 Ngân hàng Công Thương Việt Nam( Vietin Bank) 13.400

3 Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam(BIDV) 8.756

4 Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nôngthôn Việt Nam

(Agribank)

10.350

5 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 2.117

Trang 6

Thịnh Vượng (VPBank)

6 Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí toàncầu (GPBank) 2.000

7 Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á(DaiABank) 1.000

8 Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương

(OceanBank)

2.000

9 Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định

10 Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải ViệtNam (Maritime Bank) 3.000

11 Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long(KienLong Bank) 2.000

12 Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương ViệtNam (Techcom Bank) 3.642

13 Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt(NaviBank) 1.000

14 Ngân hàng thương mại cổ phần Tiền Phong(Tienphong Bank) 1.250

15 NHTMCP Nhà Hà Hội

16 Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển nhà

17 Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông(OCB) 1.474,477

18 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn côngthương (SaiGon Bank) 1.020

19 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – HàNội (SHB) 2.000

20 Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt(BaoViet Bank) 1.500

21 Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhật

22 Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

23 Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á

24 Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín(TrustBank) 2.000

25 Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất(FICOMBANK) 1.000

26 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á(DongABank) 3.400

27 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á(SEA Bank) 5.068, 54545

28 Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây

Trang 7

29 Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển

30 Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại ThươngViệt Nam (Vietcom Bank) 12.100,86

31 Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á(Nam A Bank) 1.252,83662

32 Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu(ACB) 6.355

33 Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam(Southern Bank) 2.304,49782

34 Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

35 Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế

36 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn(SCB) 3.635, 428

37 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài GònThương Tín (SacomBank) 5.116

38 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á(VietA Bank) 1.631,80183

39 Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng DầuPetrolimex 1.000

40 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TínNghĩa (TinNghiaBank) 3.399, 006

Nguồn: Hiệp Hội Ngân hàng Việt Nam

Từ giữa tháng 2/2008, do diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, hoạt động ngân hàng

có nhiều khó khăn hơn trước đây Lạm phát tăng cao, thanh khoản của nhiều Ngân hàngthương mại bị ảnh hưởng, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tăng gấp khoảng 2 lần sovới trước đó, giá cổ phiếu giảm mạnh, thị trường chứng khoán điều chỉnh sâu và kéo dài

Song nhìn cụ thể vào tình hình vốn của các NHTMCP có thể thấy, nhiều ngânhàng do lịch sử phát triển, có thương hiệu, năng lực quản trị điều hành khá, chiến lược

kinh doanh rõ ràng và phù hợp, tận dụng các điều kiện thuận lợi của các năm trước nênnhiều NHTMCP đã đạt mức vốn gấp 3 – 5 lần số vốn quy định cho năm 2008 và công bố

kế hoạch sẽ đạt mức vốn cũng gấp 3-4 lần quy định cho năm 2010

_ NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tăng vốn điều lệ từ 2.524

tỷ đồng lên 3.165 tỷ đồng Đây là đợt tăng vốn lần thứ 2 của Techcombank trong năm

2008 Việc tăng vốn đợt 2 này là kết quả của việc phát hành thêm 5% cổ phần bán cho cổđông chiến lược Tập đoàn ngân hàng HSBC, tương đương 20.895.550 cổ phần, đã nâng

tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của đối tác này lên 20% Tính đến hết tháng 8/2008,Techcombank đạt tổng tài sản hơn 53.000 tỷ đồng

_ Trước đó, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng đã hoàn thànhđợt tăng vốn điều lệ từ 4.449 tỷ đồng lên 5.116 tỷ đồng, bằng việc chia cổ tức năm 2007bằng cổ phiếu cho cổ đông với tỷ lệ 15% Số cổ phiếu tăng thêm này đã được đăng kýgiao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/2008

Trang 8

_ Tuy nhiên tính đến thời điểm 2008, quy mô vốn điều lệ lớn nhất thuộc về

NHTMCP Á Châu (ACB) Giữa tháng 9/2008, ACB đã thông báo chốt danh sách để tăng

vốn điều lệ từ 2.630 tỷ đồng lên 5.805 tỷ đồng bằng việc chia cổ tức năm 2007 cho cổđông với tỷ lệ 55%

Tiếp đó, từ ngày 17/9/2008, ACB cũng chính thức chuyển đổi số trái phiếu đượcphát hành ngày 16/10/2006 thời hạn 5 năm sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu với tỷ lệ1:100, tức là 1 trái phiếu mệnh giá 1 triệu đồng được chuyển đổi thành 100 cổ phiếu phổthông mệnh giá 10.000 đồng

Số lượng trái phiếu chuyển đổi đợt này là 550.023 trái phiếu thành 55 triệu cổphiếu, tương đương 550,023 tỷ đồng Theo đó vốn điều lệ của ACB sẽ tăng tiếp từ 5.805

tỷ đồng lên 6.355 tỷ đồng

_ Một số Ngân hàng thương mại cổ phần khác cũng đã thực hiện tăng vốn.NHTMCP Sài Gòn – SCB cũng vừa hoàn thành đợt tăng vốn điều lệ từ 1.970 tỷ đồng lên2.180 tỷ đồng

_ NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng đã thực hiện tăng vốn

từ việc chia cổ tức năm 2007 bằng cổ phiếu cho cổ đông với tỷ lệ 14%, tương đương386,706 tỷ đồng Qua đợt này vốn điều lệ của Eximbank đã tăng từ 2.800 tỷ đồng lên3.186,706 tỷ đồng

_ Các Ngân hàng thương mại cổ phần khác như: MB, VIB, Habubank, Việt Á,Đông Á, Phương Nam, Phương Đông, cũng đã đạt quy mô vốn điều lệ khá lớn so vớiquy định cho năm 2008

Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại quy mô nhỏ của Việt Nam lại đứng trước

áp lực hoặc phải tăng vốn, hoặc phải sáp nhập và bán lại

1.2 Những động thái của Ngân hàng Nhà nước để kiểm soát việc tăng vốn điều

lệ hàng loạt của các NHTMCP:

Vì lo ngại sự gia tăng chất lượng hoạt động không theo kịp sự bành trướng bềrộng cũng như những bất lợi sẽ xảy ra đối với hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam,Ngân hàng Nhà nước đã cảnh báo và bắt đầu siết chặt việc tăng vốn điều lệ của hàng loạtcác NHTMCP

_ Ngày 6.4.2007, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số3103/NHNN-CNH hướng dẫn việc tăng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng trong năm 2007.Theo đó các ngân hàng muốn tăng vốn phải trình phương án cụ thể, nêu rõ nhu cầu sửdụng vốn; nhu cầu mở rộng cho vay; nhu cầu mở rộng phạm vi kinh doanh sang các lĩnhvực khác (như chứng khoán, cho thuê tài chính ); nhu cầu mở rộng địa bàn; hiệu quảkinh doanh trên cơ sở vốn điều lệ mới… Các ngân hàng phải công khai thông tin về lộtrình tăng vốn như tổng mức vốn dự định tăng thêm, các đợt dự kiến phát hành, phương

án phát hành từng đợt, những đối tượng được mua, giá bán cho từng loại đối tượng, thờiđiểm bán, nghĩa vụ - quyền lợi đi kèm… Đồng thời với việc tăng vốn, các ngân hàng phảichứng minh được có đủ trình độ năng lực và nhân sự cần thiết để quản trị, điều hành,kiểm soát quy mô hoạt động tăng lên

_ Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản số 7910/NHNN-CNH yêu cầu ngân hàngthương mại cổ phần có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng báo cáo kế hoạch tăng vốn điều lệnăm 2008 trước ngày 10/9/2008

Trang 9

Theo văn bản trên, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chỉđạo ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng báocáo kế hoạch tăng vốn điều lệ năm 2008, biện pháp triển khai và tiến độ thực hiện theo lộtrình quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP; những khó khăn, vướng mắc trong quátrình thực hiện (nếu có) của các ngân hàng này

Dựa trên cơ sở kết quả làm việc với ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàngNhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tổng hợp và có ý kiến đánh giá về khả năng và đềxuất biện pháp chỉ đạo thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo quy định tại Nghị định số141/2006/NĐ-CP báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước ngày 10/9/2008

Dễ thấy rằng, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước cho rằng tăng vốn điều lệ làcần thiết, nhưng sẽ là “lợi bất cập hại”, mà hại có thể nhiều hơn lợi nếu tốc độ tăng quánhanh Mặc dù quyết định này vẫn còn nhiều bàn cãi, nhưng trước mắt có thể được xem

là cần thiết để đảm bảo được sự an toàn cũng như chất lượng hoạt động của hệ thốngNgân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn thay da đổi thịt như hiện nay

2 Quá trình tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại từ đầu năm 2009 đến nay:

2.1 Bối cảnh:

Sau nhiều nỗ lực của các ngân hàng thương mại, tính đến hết năm 2008, vậy màmới chỉ có 28 đơn vị vượt qua cửa ải 1000 tỷ đồng và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mứcvốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị

định 141

Các Ngân hàng cần tăng quy mô vốn lên 3000 tỷ đồng trong năm 2010 bao gồm:

STT Ngân hàng Vốn hiện tại Vốn cần tăng

1 Ngân hàng Phương Nam

Trang 10

13 Ngân hàng Sài Gòn Công

thương (Saigon Bank)

1500 1,500

14 Ngân hàng Bảo Việt

(BaoVietBank)

1500 1,500

15 Ngân hàng Đại Á (DaiABank) 1000 2,000

16 Ngân hàng Nam Việt

Trang 11

Để bảo đảm thực hiện tốt lộ trình tăng vốn cũng như giám sát quá trình tăng vốnpháp định của các Ngân hàng thương mại, từ đầu năm 2010 đến nay, Ngân hàng Nhànước Việt Nam đã ban hành khá nhiều văn bản nhắc nhở, hướng dẫn các ngân hàng thựchiện đúng lộ trình của Nghị định 141.

Tại cuộc họp báo ngày 7.7.2010 của Văn phòng Chủ tịch Nước, Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết hiện hệ thống có 37 Ngân hàng thương mại,trong đó 7 ngân hàng đã có 5.000 tỉ vốn điều lệ, 3 ngân hàng có 4.000 tỉ vốn, 1 ngân hàng

có 3.500 tỉ và 3 ngân hàng có vốn từ 3.000-3.200 tỉ, 23 ngân hàng còn lại có mức vốnđiều lệ dưới 3.000 tỉ đồng và các ngân hàng này đã có hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn.Đến nay đã có 2 ngân hàng hoàn thiện hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn, Ngân hàngNhà nước đang tiếp nhận và xem xét 16 hồ sơ, còn 5 hồ sơ đang trong quá trình xem xéttại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh, thành

Việc các ngân hàng đến thời điểm này phải có hồ sơ, vì văn bản TTGSNH đã nói rõ sau thời điểm 30.6.2010, trường hợp tổ chức tín dụng không trìnhNgân hàng Nhà nước chấp thuận việc tăng vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước tạm thờikhông xem xét đề nghị mở rộng mạng lưới (Công ty trực thuộc, sở giao dịch, chi nhánh,phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM, điểm giao dịch) hoặc bổ sung nội dung hoạt độngcủa tổ chức tín dụng

3417/NHNN-Đặc biệt, đối với các tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấpthuận tăng vốn điều lệ hoặc không được chấp thuận tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốnpháp định tại Nghị định 141, chậm nhất ngày 30.9.2010, tổ chức tín dụng phải có phương

án chấm dứt tư cách pháp nhân của mình theo luật định (bao gồm: Sáp nhập, hợp nhất,mua lại, tự giải thể ) trình Ngân hàng Nhà nước - chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổchức tín dụng cổ phần) hoặc cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tíndụng không phải cổ phần) Vì vậy, không một Ngân hàng thương mại nào dám để chậmtrễ việc làm hồ sơ theo thời gian trên, cho dù phương án tăng vốn có thực sự khả thi haykhông

2.2 Thực trạng

Thời gian chạy đua với Nghị định số 141/2006/NĐ-CP chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy

4 tháng Hiện có khoảng 22 trên tổng số 41 Ngân hàng Thương mại Cổ phần đang phải

gấp rút thực hiện kế hoạch tăng vốn để đáp ứng đủ mức vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng

Nhìn chung, phương án tăng vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếutập trung vào:

 Tận dụng sức mạnh của cổ đông hiện hữu

 Niêm yết trên thị trường chứng khoán để có thể thuận lợi hơn khi gọi vốn

 Bán cho tổ chức nước ngoài

 Ngoài ra, cũng có một số ít đơn vị có "tiền tích trữ" từ nguồn thặng dư vốn

cổ phần

Khối Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN): Năm 2010 - năm cuối

cùng cho lộ trình tăng vốn điều lệ của toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhưng đốivới các NHTMNN là năm coi như ngồi chơi xơi nước bởi mức vốn pháp định theo quiđịnh tại Nghị định 141 đã quá lạc hậu so với mức vốn điều lệ hiện có của các NHTMNN

Trang 12

hiện nay Cụ thể là bốn NHTMNN gồm Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển Nông thônViệt Nam, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam, ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) hiện đều có mứcvốn điều lệ bình quân từ 10000 tỷ-15000 tỷ đồng (Ngoại trừ Ngân hàng Phát triển nhàĐồng bằng sông Cửu Long(MHB) có mức vốn điều lệ dưới 1000 tỷ).Cụ thể là:Vietcombank với 12.100 tỷ đồng , điều lệ của ngân hàng VietinBank này đang là 11.252

tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lênmức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng

Đặc biệt theo quyết định số 268/QĐTTg ngày 12/02/2010 của thủ tướng Chínhphủ thì vốn điều lệ của Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam được

bổ sung thêm 10000 tỷ đồng, nâng mức vốn điều lệ hiện tại của ngân hàng này lên 21000

tỷ đồng và dự kiến của Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam thìđến cuối năm 2010 là 30000 tỷ đồng

Khối Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP): Ngược lại với sự “ung dung”

của khối NHTMNN thì khối các NHTNCP phải chạy đua với thời gian, vượt “cửa tử” đểgia nhập câu lạc bộ 3000 tỷ đồng trước 31/12/2010.Công việc này là rất gian nan đối vớinhững ngân hàng nhỏ mà vốn chỉ quanh quẩn 1000 tỷ đồng Để có thể thực hiện thànhcông kế hoạch tăng vốn phải thuyết phục được các cổ đông lớn tiếp tục bỏ thêm tiền vàthuyết phục các cổ đông nhỏ lẻ trong đại hội đồng chấp nhận phương án phát hành thêmcủa mình Nhưng hiện nay, hầu hết ngân hàng đều đã tiến hành đại hội cổ đông, trình vàthông qua phương án tăng vốn điều lệ trong năm 2010 để đảm bảo yêu cầu

Phần lớn các ngân hàng đưa ra phương án tăng vốn thông qua phát hành cổ phầncho cổ đông hiện hữu, cán bộ công nhân.Chẳng hạn như:

Ngân hàng Gia Định (GiaDinhBank):

 Vốn điều lệ hiện nay là 1.000 tỷ đồng

 Dự kiến việc tăng vốn đợt I: Phát hành 3,6 triệu cổ phiếu thưởng và phát hành 94,6 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng sẽ hoàn tất vào tháng 8

 Dự kiến việc tăng vốn đợt II: chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào tháng 11

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)

 Tăng vốn điều lệ từ 2.117 tỷ đồng lên 4.000 tỷ đồng trong năm 2010

 Đợt I: từ 2.117 tỷ đồng lên 2.456 tỷ đồng bằng cách phát hành cổ phiếu để trả cổ tức và phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 16,01% trên tổng số cổ phần sở hữu của cổ đông

 Phần còn lại sẽ tăng trong đợt 2

Một số Ngân hàng “khôn ngoan” đã nhanh chân phát hành trái phiếu chuyển đổi, điển hình:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội (SHB): tháng 3/2010, SHB chào bán thànhcông 15 triệu trái phiếu chuyển đổi với giá trị 1.500 tỷ đồng Cùng với giá trị1.500 tỷ đồng chào bán cổ phiếu lần này, cuối 2010, vốn điều lệ của SHB là 3.500

Trang 13

tỷ đồng và đến cuối quý 1/2011, ngân hàng này “bỏ túi” thêm 1.500 tỷ đồng, nângvốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng.

Niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng là một giải pháp để nâng cao vốn điều lệ của các Ngân hàng nhỏ Kế hoạch dự kiến niêm yết của một Ngân hàng trong năm 2010 như sau:

Navibank

 Ngày 3/6/2010, Navibank đã nộp hồ sơ niêm yết cổ phiếu của NH lên HNX

 Vốn điều lệ thực góp tại thời điểm này là 1,000 tỷ đồng

 Kế hoạch đến tháng 11 tăng vốn lên 2,000 tỷ đồng

 Sau đó, phát hành thêm cổ phiếu để nâng vốn điều lệ lên 3,000 - 3,500 tỷ đồng

 Lý do để NH thực hiện tăng vốn theo từng giai đoạn là do cổ đông lớn của NH là Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), hiện nắm giữ 11% cổ phần đã quyết định không góp thêm vốn đầu tư vào Navibank

Bên cạnh đó, một số ngân hàng ráo riết tìm đối tác nước ngoài để bán cổ phần vàtăng vốn điều lệ cho đủ mức vì không thể huy động thêm được nữa từ cổ đông trongnước Điển hình là:

Ngân hàng Quốc tế (VIB) là ngân hàng đầu tiên trong năm nay bán cổ phần cho

cổ đông nước ngoài Mới đây, VIB công bố đã bán 15% cổ phần cho Ngân hàng Commonwealth of Autralia (CBA)

Còn những ngân hàng lớn có tiềm lực tài chính khá tốt như hàng cổ phần xuấtnhập khẩu Việt nam (Eximbank) (8.800 tỷ đồng)Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương tín(Sacombank)(6700 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)(7814) tỷđồng, Ngân,, LiênVietBank (3.300 tỷ đồng) ,Techcombank…cũng như các ngân hàng cóvốn điều lệ đã đạt quy định vẫ muốn tiếp tục tăng vốn điều lệ để độngkinh doanh củamình.Chẳng hạn như:tăng cường nội lực cũng như hỗ trợ việc mở rộng hoạt động kinhdoanh

_ Ngân hàng Sacombank đưa ra kế hoạch tăng vốn khá mạnh lên 9179 tỷ đồngtrong năm nay, trong đó gồm trả cổ tức cho cổ đông 15% bằng cổ phiếu, phát hành thêm

cổ phếu tỷ lệ 10:2 cho cổ đông hiện hữu với giá 12000 đồng/cổ phần, và phát hành thêm2% cổ phần cho cán bộ ngân hàng

_ ACB cũng có kế hoạch tăng vốn dự kiến là tăng 1563 tỷ đồng vốn điều lệbằng cách phát hành thêm cổ phiếu với tỷ lệ 5:1 cho cổ đông hiện hữu

_ Các ngân hàng khác như ngân hàng Đông Á và Techcombank đều có kếhoạch tăng thêm từ 1000-2500 tỷ đồng vốn điều lệ trong năm nay

Trang 14

Do đây là các ngân hàng đã niêm yết và cũng là những ngân hàng cổ phần hàngđầu nên việc phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu với giá không thấp hơn giá trị sổ sáchđược xem là khả thi.

a) Những khó khăn, vướng mắc:

Tình hình kinh tế vĩ mô gặp nhiều bất ổn

Theo ý kiến của nhiều lãnh đạo Ngân hàng thương mại và các chuyên gia, Nghịđịnh 141/2006/NĐ-CP được ban hành tháng 11.2006, thời điểm cổ phiếu ngân hàng đangđược mệnh danh là cổ phiếu vua Thời điểm từ tháng 5/2006 – 6/2007 thị trường chứngkhoán Việt Nam khởi sắc mạnh mẽ (VNINDEX : 700-1170 điểm), là thời điểm “thiênthời – địa lợi – nhân hòa” cho ngân hàng nào biết nắm bắt cơ hội, ngân hàng đó sẽ rútngắn được lộ trình tăng vốn Và thực tế, đã có một số ngân hàng nắm bắt được cơ hộivàng son đó

Trong bối cảnh đó việc tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại ngỡ là rất

dễ dàng Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 bùng nổ Hệ thống tài chính - ngân hàngphải gánh chịu những tổn thất nặng nề nhất, khó có thể phục hồi trong thời gian ngắn, tácđộng tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước Thị trường chứng khoán Việt Nam nóiriêng và thế giới nói chung lao dốc theo

Theo nhận định của các chuyên gia, năm 2010 là năm tích tụ tất cả những khókhăn mà cuộc hủng hoảng tài chính gây ra, nhưng cũng là năm buộc tất cả các Ngân hàngthương mại Việt Nam phải tăng đủ vốn pháp định theo quy định Từ nay đến 31/12/2010chỉ còn 3 tháng, các ngân hàng phải vừa tăng vốn, vừa đảm bảo các chỉ tiêu tài chính theoquy định, trong khi thị trường chứng khoán chưa có dấu hiệu ủng hộ cho các ngân hàngthương mại Thêm vào đó, bước sang quý 2/2010 khủng hoảng nợ công một số nướcChâu Âu và nguy cơ lan sang Châu Á đã khiến tương lai của thị trường chứng khoán ViệtNam đang trở nên bất ổn, khó lường, thanh khoản thị trường kém, giá cổ phiếu ngân hàngcàng thê thảm hơn Đặc biệt là nền kinh tế đang có dấu hiệu tái lạm phát cao trở lại, do đónhiều chính sách từ kích cầu (chính sách nới lỏng tiền tệ) có thể chuyển sang thắt chặttrong thời gian tới, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại vì tính thanh khoản củathị trường chứng khoán bị tác động mạnh Bài toán tăng vốn của các ngân hàng bằngcách phát hành trái phiếu chuyển đổi hay cổ phiếu nay càng trở nên nan giải khi khả năngthanh khoản của thị trường bị giảm sút

Khó khăn cho các ngân hàng nhỏ chọn giải pháp “lên sàn”

Gần đây, Ngân hàng Nà nước đã cho phép một số ngân hàng có vốn điều lệ 1000

tỷ đồng được niêm yết trên sàn chứng khoán để tăng cơ hội huy động đủ vốn điều lệ.Niêm yết là giải pháp kỹ thuật để cổ phiếu ngân hàng tăng tính thanh khoản Hy vọng thịtrường chứng khoán ấm lên, cơ hội tăng vốn của các Ngân hàng thương mại sẽ thuận lợihơn Nhưng năm nay quá nhiều doanh nghiệp có ý định lên sàn, chưa kể nhiều ngân hànglớn cũng có kế hoạch niêm yết Các ngân hàng nhỏ với mức độ đại chúng hóa thấp dù cóniêm yết cũng khó thu hút nhà đầu tư quan tâm Các cổ đông nhỏ chắc chắn phải cânnhắc vấn đề lợi nhuận là nên bỏ thêm tiền vào cho các ngân hàng nhỏ nâng vốn điều lệhay mua cổ phiếu của các ngân hàng lớn đang niêm yết trên sàn với giá không quá cao,khó gặp phải rủi ro pha loãng vốn quá lớn vì tất cả các ngân hàng niêm yết đều có vốnđiều lệ trên 3000 tỷ, lại có cơ hội mua thêm cổ phiếu phát hành thêm trong năm nay Cácngân hàng nhỏ phát hành thêm quá nhiều cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng đến cổ đông do vốn

bị pha loãng quá cao, lợi nhuận khó tăng trưởng kịp Chỉ có những cổ đông tâm huyết với

Trang 15

các ngân hàng nhỏ mới tiếp tục bỏ vốn vào đầu tư Thêm vào đó, cổ phiếu của ngân hàngnhỏ có thể giao dịch dưới mệnh giá, tính thanh khoản kém khiến cho đại hội cổ đông ởnhững ngân hàng này trở nên căng thẳng Đó là chưa kể việc các cổ đông còn đủ vốn đểtham gia vào cuộc tiếp vốn vào ngân hàng nữa không

Cụ thể: tại đại hội cổ đông tổ chức vào tháng 4/2010, Navibank lấy ý kiến cổđông phát hành 200 triệu cổ phiếu bằng mệnh giá cho cổ đông hiện hữu và cán bộ côngnhân viên để tăng vốn từ 1.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng Nhiều cán bộ công nhân viênngân hàng này cho rằng giá cổ phiếu ngân hàng đã thấp nhưng lại hạn chế chuyểnnhượng đến hai năm nên không hấp dẫn Có ý kiến đề nghị Navibank tính đến phương án

ưu đãi bán dưới mệnh giá để khuyến khích cán bộ công nhân viên mua, phần bù dướimệnh giá sẽ trích từ quỹ phúc lợi của ngân hàng Nhưng theo ông Đặng Thành Tâm,thành viên hội đồng quản trị Navibank, theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhànước không được bán dưới mệnh giá Nếu cổ đông, cán bộ công nhân viên không mua thì

ủy quyền cho hội đồng quản trị chào bán cho đối tác khác

Thêm vào đó, Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạtđộng của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là10% và 20% vốn điều lệ (trước đó là từ 20-40%) Như vậy, cho dù cổ đông có tiềm ực tàichính hùng mạnh thì cũng buộc phải nhường việc mua thêm cổ phần cho người khác

Chật vật với cổ đông chiến lược

Trong thời điểm hiện nay, cổ phiếu ngân hàng không còn nằm trong danh mục ưutiên của nhà đầu tư trên thị trường Việc tìm đối tác chiến lược trong nước đối với cácNHTMCP yếu thế cũng đang khép lại do các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gầnnhư không được phép đầu tư vào các ngành nhạy cảm như ngân hàng, chứng khoán Vìthế, để hoàn thành việc tăng vốn, nhất thiết các ngân hàng nên tính đến việc tìm cổ đôngngoại, bởi nếu chỉ trông chờ vào cổ đông trong nước, khả năng rất khó đạt mục tiêu Tuynhiên, việc tìm kiếm các cổ đông chiến lược nước ngoài không dễ dàng trong bối cảnhkinh tế toàn cầu hiện nay Các ngân hàng nước ngoài hiện nay phải tập trung lo đối phóvới các rủi ro lớn do khủng hoảng tài chính gây ra, tất nhiên chưa tính đến việc mở rộngđầu tư Đó là chưa kể đến niềm tin của các cổ đông chiến lược nước ngoài đối với một sốNHTM cổ phần Việt Nam chưa tốt

 Đại hội cổ đông của Ngân hàng Phương Đông (OCB) thông báo sẽ tăngvốn thông qua việc phát hành từ thặng dư vốn, phát hành mới cho cổ đônghiện hữu, bán thêm cho đối tác chiến lược nước ngoài và bán chọn lọc chođối tác trong nước Tuy nhiên, theo ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngânhàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, OCB nên cân nhắc kếhoạch tăng vốn lên 20% cho đối tác nước ngoài là PNB Paripas, vì đếnthời điểm này Chính phủ chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài sở hữu vốncủa một ngân hàng trong nước không quá 15%

Đau đầu với bài toán tỷ suất sinh lời Trong bối cảnh các ngân hàng lớn như

ACB, Sacombank, Techcombank… có kế hoạch tăng năng lực tài chính, việc thực hiệnmục tiêu 3.000 tỷ đồng của các ngân hàng nhỏ càng khó khăn So với chỉ tiêu lợi nhuậnxây dựng cũng như mức thực hiện được của năm trước, kế hoạch lợi nhuận được các

Ngày đăng: 08/03/2014, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w