Trong thời kỳ trước đổi mới, như Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã chỉ rõ, bên cạnh những thành công không thể phủ nhận, từ cuối những năm 70 - đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước rơi
Trang 2chứng và công cuộc đổi mới, nói hẹp hơn, trực tiếp hơn là mối quan hệ giữa biện
chứng xã hội và công cuộc đổi mới Tựu trung lại, mối quan hệ đó được biểu hiện
Trang 3
như sau:
Một là, công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội làm bộc lộ biện chứng khách quan
của sự phát triển xã hội mà trước đó đã bị che khuất
Tự nó, tự nhiên và xã hội tồn tại một cách biện chứng Biện chứng khách quan là khái niệm dùng để khát quát thực tế đó Trong biện chứng khách quan, nhân tố quan trọng nhất là quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Sự vật, hiện tượng
sẽ như thế nào, điều đó hoàn toàn do quy luật khách quan của chính sự vật, hiện tượng này quy định Đương nhiên, sự phát triển xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan Song, hoạt động chủ quan của con người chỉ góp phần thúc đẩy phát triển xã hội khi lấy biện chứng khách quan, quy luật khách quan làm tiền đề Trong thời kỳ trước đổi mới, như Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã chỉ rõ, bên cạnh những thành công không thể phủ nhận, từ cuối những năm 70 - đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội mà một nguyên nhân là bệnh chủ quan duy ý chí; một số chủ trương, chính sách được đề
ra không dựa trên cơ sở tất yếu khách quan, trái lại, từ mong muốn chủ quan, muốn đốt cháy giai đoạn (như chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá khi chưa có đủ tiền đề cần thiết, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa với mục tiêu nhanh chóng xác lập chế
độ kinh tế xã hội chủ nghĩa đơn nhất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể ) Để khắc phục sai lầm đó, Đại hội VI của Đảng đã nêu một trong những bài học kinh
nghiệm là: "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan"(1)
Quán triệt bài học nêu trên vào việc hoạch định, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới, chúng ta đã có một loạt chủ trương đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện, hoàn cảnh mới của thế giới và trong nước: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở
đa dạng hoá về sở hữu, về thành phần kinh tế; trong đó, phải làm cho kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo, kinh tế toàn dân và tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh
tế quốc dân; chấp nhận nhiều hình thức và quy mô thu nhập; đổi mới hệ thống chính trị theo hướng dân chủ hoá hệ thống đó, xác lập nhà nước pháp quyền, lấy mức độ bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân làm thước đo đánh giá đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới nhà nước nói riêng; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối
Trang 4Hai là, đường lối đổi mới vì chủ nghĩa xã hội là kết quả vận dụng tổng hợp những quan
điểm phương pháp luận cơ bản của triết học mácxít nói chung, của phép biện chứng xã hội nói riêng vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt ở nước ta hiện nay
Bằng việc khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, thực tiễn nhân loại, triết học mácxít khẳng định rằng, để nhận thức và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, chúng ta phải quán triệt quan điểm về tính khách quan của sự xem xét, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển và quan điểm thực tiễn Trong quá trình hoạch định, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã vận dụng các quan điểm phương pháp luận đó để phân tích tình hình đất nước và thời đại, từ đó, ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Ở đây, chỉ xin minh chứng cho nhận định đó bằng việc làm rõ sự thể hiện quan điểm toàn diện trong đường lối đổi mới của Đảng
Trước hết, cần khẳng định rằng, toàn diện không đồng nhất với dàn đều, mà có sự kết hợp chặt chẽ giữa "điểm" và "diện", giữa "chính sách dàn đều" và "chính sách có trọng tâm, trọng điểm" Nói đúng hơn, đây không phải là kết hợp hai chính sách, mà trong một chính sách đúng đắn tất yếu phải bao hàm hai mặt đó
Trong đường lối đổi mới đất nước, ngay từ đầu, Đảng ta đã khẳng định: phải đổi mới toàn diện, từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách hoạt động, đổi mới công tác cán bộ; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị, tư tưởng - văn hoá; từ đổi mới đường lối đối nội đến đổi mới đường lối đối ngoại Trong tổng thể đổi mới toàn diện đó, Đảng ta khẳng định đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hoá, làm cho văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội Sự kết hợp
"dàn đều" với "có trọng tâm, trọng điểm" trong tổng thể đường lối đổi mới cũng như trong từng chính sách đổi mới và trong việc tổ chức thực tiễn hiện thực hoá chúng đã
Trang 5
làm cho 20 năm đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
Ba là, bản thân quá trình đổi mới là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn(2)
Đây là biện chứng khách quan của chính quá trình đổi mới
Biện chứng trước hết là biện chứng về các mâu thuẫn Xét từ giác độ đó, tính biện chứng của đổi mới hiện nay thể hiện qua một loạt mâu thuẫn sau: mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với sự bất cập của cơ chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện nay; mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những hạn chế trong việc tìm ra quyết sách khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường; mâu thuẫn giữa tính tất yếu khách quan phải nâng cao
sự đồng thuận xã hội trong đổi mới đất nước với sự tấn công nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực chính trị với lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị với sự thiếu hụt trong những biện pháp mang tính đột phá trên lĩnh vực này; mâu thuẫn giữa quá trình phát triển dân chủ với tình trạng thiếu giá đỡ về lý luận cho quá trình đó; mâu thuẫn giữa tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với khả năng giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội nhập; mâu thuẫn giữa việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
- nhân tố quyết định thành công sự nghiệp đổi mới - với tình trạng một số mặt của Đảng chưa thật ngang tầm trước đòi hỏi của tình hình; thực tiễn đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận phải giải đáp với sự chưa ngang tầm trong năng lực tư duy lý luận của chủ thể lãnh đạo công cuộc đổi mới
Việc giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn và những vấn đề có tính mâu thuẫn trên đây là một điều kiện căn bản để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển
Bốn là, đổi mới và phát triển là một vấn đề có tính quy luật của quá trình phát triển
nói chung, của đổi mới vì chủ nghĩa xã hội nói riêng
Như trên đã đề cập, trong biện chứng khách quan, cái quan trọng nhất là quy luật khách quan - nhân tố nội tại quy định một cách căn bản sự vận động và phát triển của
sự vật Việc xác định đổi mới và phát triển là một vấn đề có tính quy luật cũng có
Trang 6
nghĩa khẳng định bộ phận quan trọng nhất trong biện chứng khách quan của sự phát triển xã hội nói chung, của đổi mới ở Việt Nam hiện nay nói riêng
Phân tích tình hình đất nước trong những năm cuối thập niên 70 - đầu thập niên 80
của thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: đổi mới là vấn đề có ý nghĩa
sự phát triển, tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt bậc "Đổi mới" - đó là quá trình giải phóng mang ý nghĩa toàn diện của từ đó - giải phóng về tư tưởng, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, giải phóng khả năng trí tuệ của nhân dân, để phục vụ cho sự phát triển con người, bảo đảm tự do, sáng tạo của nhân dân(3) "Đổi mới" còn là quá trình sửa lại những nhận thức không đúng về "cái cũ", nhưng "cái cũ" ấy lại là cái đúng,
để hiểu đúng nó hơn, vận dụng có hiệu quả hơn vào thực tiễn mới "Đổi mới" còn là làm rõ cái gì là đúng của ngày hôm qua, nhưng do hoàn cảnh đã thay đổi, ngày hôm nay không còn thích hợp, cần từ tổng kết thực tiễn để khái quát lý luận nhằm bổ sung, phát triển nhận thức, phát triển nền tảng tư tưởng của chúng ta Nhờ vậy, nền tảng tư tưởng đó thực hiện có hiệu quả hơn chức năng là cơ sở hoạch định và triển khai đường lối của Đảng, thúc đẩy đất nước phát triển…
"Đổi mới" mà chúng ta đang tiến hành nhằm thay đổi căn bản mô hình phát triển đất
nước đi lên chủ nghĩa xã hội(4) Trong nhiều năm trước đây, mọi quan niệm chính thống đã được lan truyền rộng rãi trong các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa là chỉ có một mô hình duy nhất về chủ nghĩa xã hội - mô hình Xô viết mà về thực chất,
là mô hình "chủ nghĩa xã hội nhà nước", tập trung quan liêu, bao cấp Những khuyết tật của mô hình này ngày càng trở thành nhân tố cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội
ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng Đại hội VI của Đảng đã
Trang 7
đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước; trong đó, về kinh tế, dứt khoát chuyển sang mô hình hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Sự thay đổi đó động chạm tới toàn bộ các lĩnh vực khác của xã hội, mà việc thực hiện những thay đổi tương ứng sẽ tạo thành bước ngoặt mang tính cách mạng hết sức sâu sắc
Sự đổi mới toàn diện, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, có liên quan tới vấn
đề điều chỉnh cơ cấu lợi ích; do vậy, sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn, gặp nhiều khó khăn phức tạp Thêm vào đó, đổi mới về chính sách đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác cũng có nhân tố phát sinh ngoài mong đợi của chúng ta - đó là sự thâm nhập của một số quan niệm về văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống đã lỗi thời của phương Tây, đụng chạm tới nền văn hoá dân tộc, truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân Tình hình đó có thể biến thành các nhân tố gây mất ổn định trong tiến trình đổi mới, ảnh hưởng tới sự phát triển ổn định của xã hội Không có môi trường chính trị, xã hội
ổn định thì không thể có bước tiến nào trong đổi mới, thậm chí có thể làm cho thành
quả đổi mới bị mất đi Rõ ràng đổi mới, ổn định,phát triển có quan hệ chặt chẽ với nhau Ổn định là tiền đề cho đổi mới và phát triển Nhưng chỉ có kiên trì đổi mới, đẩy nhanh phát triển mới có thể tạo ra cơ sở cho môi trường xã hội ổn định Ổn định
là tiền đề, đổi mới là động lực, phát triển là mục tiêu
Để tiếp tục đổi mới và phát triển với hiệu quả cao hơn, chúng ta không thể chỉ dừng
ở việc nhận thức đúng tính quy luật đó, mà điều quan trọng hơn là phải hoàn thiện những điều kiện để tính quy luật này phát huy tác động của mình Trong vấn đề
này, đổi mới và phát triển chính đường lối đổi mới là điều kiện có tính tiền đề; đổi
mới và phát triển trong tổ chức thực tiễn hiện thực hoá đường lối đólà điều kiện có
tính quyết định sự phát triển tiến bộ trong thực tế xã hội
II PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG ĐỔI MỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC CƠ BẢN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Nhìn lại 20 năm đổi mới, hầu hết mọi người trong chúng ta đều cho rằng, nhờ giải quyết đúng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chúng ta đã giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước hoà bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội; mặt khác, chính
Trang 8
đổi mới kinh tế đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc phải đổi mới về chính trị Sự kết hợp tương đối hài hoà giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một thành công lớn của Đảng, của dân tộc ta Song, bên cạnh những luồng ý kiến chủ đạo trên, lại có một số người cho rằng, trong 20 năm qua, chúng ta mới tập trung đổi mới kinh tế, không quan tâm đúng mức tới đổi mới chính trị; sự lạc hậu của thượng tầng chính trị đang là lực cản cơ bản của đổi mới đất nước nói chung, đổi mới mạnh mẽ hơn trên lĩnh vực kinh
tế nói riêng Để minh chứng cho nhận định đó, người ta cho rằng, chúng ta vẫn duy trì chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền, nhất nguyên về chính trị, trong khi kinh tế là đa thành phần - đa nguyên Sự không ăn khớp đó là "đi ngược lại quan điểm duy vật mácxít, theo đó, chính trị là sự phản ánh của kinh tế, chính trị do kinh tế quyết định" Phù hợp với nền kinh tế đa nguyên, theo họ, cần có chế độ chính trị đa nguyên
Liên quan tới ý kiến vừa nêu, trước hết, về mặt lý luận, cần khẳng định rằng, chính
trị không phải là sự phản ánh của kinh tế một cách giản đơn, mà là sự biểu hiệntập
trung của kinh tế Chúng tôi nhấn mạnh chữ "tập trung" nhằm lưu ý rằng, chính trị
không phải là gương soi đời sống kinh tế, mà là sự phản ánh khái quát, làm nổi bật nhân tố chủ đạo trong đời sống kinh tế Chính nhân tố chủ đạo đó quy định nội dung căn bản của chính trị thuộc giai cấp cầm quyền Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Sự nhất nguyên về chính trị, một Đảng duy nhất cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt Nam
- chính là "sự biểu hiện tập trung" của nền kinh tế đó
Ngoài ra, lịch sử chính trị thế giới chứng minh rằng, hình thức tổ chức quyền lực chính trị còn bị quy định bởi truyền thống chính trị của đất nước, bởi bối cảnh lịch sử
- cụ thể của mỗi quốc gia, bởi mối tương quan lực lượng trên chính trường Xét từ tất cả các nhân tố đó, sự lựa chọn chế độ chính trị nhất nguyên, một Đảng duy nhất cầm quyền là một tất yếu lịch sử, phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước ta, đáp ứng đúng đòi hỏi của tuyệt đại đa số nhân dân và đã được thực tiễn kiểm chứng Trong 20 năm qua, sự ổn định của thể chế chính trị nhất nguyên đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và mọi mặt khác của xã hội Nhờ vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực to lớn của toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng đã nêu
Trang 9
Hơn nữa, cả về lý luận lẫn thực tiễn, 20 năm qua, chúng ta không chỉ đổi mới kinh tế,
mà đã từng bước đổi mới về chính trị, thậm chí, chính những đổi mới về chính trị còn đóng vai trò là màn dạo đầu cho đổi mới kinh tế Nền kinh tế nhiều thành phần không thể ra đời, nếu không có tư duy chính trị mới về tính biện chứng đầy mâu thuẫn của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, nếu vẫn giữ mãi quan niệm cũ kỹ cho rằng, để có chủ nghĩa xã hội, phải nhanh chóng loại bỏ sở hữu tư nhân dưới mọi hình thức, vẫn xem cải tạo xã hội chủ nghĩa để nhanh chóng xác lập một cách phổ biến chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đơn nhất dưới hình thức toàn dân và tập thể là công việc phải làm càng nhanh bao nhiêu càng tốt, nhờ vậy mà xoá bỏ được tình trạng người bóc lột người - mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế cũng không thể phát triển mạnh mẽ như đã thấy, nếu chúng ta vẫn giữ tư duy chính trị cũ
về công nghiệp hoá bằng việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, vẫn cho rằng phải công nghiệp hoá rồi mới đi vào hiện đại hoá, trong công nghiệp hoá thì lấy công nghiệp hoá để thay thế nhập khẩu làm nhiệm vụ trọng tâm Kinh tế cũng không thể phát triển, nếu vẫn giữ quan niệm độc lập tự chủ theo nghĩa bảo đảm
tự cung tự cấp mọi sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, vẫn "tự lực cánh sinh" trong sự đối lập với hội nhập quốc tế Kinh tế chắc chắn không thể phát triển được, nếu trong tư tưởng chính trị vẫn kỳ thị bóc lột, vẫn xem mọi hình thức bóc lột đều là tiêu cực, cản trở sự phát triển, mọi người giàu trước (dù do tài năng làm ăn của mình một cách chính đáng) cũng bị lên án, vẫn duy trì mãi một quan niệm đã lỗi thời: "Mọi người phải dàn hàng ngang mà tiến", "xấu đều hơn tốt lỏi", "chết một đống còn hơn sống một người" Những tư duy chính trị cũ kỹ đó đã là lực cản lớn đối với việc giải phóng con người, kìm hãm phát triển kinh tế
Mọi hoạt động của con người đều bị chi phối bởi nhận thức nhất định Xét trên quy
mô xã hội và vì sự tiến bộ của chế độ chính trị - xã hội trong giai đoạn hiện nay của thời đại - khi các vấn đề chính trị đang thâm nhập ngày càng sâu vào mọi mặt đời sống xã hội, thì nhận thức chính trị, ý thức chính trị có vai trò chi phối cực kỳ to lớn Nhận thức chính trị của chủ thể cầm quyền có tác động sâu sắc tới sự vận động, phát triển của mọi lĩnh vực khác trong xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế Ở Việt Nam,
sự phát triển tiến bộ của xã hội ta từ khi có Đảng đến nay đã hình thành tính tất yếu lịch sử về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Tư duy chính trị
Trang 10sự (hay xã hội công dân?)
Ngày nay, hầu như mọi người đều thừa nhận kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự như cái kiềng ba chân của nền dân chủ Trước khi đi vào đổi mới, sự đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế thị trường là một cách nhìn phổ quát Đi vào đổi mới chúng ta từng bước khắc phục nhận thức phiến diện cực đoan đó: từ chỗ
đối lập kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội đã đi tới thấy rõ sự cần thiết phải kết
hợp cả hai cái đó với nhau, và ngày nay đã khẳng định rằng, kinh tế thị trường là nhân
tố nội tại, vốn có của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như
của chính xã hội xã hội chủ nghĩa
Việc thừa nhận sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta được thừa nhận muộn màng hơn Trải qua nhiều hội nghị, hội thảo, đến tháng 1 - 1994, khái niệm này mới chính thức được đưa vào văn kiện của Đảng Từ đó, bằng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, chúng ta ngày càng thấy rõ rằng, để có dân chủ, việc
tổ chức quyền lực nhà nước không có cách nào tốt hơn là tuân thủ những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền
Việc thừa nhận sự cần thiết phải thiết lập, củng cố, hoàn thiện "xã hội công dân" có
sự thận trọng hơn rất nhiều Mãi gần đây, một số cơ quan khoa học mới được giao nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này Tin chắc rằng, những kết quả nghiên cứu sẽ mang lại lời khẳng định cho khái niệm đó để định hướng cho thực tiễn thiết định và từng bước hoàn thiện xã hội công dân Một xã hội được xây dựng trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một xã hội công dân mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thực sự là xã hội vì con người, vì nhân dân, một nền dân chủ rộng rãi sẽ nở hoa kết trái Bởi lẽ, bản thân nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ ra đời và phát triển được, khi thừa nhận đa dạng hoá về
sở hữu, về thành phần kinh tế, về cơ cấu lợi ích, thừa nhận người sản xuất - kinh doanh có vị thế tự chủ, độc lập và tự chịu trách nhiệm trên thương trường; mọi thành
Trang 11
phần kinh tế hoạt động đúng pháp luật đều được bình đẳng trước pháp luật và đều là
bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Những nội dung dân chủ về kinh tế do kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang lại vừa tạo tiền đề kinh tế - vật chất cho dân chủ hoá về chính trị, vừa đòi hỏi phải có dân chủ về chính trị Muốn có dân chủ trên lĩnh vực này, ngoài tiền đề tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, nhất thiết phải có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong Nhà nước đó, pháp luật được xem là tối thượng, tổ chức và hoạt động của mọi thiết chế quyền lực (kể cả Nhà nước) và của mọi công dân trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của xã hội đều phải tuân thủ pháp luật; Nhà nước phải bảo đảm quyền công dân, quyền con người Những quan hệ và thiết chế xã hội ngoài nhà nước sẽ ngày càng phong phú, đa dạng; những thiết chế mang tính độc lập, tự chủ, tự nguyện của các cộng đồng dân cư thể hiện nhu cầu, lợi ích đa dạng của con người sẽ ngày càng được xem trọng, vai trò của các tổ chức này ngày càng tăng lên Sự phát triển của nền dân chủ là sản phẩm tự nhiên của những thay đổi đó
3 Biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
Bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở nước ta, là nơi thể hiện rõ nhất tính ưu việt của chế độ xã hội ta, làm rõ sự khu biệt chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa xã hội là xã hội có sứ mệnh lịch sử cao cả: tạo lập những điều kiện cần thiết cho việc hiện thực hoá đầy đủ mục tiêu giải phóng toàn diện và triệt để con người, để làm cho mục tiêu "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người" không dừng lại ở khẩu hiệu, mà là một hiện thực Muốn vậy, sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi một tiền
đề không thể thiếu là có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao, bền vững trong trong hệ thống quan hệ sản xuất tiến bộ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân ngay từ lĩnh vực kinh tế Không có một nền kinh tế phát triển cao mà muốn không có sự chênh lệch trong đời sống kinh tế thì sẽ tái hiện tình trạng chia đều sự nghèo khổ Có kinh tế
Trang 12
phát triển cao mà không có kiểu quan hệ sản xuất tiến bộ, cho phép nhân dân làm chủ trong sản xuất - kinh doanh sẽ tái lập trở lại chế độ người bóc lột người, của cải dồn vào tay một thiểu số, đại đa số sống trong bần cùng (cả theo nghĩa tương đối và tuyệt đối, phần nhiều là theo nghĩa tương đối) Cả hai tình trạng đó đều xa lạ với bản chất của chủ nghĩa xã hội Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội là con đường duy nhất để khắc phục tình hình nêu trên
Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển kinh tế Không thể quan niệm rằng, phải đến khi đất nước đạt tới trình độ phát triển kinh tế cao mới có điều kiện thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; trái lại, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế Song, thực tiễn xã hội lại phức tạp hơn rất nhiều so với khái quát lý luận Chẳng hạn, để có phát triển bền vững, sự phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường Trong thực tế, không hiếm trường hợp để kinh tế phát triển, lại phải tạm thời hy sinh một phần môi trường sống Không thể vì khả năng có hạn (cả về khách quan lẫn chủ quan) trong việc tái sản xuất giản đơn (chứ chưa nói tái sản xuất mở rộng) diện tích rừng mà chúng ta không được khai thác rừng; không vì công nghệ làm sạch của ta còn quá hạn chế mà đình chỉ khai thác quặng, xử
lý quặng Có một hồi người ta làm rùm beng tình trạng dùng phoócmôn để bảo quản bánh phở đến mức suýt mất đi món ăn đặc sản của Hà Nội, nay không nói nữa không phải vì người ta thôi dùng phoócmôn để xử lý bánh phở Nhiều cái tuy không cho phép nhưng Nhà nước cũng không xử lý nghiêm, điều đó không chỉ do hữu khuynh,
mà đôi khi còn vì sự phát triển của sản xuất, của kinh tế Tuy không nhiều, nhưng đó cũng là những bằng chứng cho thấy, cuộc sống đôi khi phải chấp nhận có sự vi phạm nào đó nguyên tắc nêu trên để có kinh tế phát triển Vấn đề chỉ ở chỗ không thể lạm dụng tình trạng bức xúc đó để vi phạm tràn lan, thành hệ thống
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tiến bộ xã hội đòi hỏi: kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt đời sống xã hội được bảo đảm Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong sạch, vững mạnh Văn hoá, giáo dục, khoa học được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con
Trang 13
người với con người lành mạnh; những thói hư, tật xấu bị đẩy lùi Môi trường sinh thái được cải thiện Con người có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện tiến tới phát triển toàn diện cá nhân
Công bằng xã hội bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên lĩnh vực kinh tế, công bằng xã hội đòi hỏi bảo đảm sự công bằng trong phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế, công bằng trong phân phối và phân phối lại kết quả lao động và một chính sách điều tiết thu nhập hợp lý
Công bằng nhưng không cào bằng, không bình quân Mỗi người có năng lực thể chất và tinh thần khác nhau và hoạt động trong những điều kiện cụ thể không hoàn toàn như nhau, nên họ được hưởng những lượng khác nhau về giá trị vật chất và tinh thần của xã hội Khi sự chênh lệch đó không dẫn đến đối cực, không dẫn đến phân cực xã hội sẽ là một động lực cho phát triển
4- Biện chứng giữa tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc với sự đa dạng hoá ngày một tăng lên về cơ cấu xã hội
Qua 20 năm đổi mới, cơ cấu xã hội nước ta đã có những thay đổi đáng kể theo chiều hướng tiến bộ Một xã hội mở đang dần dần hình thành và phát triển, tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện để cho mỗi cá nhân có tính cơ động xã hội ngày càng cao Cùng với quan niệm truyền thống thường chỉ quy giản cơ cấu xã hội vào cơ cấu xã hội - giai cấp, dần dần đã hình thành quan niệm mới, theo đó, xã hội được hiểu và thừa nhận là một hệ thống đa cơ cấu tự nhiên, một hệ thống xã hội cơ cấu nhiều chiều, nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ Cơ cấu xã hội - giai cấp tuy vẫn được coi là giữ vị trí then chốt, song các phân hệ cơ cấu xã hội khác cũng đã được chú trọng: cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân tộc và cơ cấu xã hội - lãnh thổ Nhìn tổng thể, cơ cấu xã hội nước ta hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và các nhóm
xã hội khác Các giai cấp, tầng lớp xã hội đã và đang đóng góp rất tích cực vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
Ngay trong từng phân hệ tạo thành cơ cấu xã hội ở nước ta cũng ngày càng có cấu trúc
phức tạp Cùng với quá trình đổi mới cơ chế và cơ cấu kinh tế, giai cấp công nhân có
sự chuyển đổi cơ cấu khá rõ nét, theo hướng tăng số lượng công nhân trong sản xuất công nghiệp, với con số tuyệt đối là 2,56 triệu (57%); trong thương nghiệp, dịch vụ là
Trang 14
0,89 triệu (20%); trong xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện là 0,79 triệu (17%); trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản là 0,28 triệu (6%); công nhân thuộc các doanh nghiệp nhà nước giảm, trong khi ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng và các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng nhanh
Giai cấp nông dân có sự thay đổi khá rõ theo hướng tiến bộ Hiện nay không còn
nông dân tập thể theo kiểu hình thức, số lao động thuần nông ngày càng giảm Cơ cấu tổng thể hiện nay gồm có: chủ trang trại, nông dân sản xuất cá thể (theo kinh tế hộ gia đình), nông dân làm thuê, xã viên kiểu mới của các hợp tác xã kiểu mới
Tính đến giữa năm 2005, tầng lớp trí thức có khoảng gần 2 triệu người có trình độ cao
đẳng, đại học trở lên; trong đó có gần 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 531 giáo sư, 2.544 phó giáo sư và khoảng 16 nghìn cán bộ khoa học có trình độ thạc sĩ
Tầng lớp doanh nhân là lực lượng kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước, được hình
thành và phát triển khá mạnh trong 20 năm đổi mới Lực lượng này chính là "con đẻ" của đường lối đổi mới, được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trực tiếp là chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tầng lớp doanh nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tham gia tích cực vào việc thực hiện các chủ trương xã hội hoá y tế, văn hoá, giáo dục (5)
Tầng lớp tiểu chủ và những người kinh doanh nhỏ là một bộ phận cấu thành của xã
hội nước ta hiện nay Sự tồn tại tất yếu của họ được quy định bởi cấu trúc đa sở hữu của nền kinh tế, là sự phản ánh khách quan quá trình vận động và phát triển của lực lượng sản xuất; hơn nữa, hoàn toàn phù hợp với tính chất đa dạng xét về phương diện cầu tiêu dùng của xã hội trong nền kinh tế thị trường nước ta về lâu dài, và cũng hoàn toàn phù hợp với trật tự tự nhiên của nền kinh tế thị trường mang tính nhân loại nói chung
Trang 15
Những người có công là một bộ phận mang tính đặc thù trong cơ cấu xã hội nước ta
Trước đổi mới, tuy điều kiện kinh tế của đất nước còn rất khó khăn, bộ phận này đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quan tâm chăm sóc
Số đồng bào theo đạo gia tăng; số tôn giáo ngày càng đa dạng
Sự phức tạp hoá cơ cấu xã hội gắn liền với sự phức tạp hoá cơ cấu lợi ích đã có tác động thuận – nghịch tới vấn đề tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc Sự thống nhất trong đa dạng là nguồn sinh lực mới cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc Mặt khác,
sự khác nhau về nhu cầu, lợi ích cục bộ, trực tiếp của các cộng đồng dân cư khác nhau cũng dễ dẫn tới sự phân ly Trong vấn đề này, để tăng cường đại đoàn kết toàn dân
tộc, phải lấy điểm tương đồng làm trọng Ở giai đoạn hiện nay, điểm tương đồng đó là
phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
5 Biện chứng giữa giữ vững độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh giao lưu hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác
Hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên còn nhận thức chưa đầy đủ, thấu đáo mối quan
hệ giữa độc lập tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế, từ đó trong hành động còn ngập ngừng, thiếu nhất quán Có tâm lý lo ngại đẩy mạnh hội nhập sẽ mất độc lập tự chủ hoặc ngược lại là hội nhập tràn lan, vô nguyên tắc Vậy làm sao vừa đẩy mạnh hội nhập quốc
tế, vừa giữ vững độc lập tự chủ của quốc gia? Hiểu thế nào là độc lập tự chủ và thế nào là hội nhập quốc tế trong thế giới toàn cầu hoá ngày nay? Cần phải đổi mới quan niệm về độc lập tự chủ như thế nào cho phù hợp với tình hình quốc tế và phù hợp với yêu cầu, lợi ích của đất nước?
Độc lập tự chủ trong thời đại ngày nay phải bao hàm sự mở cửa với thế giới, tranh thủ sức mạnh thời đại, nếu không, không thể có độc lập tự chủ được Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và các nước đều tùy thuộc lẫn nhau, độc lập tự chủ là giữ vững chủ quyền dân tộc, lợi ích quốc gia, bản sắc văn hoá, an ninh chính trị - xã hội bằng cách khẳng định dân tộc mình, vị thế của mình, làm tăng thêm sự tuỳ thuộc của các nước khác vào mình; mặt khác, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta phải đồng thời là quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trong từng thời
kỳ, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực, từng quốc gia, thậm chí vào từng dự án, chương trình hợp tác cụ thể.r
Trang 16
(*) Chúng tôi có sử dụng một số kết quả của đề tài mà tác giả bài viết là Thư ký Kết
quả nghiên cứu của đề tài đã xuất bản thành sách: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam -
một số vấn đề lý luận và thực tiễn (GS.TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên), Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2006
(**) Giáo sư, tiến sĩ, Hội đồng Lý luận Trung ương
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII,
VIII, IX) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.29
(2) Xem: Phạm Ngọc Quang Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay - nhìn từ giác
độ mâu thuẫn của quá trình phát triển Tạp chí Triết học, số 10, 2005
(3) Xem: Trần Nhâm Đổi mới và phát triển bền vững dưới ngọn cờ tư tưởng của giai
cấp công nhân Nxb Lao động, Hà Nội, 1999, tr.103 - 104
(4) Xem: Trần Nhâm Sđd., tr.145
(5)
Xét riêng trong hoạt động đầu tư ở nước ta từ năm 2001 đến cuối năm 2004 và đầu
2005, có thể thấy rõ hơn vai trò của tầng lớp doanh nhân: đầu tư của khu vực dân doanh tăng lên nhanh chóng về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, từ 22,6% năm 2001 lên đến 28,7% năm 2004 (trong khi đó, tỷ trọng đầu tư từ ngân sách của Nhà nước giảm nhẹ trong 3 năm liền, trừ năm 2004 tăng chút ít; tỷ trọng tín dụng đầu
tư có xu hướng giảm, năm 2001: 18,3%, đến năm 2004 còn 10,3%; đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2001 chiếm tỷ lệ 18,5%, năm 2004 chỉ còn 14%; các nguồn vốn khác thì không ổn định và phụ thuộc nhiều vào các nhà tài trợ )
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN VÀ VÌ NHÂN DÂN
NGUYỄN ĐÌNH HOÀ (*)
Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tòi con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của nhà nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội Người chủ trương sau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
Trang 17
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thể hiện ở
cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương thức hoạt động của nhà nước Nhà nước
đó phải được tổ chức một cách hợp hiến, hợp pháp; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự là công cụ quyền lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân
Trong Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin coi nhà nước là một trong những vấn đề
phức tạp nhất, khó khăn nhất, nhưng lại là vấn đề rất cơ bản và rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị mà giai cấp vô sản không thể không giải quyết trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thiết lập một chế độ xã hội mới về chất Tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước; đồng thời, kế thừa và phát huy những giá trị nhân loại và truyền thống dân tộc về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những tư tưởng sâu sắc về xây dựng nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Do vậy, có thể nói, việc trở lại nghiên cứu, làm rõ những giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng của Người về nhà nước là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi đó là
một nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện
nay
Chúng ta đều biết, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã duy trì bộ máy nhà nước phong kiến từ trung ương đến các làng xã Sự cai trị hà khắc của nhà nước thực dân phong kiến theo kiểu chuyên chế, không có luật pháp dân chủ ở Đông Dương đã đặt nhân dân ta trước nỗi cơ cực vô bờ bến Với tư cách đại diện, thay mặt cho nhóm
người Việt Nam yêu nước ở Pháp, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội
nghị Vécxây năm 1919, Hồ Chí Minh đòi hỏi chính phủ Pháp và các nước đồng minh phải tiến hành “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản
xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và đàn áp
bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng
chế độ ra các đạo luật”(1) Những tư tưởng này, một mặt, thể hiện sự đấu tranh của
Trang 18
Hồ Chí Minh vì quyền lợi của nhân dân lao động; mặt khác, thể hiện những nhận
thức sâu sắc, ngay từ rất sớm của Người về vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nhà nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội khi mà sự nghiệp cách mạng còn chưa đi đến thành công
Dưới chế độ thực dân, phong kiến quân chủ chuyên chế, nhân dân lao động không được hưởng một chút quyền lợi nào, dù chỉ là nhỏ nhất; ngược lại, họ bị vắt kiệt về sức lực và của cải, bị đè nén nặng nề cả về tinh thần lẫn thể xác trong cảnh “một cổ hai tròng” Thay vì thực hiện những lý tưởng nhân đạo “tự do, bình đẳng, bác ái” mà chính cách mạng tư sản Pháp nêu ra, thực dân Pháp đã vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, không cho những người dân thuộc địa được hưởng quyền tối thiểu về bảo đảm luật pháp Do vậy, để thực sự giải phóng nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương sau khi đất nước giành được nền độc lập, tự do, chúng ta phải thiết lập, xây dựng một
nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân với nhiệm
vụ trọng yếu nhất là đoàn kết toàn dân, lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động; làm cho trong xã hội không còn tình trạng người bóc lột người và quan hệ giữa người với người là quan hệ thân ái, bình đẳng…
Luôn có ý thức và quan điểm rõ ràng về việc thiết lập quyền lực của nhân dân, Hồ
Chí Minh cho rằng, chỉ có nhà nước do nhân dân bầu ra mới là một nhà nước hợp
hiến, hợp pháp Bởi vậy, đối với Người, việc sớm xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là đặc biệt cần thiết và quan trọng Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ; mục đích cao nhất mà hiến pháp đó hướng tới là “ bảo đảm được quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng”(2) Hiến pháp dân chủ đó không những là cơ sở pháp lý
để xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, mà còn là nền tảng để ban hành các
đạo luật cụ thể nhằm thực hiện và bảo đảm bằng pháp luật các quyền dân chủ của
nhân dân - điều không thể có được dưới chế độ thực dân, quân chủ chuyên chế trước đây
Nhưng, để xây dựng được một hiến pháp như vậy, phải tiến hành Tổng tuyển cử trên toàn quốc, bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, cơ quan duy
Trang 19hệ về trách nhiệm giữa đại biểu Quốc hội với cử tri Người cho rằng, nhân dân có quyền kiểm soát, giám sát và bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân khi những đại biểu ấy không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân; rằng, với tư cách người đại diện cho nhân dân, những đại biểu của cơ quan dân cử các cấp phải liên hệ mật thiết với quần chúng, lắng nghe ý kiến, nắm được yêu cầu và phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Quốc hội được thành lập bằng phương thức tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là “chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam” Nhà nước đó được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, pháp luật với mục tiêu bao trùm, xuyên suốt là “… làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”(3) Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp và pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc ý chí của đại đa số nhân dân, phản ánh lợi ích và là công cụ bảo vệ lợi ích của nhân dân Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải là nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành xã hội bằng một hệ thống pháp luật; các quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hoá Bởi vậy, việc xây dựng Hiến pháp, pháp luật với những điều khoản, quy định cụ thể
và rõ ràng là hết sức cần thiết; tinh thần và nội dung của những đạo luật ấy phải “ thể hiện chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính”(4)
Mặt khác, thực tiễn cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng; những yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng cũng thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể Do đó, thiết
lập sự phù hợp của Hiến pháp, pháp luật với thực tiễn cuộc sống, với hoàn cảnh lịch
sử cụ thể là một tiêu chí quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Trang 20
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Thực tế cho thấy, để tăng cường cơ
sở pháp lý (về mặt tổ chức và hoạt động) của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như để bảo đảm và thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện mới, việc tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật cho phù hợp với yêu cầu mới là cần thiết và phải được coi trọng Khi trực tiếp chủ trì và chỉ
đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, đó là
bản “Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa Vì vậy
mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy”(5) Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh rằng,
để Hiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn
ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân Ý nghĩa của trưng cầu ý dân là ở chỗ, thứ nhất, biểu hiện tính dân chủ; thứ hai, thông qua đó,
Nhà nước phát huy được trí tuệ của toàn dân tộc nhằm hoàn thiện Hiến pháp và pháp luật, làm cho Hiến pháp và pháp luật luôn thật sự là của nhân dân, của chế độ dân chủ mới
Một vấn đề quan trọng khác của Nhà nước pháp quyền mà Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm là tính hiệu quả, tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật xã hội chủ
nghĩa Như chúng ta đã biết, trong lịch sử, không ít trường hợp trong đó pháp luật đã được thiết lập nhưng xã hội vẫn trong trạng thái rối loạn, mất trật tự hoặc tiềm ẩn sự bất ổn do pháp luật không nghiêm, do có một bộ phận người tự cho mình “quyền” đứng trên pháp luật Điều này có nghĩa là, sự hiện diện của pháp luật mới chỉ là điều
kiện cần, nhưng chưa đủ để bảo đảm ổn định xã hội Một xã hội muốn ổn định và
phát triển không những phải có hệ thống pháp luật của mình, mà còn phải có cơ chế thực hiện pháp luật bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng Nhận thức sâu sắc điều
đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật xã hội chủ nghĩa phải đủ mạnh, được thực hiện nghiêm minh, việc xét xử phải khách quan, công bằng, không thiên vị Chúng ta đang phấn đấu đến một xã hội trong đó không có người bóc lột người, không có sự xâm phạm và làm hại đến lợi ích chính đáng của người khác, mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật ; do vậy, đối với những kẻ bất liêm, theo quan điểm của Người, dù kẻ đó ở địa vị nào và làm nghề gì, pháp luật cũng phải thẳng tay trừng
Trang 21
trị
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, pháp luật, xét đến cùng, đều
là do con người và vì con người Người luôn đề cao vai trò và tầm quan trọng của pháp luật, song không vì thế mà tuyệt đối hoá pháp luật hoặc coi đó là biện pháp duy nhất để tổ chức và quản lý xã hội Khác với thuyết “Pháp trị” trong các xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số cầm quyền, hệ thống quan
điểm pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xoay quanh một “trục” là xây dựng
nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân Đó thực sự là một giá trị thấm đượm tính nhân
văn sâu sắc Ý nghĩa nhân văn trong triết lý pháp luật của Hồ Chí Minh là ở chỗ, đối với Người, tất cả mọi quyền lực nhà nước đều phải thuộc về nhân dân; nhân dân vừa
là mục đích mà nhà nước hướng tới phục vụ, vừa là chủ thể của nhà nước Có thể khẳng định rằng, sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố “lý” và “tình”, giữa đạo đức và pháp luật là nét độc đáo, sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
và thực hiện Hiến pháp, pháp luật Không phải ngẫu nhiên mà Người nhấn mạnh rằng, trong vấn đề ở đời và làm người, điều căn bản, cốt lõi nhất là con người ta cần phải sống với nhau sao cho có tình, có nghĩa Ở đây, cùng với việc đề ra những chuẩn mực đạo đức cách mạng, Người đã xây dựng được một hệ thống quan điểm pháp luật phù hợp với quan điểm đạo đức mới, đảm bảo cho việc thực thi những hành vi đạo đức cách mạng Pháp luật là công cụ quản lý xã hội, điều chỉnh và định hướng hành vi của mỗi người theo hướng ngày càng tốt hơn, ngày càng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ nhằm đáp ứng những yêu cầu, những tiêu chí mới về đạo đức của xã hội Giá trị to lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp giữa các yếu tố
đó chính là ở chỗ, nó chỉ ra triết lý phát triển xã hội hiện đại không phải chỉ dựa vào một yếu tố thuần tuý - hoặc đạo đức, hoặc pháp luật, mà chính là ở mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa đạo đức và pháp luật Do đó, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về sự kết hợp đạo đức cách mạng với pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở đảm bảo cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân mà chúng ta đang
tiến hành hiện nay
Tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
Trang 22
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thể hiện cả ở mục đích,
nguyên tắc tổ chức lẫn phương thức hoạt động của nhà nước Đối với các cán bộ và
cơ quan nhà nước, Người đòi hỏi không những phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân, mà còn phải đặc biệt
“gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luật lệ”(6) Có thể khẳng định rằng, đây là một tư tưởng cực kỳ sáng suốt và quan trọng của Hồ Chí Minh Trong chế độ xã hội mới, Hiến pháp và pháp luật biểu hiện ý chí, quyền lực và bảo vệ lợi ích của toàn dân; do vậy, tất cả mọi người đều có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh Ngay cả hoạt động của các cơ quan nhà nước, của các cán bộ trong bộ máy nhà nước
cũng không được vượt ra ngoài, mà phải nằm trongkhuôn khổ quy định của Hiến
pháp và pháp luật Tôn trọng và thực hiện nghiêm túc yêu cầu mang tính nguyên tắc này cũng có nghĩa là sẽ ngăn chặn được nguy cơ lạm dụng, làm “tha hoá” quyền lực nhà nước, hoặc khuynh hướng coi quyền lực nhà nước là thứ quyền năng vô hạn, tuyệt đối và tách rời khỏi nhân dân
Tựu trung lại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trước hết là công cụ quyền lực của nhân dân lao động, phản ánh và bảo vệ lợi ích của nhân dân; nó được tổ chức trên cơ sở pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi Nhà nước phải có sự đổi mới về phương pháp và tăng cường hiệu quả quản lý xã hội, không thể chỉ bằng những chỉ thị, mệnh lệnh, mà quan trọng và căn bản hơn, phải bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Điều đó quy định tính tất yếu của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội
bằng pháp luật”(7) Mới đây, tại Đại hội lần thứ X, khi khẳng định “Nhà nước ta là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Đảng ta nhấn mạnh: “Cần xây dựng cơ chế
vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về
Trang 23
nhân dân… Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(8) Như vậy, có thể nói, với những giá trị khoa học to lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân chính là cơ sở, định hướng cho việc xây dựng, củng
cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà giờ đây, Đảng ta xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.r
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131 –132
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.45
VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY
NGUYỄN TRỌNG CHUẨN (*)
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó
Trang 24
khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ cho chính mình Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó
Nhân loại đang chứng kiến những biến động to lớn, phức tạp và có tác động sâu sắc, nhiều mặt không chỉ đến con người và xã hội, mà còn đến cả giới tự nhiên Các sự biến trong xã hội dồn dập xảy ra làm cho có những cái tưởng như hết sức vững chắc bỗng đột ngột sụp đổ; cái mới có khi chưa kịp phát huy tác dụng, thậm chí chưa định hình rõ rệt, thì lại đã có những cái mới hơn nảy sinh bổ sung hoặc chực chờ để thay thế
Cùng với những biến động đó, sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu, các thành tựu tuyệt vời của khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên toàn cầu hoá đang tạo nên những bước tiến mới trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống đương đại, đang tác động mạnh đến tất cả các nền văn hoá dân tộc và đến văn minh nhân loại nói chung Công nghệ thông tin, các phương tiện liên lạc và giao thông hiện đại cực kỳ thuận lợi và hiệu quả dường như đang thu nhỏ trái đất lại và biến nó thành
“ngôi làng toàn cầu” Trong một bối cảnh như vậy đã có người nghĩ rằng, trong giai đoạn hiện nay, chỉ có kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao mới có thể là cứu cánh giúp cho con người vượt qua những khó khăn, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, mới có thể đáp ứng được cả các nhu cầu thường nhật lẫn lâu dài của nhân loại, còn triết học có lẽ đã hết thời(!)
Phải chăng đúng là như vậy?
Mọi người đều hiểu rằng, sẽ không thể có toàn cầu hoá hiện nay, trước hết là toàn
Trang 25
cầu hoá về kinh tế, còn bộ mặt của thế giới cùng với đời sống của từng cá nhân cũng
sẽ rất khác nếu như không có kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao Song, nếu tỉnh táo
mà xem xét thì chúng ta sẽ thấy nhận định trên là khá hời hợt và nông cạn Rất dễ dàng nhận ra rằng, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay, các thành tựu to lớn mà nhân loại đạt được trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là trong khoa học và công nghệ, trong kinh tế, một mặt, là những động lực cơ bản và quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển nhanh hơn, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau hơn, làm tăng khả năng khám phá và khai thác giới tự nhiên của con người Song, mặt khác, chính con người
và xã hội lại cũng đứng trước những sự bất thường, những mối đe doạ và những rủi
ro khó lường do hậu quả của việc chiếm dụng, sử dụng và nhất là sự lạm dụng những thành tựu ấy của con người Toàn cầu hoá, một mặt, là thắng lợi cực kỳ to lớn, không thể chối bỏ của khoa học và công nghệ, của sự phát triển kinh tế; mặt khác, chính nó cũng góp phần huỷ hoại nặng nề đối với thiên nhiên và ẩn chứa đầy nguy cơ đối với con người
Dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, xuất phát từ thực tế cuộc sống đương đại, con người đã có thể tự giải đáp được rất nhiều vấn đề mà họ quan tâm Song, đúng như Ph.Bêcơn (1561-1626) đã từng nhận xét, những điều mà con người đã biết được chưa thấm vào đâu so với những điều mà con người còn chưa biết Vì vậy, con người vẫn vừa phải tiếp tục tìm kiếm lời giải cho những thách đố muôn thuở, vừa phải trả lời cho những câu hỏi hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra Đó là những câu hỏi đại loại như: thế giới này là gì? Vị trí của con người trong thế giới đó ra sao? Ý nghĩa của cuộc sống con người trong thế giới đầy tính cạnh tranh và rủi ro này là gì? Số phận con người do ai quyết định? Con người có thể tránh được những tai hoạ thảm khốc do thiên nhiên đang bị chính con người tàn phá nặng nề gây ra hay không? Liệu mỗi con người và các dân tộc có thể làm chủ được vận mệnh của mình trong điều kiện toàn cầu hoá khi các nước phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ hơn hay không? Hạnh phúc trong thế giới đầy bất ổn này là gì? Tại sao có nước quá giàu và có người lại quá nghèo? Có thể xoá bỏ được sự bất công
và thiết lập được sự công bằng xã hội và công lý có thể thực thi hay không? Cuộc sống của con người trong tương lai sẽ như thế nào? Bằng cách nào để có thể ngăn chặn được các loại bệnh lây lan rất nhanh trong kỷ nguyên toàn cầu hoá? Có phải cái
Trang 26
ác đã cắm rễ sâu trong con người không và có thể chế ngự được cái ác không? Làm sao để lòng khoan dung có thể ngự trị được trong con người nhằm góp phần ngăn chặn hoặc giảm bớt cảnh tàn sát lẫn nhau vẫn đang diễn ra trên trái đất? Con người được tự do đến đâu và có trách nhiệm đối với xã hội và đối với đồng loại ra sao cả về mặt luật pháp lẫn về mặt đạo đức? Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay liệu có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển khoa học và công nghệ mà không làm tổn hại đến con người, đến xã hội và đến giới tự nhiên hay không? Làm sao và bằng cách nào để các nước kém phát triển như nước ta có thể tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, ổn định được xã hội để phát triển, để đuổi kịp các nước khác? Làm sao để sử dụng được một cách tốt nhất các nguồn lực, các lợi thế mà toàn cầu hoá tạo ra cho các nước đi sau? Bằng cách nào chúng ta có thể tạo được các động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên toàn cầu hoá mà không làm mất đi các giá trị dân tộc đã được các thế hệ trước tạo dựng nên?, v.v
Rõ ràng là, nếu đứng về mặt xã hội mà xét thì đang tồn tại những nghịch lý mà mọi người rất dễ nhận ra nhưng lại không dễ gì đưa ra các giải pháp hoặc phương hướng giải quyết Cụ thể là, trong lúc thế giới ngày càng giàu lên nhanh chóng nếu tính về tổng số sản phẩm và giá trị của cải làm ra được và tích luỹ được; xã hội có thêm sức mạnh vật chất và nhất là một khối lượng khổng lồ những tri thức mới, thì lại cũng chính là lúc có rất nhiều nước vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển; có nhiều người không chỉ ở các nước kém phát triển, mà cả ở những nước giàu, thậm chí là nước giàu nhất thế giới, ít có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ xã hội bình thường nhất, vẫn đang sống trong cảnh nghèo khó, đói hoặc thiếu ăn Chẳng hạn, theo một công trình nghiên cứu, năm 2005, ở nước Mỹ, có 33 triệu người, tức là gần 10% số gia đình, trong đó có 13 triệu trẻ em, đang bị đói hay gần với cái đói Nếu tính số chịu đói thường xuyên cũng ở nước Mỹ thì con số đó là 3,1% số gia đình với 8,5 triệu người, trong đó có 2,9 triệu trẻ em(1) Một nửa dân số thế giới, tức là gần 3
tỉ người, thu nhập không quá 2 đôla/ngày và 1,2 tỉ người đang phải sống dưới mức 1 đôla/ngày Tình trạng này xảy ra là do 82% tổng thu nhập toàn thế giới thuộc về 20% những người giàu nhất, trong khi 20% số người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% tổng
số thu nhập đó
Như vậy, ngay trong thời đại chúng ta, nếu nói theo cách nói của C.Mác, thì của cải
Trang 27
và sự giàu có vẫn đang tiếp tục tập trung về một phía, còn sự nghèo khó lại đang tập trung dồn vào một phía khác Tính chung toàn thế giới, khoảng cách giàu nghèo hiện nay của 20% số người giàu nhất và 20% số người nghèo nhất đã gấp tới hơn 70 lần(2)
Nhân loại đang phải chứng kiến một nghịch lý khác Đó là, một mặt, thế giới vừa ra sức xây dựng và thực thi những chương trình xoá bỏ đói nghèo cho nhiều nước kém phát triển và đang phát triển; mặt khác, song song với việc làm đó, các nước giàu lại đang thực hiện một việc khác là tạo ra sự đói nghèo bằng không ít các chính sách bảo
hộ, như quy định giá cả cố định thấp đối với nông sản và nguyên liệu xuất xứ từ các nước nghèo, ưu đãi thuế quan cho các nguồn vốn từ các nước nghèo hơn vào các nước giàu nhằm thu hút đầu tư mà thực chất là rút ruột các nguồn vốn đã quá ít ỏi của các nước nghèo, v.v Vô hình trung, những việc làm này càng làm cho các nước nghèo ngày một khó khăn hơn, trở nên nghèo hơn và phụ thuộc vào các nước giàu nhiều hơn Sự thật là, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay, các nước nghèo và con người ở đó vẫn đang phải đối diện với không ít những sự đe doạ và thách thức, đang chưa đủ sức để thoát ra khỏi vô vàn khó khăn, đang chứng kiến không chỉ những cơ hội thực sự thuận lợi và những điều tốt lành, mà còn đối diện với cả những thách thức, những nguy cơ và hiểm hoạ, cả những bi kịch lẫn những sự bất công ghê gớm trong xã hội Không thể khắc phục tình trạng này bằng khoa học kỹ thuật hay bằng công nghệ cao mà chỉ có thể giải quyết trên cơ sở đấu tranh xã hội, nghĩa là tiến hành cải tạo, biến đổi xã hội, biến đổi thế giới như C.Mác đã từng khẳng định
Một điểm khác cũng rất rõ nét là, so với vài ba thập kỷ trước đây, có nhiều dấu hiệu
và nhiều con số thống kê cho thấy, giới tự nhiên tỏ ra ngày càng khắc nghiệt hơn với con người, dường như giới tự nhiên đang trả thù lại sự lạm dụng, sự khai thác bừa bãi và sự tàn phá vô độ bằng kỹ thuật và những công cụ sản xuất hiện đại nhất của con người đối với nó Môi trường sống ngày một xấu đi, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày một cạn kiệt, nguồn nước nuôi sống con người đang có nguy cơ trở thành nguyên nhân của các cuộc xung đột giữa các quốc gia, các khu vực Tiên đoán của C.Mác cách đây hơn một thế kỷ rằng, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại hai cơ sở tồn tại của chính nó là con người và giới tự nhiên được thể hiện rõ trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay
Trang 28
Tuy nhiên, trên đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong số các vấn đề mà nhân loại đang phải đối diện, song chính chúng lại là những vấn đề mà triết học không thể không góp phần giải đáp và để giải đáp chúng cũng không thể không có triết học Việc giải đáp và chỉ ra nguyên nhân của tình trạng mâu thuẫn, của những nghịch lý trên hoàn toàn nằm ngoài tầm chú ý và khả năng của kỹ thuật và công nghệ Triết học và các khoa học xã hội có khả năng và có trách nhiệm phải giải đáp chúng
Giải đáp những vấn đề đó chính là từng bước xác định thái độ, xác định cách nhìn về cuộc sống hôm nay và về cách thức hoạt động sinh sống của mỗi người trong những điều kiện và hoàn cảnh mới Giải đáp những vấn đề tưởng như hết sức cao xa nhưng thực ra lại rất cốt yếu đối với con người, với “thân phận con người” đó chính là sứ mạng không thể thoái thác của triết học Nói như I.Cantơ (1724-1804), triết học cần làm sáng tỏ những điều trước đây ta chưa thấy hết, đó là “những vấn đề liên quan thiết thân đến mọi người”; và mục đích tối hậu của triết học “không có gì khác hơn là toàn bộ vận mệnh của con người”, bởi vì, suy đến cùng, “tất cả chỉ là vấn đề con
người”(3), nghĩa là, triết học phải giúp con người nhận ra địa vị của mình và cách
sống sao cho xứng đáng với con người
Như vậy, sự mở mang tri thức nói chung, và tri thức triết học nói riêng, chính là điều kiện giúp cho con người tự giải đáp các vấn đề mà họ quan tâm, là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học Song, việc giúp con người nhận thức chính xác về bản thân mình và giải thích đúng đắn thế giới xung quanh mình mới chỉ là một mặt Bởi
vì, còn một mặt khác quan trọng hơn, mà triết học trước C.Mác chưa đặt ra và được
C.Mác khẳng định, đó là triết học phải góp phần “cải tạo thế giới”(4) Điều đó có
nghĩa rằng, những tri thức mà con người thu nhận được chỉ trở nên yếu tố cấu thành của thế giới quan đầy đủ và hoàn chỉnh khi nó đã hoà vào niềm tin, khi nó biến thành niềm tin, biến thành động cơ và đi vào hành động của con người, giúp con người xác định mục tiêu và lý tưởng sống, từ đó góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ con người
Tương tự như vậy, con người cũng thường phải trả lời các câu hỏi khi tự mình hành động, chẳng hạn, làm sao để đạt được kết quả tốt nhất? Cách hành động như vậy là đúng hay là sai? Liệu bằng cách đó có thể tìm ra chân lý hay không? v.v Từ xưa đến nay, những tri thức triết học không chỉ giúp con người nâng cao năng lực nhận
Trang 29
thức, mà còn giúp con người nâng cao năng lực hành động, bởi vì, như I.Cantơ nói,
lý trí không chỉ là năng lực nhận thức tốt nhất, mà còn là năng lực hướng dẫn hành
động của con người Điều đó có nghĩa rằng, khi trả lời các vấn đề trên, triết học có
vai trò phương pháp luận rất lớn Chính triết học cung cấp cho con người các quan
điểm, các nguyên tắc xuất phát và những phương pháp để tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả Trước I.Cantơ, R.Đêcáctơ (1596-1650) cũng đã từng nói rất đúng rằng, "thà không đi tìm chân lý còn hơn là đi tìm nó
và về những biến động trên thế giới, về xã hội, về bản thân mình thì chính triết học
đã giúp con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố sự
quyết tâm hành động để hoàn thành mục tiêu đã đề ra với kết quả cao nhất
Đồng thời, toàn cầu hoá đang dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ về mọi mặt của thế giới, đang tạo ra những cơ hội cho các nước lạc hậu có thể nắm lấy để phát triển và hội nhập Tuy nhiên, để nắm được những cơ hội ấy, và hơn thế nữa, để biến chúng thành hiện thực trong điều kiện mọi thứ đều đổi thay nhanh chóng thì cần có nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là biết thích ứng nhanh Nguồn nhân lực ấy luôn phải đối diện với vô vàn các sự kiện, các tình huống phức tạp, các cách đánh giá khác nhau, thậm chí rất trái ngược nhau về bản chất, đặc trưng và khả năng mà toàn cầu hoá có thể mang lại; phải tìm cho được câu trả lời tốt nhất về những vấn đề đang được đặt ra trước đất nước mình Nguồn nhân lực như vậy không tự nhiên mà có; hơn nữa, nó không chỉ cần có trình độ nghề nghiệp, có kiến thức chuyên môn hẹp vững vàng, mà còn phải được đào tạo, bồi dưỡng cả về thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan và phương pháp nhận thức Nguồn nhân lực đó không chỉ phải có khả năng thích ứng nhanh với các tiến bộ của khoa học và công nghệ, mà còn phải thích ứng nhanh với
Trang 30
những biến động nhiều mặt của xã hội Chính triết học sẽ giúp con người rèn luyện khả năng tư duy mềm dẻo, nhạy bén, vừa là để tự nhận thức bản thân mình, hiểu được cả những khả năng vốn có lẫn cả những hạn chế của mình để tự vươn lên, vừa
là để nhận thức đúng đắn và chính xác hoàn cảnh khách quan và dự báo được những
sự biến động nhanh chóng của xã hội
Đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, triết học cũng có vai trò không nhỏ và nhiều mặt Ở đây, chỉ xin nêu một vài điểm Chẳng hạn, khi hoạch định các bước đi thích hợp cho một giai đoạn thì không thể không nhìn lại quá khứ, không thể không phân tích thế giới đương đại và nhất là không thể không dựa vào những dự báo về sự biến đổi nhanh chóng, nhiều mặt và đầy mâu thuẫn của kỷ nguyên toàn cầu hoá Nhìn lại quá khứ chính là xem xét, phân tích các bài học kinh nghiệm, cả những kinh nghiệm thành công lẫn những kinh nghiệm không thành công, của nước ta cũng như của các nước khác
Khác với việc rút kinh nghiệm thông thường, triết học vừa rút ra các bài học tổng
quát hơn, chung hơn, sâu sắc hơn nhằm tìm ra cái tất yếu ở trong đó, tìm ra cái đóng
vai trò chi phối toàn bộ quá trình, cái nhất thiết phải được thực hiện; vừa rút ra cái đặc thù, cái riêng của chúng ta, cái đặc thù của thời đại mà chúng ta đang sống để tránh áp dụng máy móc cách làm và bước đi của các nước khác, trong những điều kiện khác vào hoàn cảnh hiện tại của nước ta Sự phân tích khách quan xu thế toàn
cầu hoá hiện nay cho thấy một điều tất yếu đầu tiên, đó là mọi quốc gia muốn phát
triển thì đều phải mở cửa với thế giới, phải hội nhập với thế giới Các nước đang
phát triển nếu tự tách mình ra, tự cô lập mình với thế giới thì có nghĩa là tự đào sâu thêm khoảng cách với các nước phát triển và sẽ không bao giờ có thể tiến kịp họ Mặt khác, muốn thành công trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở kỷ nguyên toàn cầu hoá thì phải biết tiếp thu các giá trị mà nhân loại đã tích luỹ từ trước cũng như các giá trị mới của thời đại, nhưng không được làm mất đi bản sắc dân tộc, không làm tổn hại các giá trị truyền thống quý báu Chính ở điểm này, việc dựa vào triết học và các khoa học xã hội và nhân văn là vô cùng cần thiết, vì rằng, những kết luận
do các khoa học này rút ra không chỉ là sự đúc kết các giá trị lịch sử, mà còn là sự đối chiếu, sự phân tích - so sánh với hiện tại Trong toàn cầu hoá những giá trị nhân loại, giá trị xã hội, giá trị dân chủ toàn cầu và đoàn kết toàn cầu, giá trị sinh thái và
Trang 31
đạo đức toàn cầu đã được khẳng định và không hề loại trừ giá trị dân tộc, giá trị giai cấp và giá trị cá nhân Bài học về việc giữ gìn sự bền vững của gia đình có giá trị lớn đối với sự ổn định và lành mạnh của cả gia đình lẫn xã hội cùng những tác hại của sự phá vỡ gia đình trong quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nước, v.v là một dẫn chứng sinh động về việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống phục vụ cho sự phát triển đất nước trong điều kiện mới
Đồng thời, khi tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, ngay từ đầu, chúng ta vừa phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế, vừa phải tính toán, càng cụ thể càng tốt, đến hậu quả sinh thái và nhất là các hậu quả xã hội do quá trình đó gây nên Cần phải làm sao cho hiệu quả kinh tế không làm triệt tiêu hiệu quả
xã hội, và hơn nữa, cần cố gắng giảm đến mức thấp nhất các hậu quả xã hội có thể
có Dù rằng rất khó tính trước được tất cả các hậu quả này, nhưng có khó đến đâu chăng nữa thì chúng ta vẫn cần phải chủ động làm việc đó, bởi nếu không làm rất có thể cái giá phải trả sẽ rất đắt
Nói cách khác, để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước nhà trong kỷ nguyên toàn
cầu hoá, cần có cách tiếp cận triết học chứ không chỉ dừng lại ở cách tiếp cận kinh tế
hay kỹ thuật đơn thuần Không nên nghĩ rằng, cứ có kinh tế tăng trưởng cao, cứ làm
cho đất nước giàu có lên mạnh mẽ và nhanh chóng thì tự khắc các vấn đề xã hội, nhất là các tệ nạn xã hội, sẽ tự động mất đi và mọi người sẽ tốt hơn Phó mặc cho kinh tế mà không quan tâm đến mặt xã hội, không chú ý bảo tồn các giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc thì không chỉ những giá trị truyền thống bị đe doạ, mà ngay cả cuộc sống bình thường của từng con người, của từng gia đình và của toàn thể
xã hội cả trong thời điểm hiện tại lẫn trong tương lai cũng đều bị ảnh hưởng
Như vậy, cũng như trong quá khứ, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, triết học không mất chỗ đứng của nó dù là trong phạm vi một dân tộc hay trên bình diện nhân loại Triết học không chỉ giúp con người có được cách nhìn nhận đúng đắn thế giới, mà còn giúp con người có được khả năng đánh giá những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đặt ra liên quan đến từng cá nhân cũng như đến toàn xã hội và trong quan hệ với thiên nhiên Triết học vạch ra những nghịch lý mà con người đang phải đối diện trong bối cảnh toàn cầu hoá, đồng thời cũng góp phần chỉ ra lối thoát khỏi những nghịch lý ấy Nó vẫn vừa thực hiện chức
Trang 32
năng giải thích thế giới và vừa góp phần biến đổi thế giới hướng tới mục tiêu tất cả là
vì con người và hạnh phúc của con người trong kỷ nguyên toàn cầu hoá.r
(*) Giáo sư, tiến sĩ Triết học, Viện trưởng viện Triết học
(1) Hunger and Proverty Fact, p.1
NGUYỄN TÀI THƯ(*)
Trong bài viết này, tác giả khẳng định rằng, trong lịch sử, Việt Nam đã có triết học của mình, thể hiện tập trung ở hai vấn đề: tư tưởng triết học về số phận của cá nhân con người và tư tưởng triết học về số phận của đất nước Đó cũng là sắc thái tư duy triết học đặc thù của Việt Nam Mặt khác, tác giả cũng luận chứng để cho thấy rằng, trước đây, triết học Việt Nam ít nhiều đã có sự giao lưu với bên ngoài; ngày nay, mở cửa và hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa là thách thức mới đối với sự phát triển của triết học Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc nhận thức lại tư duy truyền thống và lựa chọn, kế thừa những giá trị trong tư duy triết học của thế giới là điều kiện để có sự hội nhập tích cực
Nhận thức lại vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu là chủ đề không những có
Trang 33
ý nghĩa đối với các nước phát triển, mà còn có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển, đang ở thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như Việt Nam Để phát huy được vai trò trong kỷ nguyên này, triết học Việt Nam phải tiến tới hội nhập khu vực và quốc
tế Muốn thế, sự nhận thức lại nội dung và hình thức của triết học Việt Nam và điều kiện để nó hội nhập được quốc tế là việc làm cần thiết
1 Triết học Việt Nam, một loại hình của tư duy triết học
Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ở Hà Nội có các cuộc Hội thảo khoa học do Viện Triết học Việt Nam chủ trì, đến dự có các nhà nghiên cứu và giảng dạy triết học, các nhà hoạt động tư tưởng, văn hóa dân tộc, đã triển khai một cuộc tranh luận về vấn
đề Việt Nam có triết học hay không Các quan niệm về vấn đề này hết sức phân tán
Có người cho rằng, Việt Nam trong lịch sử chỉ có chính trị học, đạo đức học và tôn giáo học, chứ không có triết học; có người cho rằng Việt Nam mới tiến tới tiền triết học, chứ chưa phải là triết học; có ý kiến cho rằng xây dựng căn cứ lý luận cho công cuộc dựng nước và giữ nước của Việt Nam đáng lẽ là chức năng của triết học, nhưng triết học chưa có, nên chính trị học phải làm thay; lại có người cho rằng triết học Việt Nam là tư tưởng yêu nước chống ngoại xâm, v.v Ngày nay, sau hơn 40 năm, khi
Viện Triết học chủ trương biên soạn cuốn sách Lịch sử tư tưởng triết học Việt
Nam, các vấn đề trên vẫn còn lặp lại, vẫn có người cho rằng Việt Nam không có triết
học Vấn đề thật nan giải Nhưng chẳng lẽ một dân tộc có truyền thống anh dũng, quật cường, có khả năng khái quát hiện thực và tư duy trừu tượng như Việt Nam lại không
có triết học của mình?
Thực tế cho thấy, lịch sử triết học thế giới cũng đã từng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về triết học Sự không thống nhất quan niệm đó nói lên rằng triết học là khái niệm mở, nó thay đổi tùy theo từng thời kỳ lịch sử, tùy theo sự phát triển của các
bộ môn khoa học làm tiền đề cho sự khái quát triết học và tùy thuộc vào nhu cầu hoạt động thực tiễn xã hội của từng dân tộc, từng thời kỳ lịch sử Đồng thời, qua đó cũng nói lên rằng, con đường để tiến tới một nhận thức đầy đủ về đối tượng và nội dung của triết học Việt Nam vẫn còn rộng mở, vẫn đòi hỏi sự khám phá Và sự tồn tại của những quan niệm khác nhau về triết học và triết học Việt Nam ở các học giả Việt Nam
là điều có thể hiểu được
Trước hiện thực khách quan, người ta có nhiều kiểu nhận thức khác nhau Trong đó có
Trang 34
kiểu nhận thức không dừng lại ở hiện tượng, ở bề ngoài mà đi sâu vào bản chất sự vật; không nhìn sự vật trong sự cô lập, tĩnh tại mà nhìn nó trong sự vận động, biến hóa, trong mối liên hệ nhân quả, trong khả năng và hiện thực; không dừng lại ở những hiểu biết rời rạc mà tiến tới đúc kết thành những vấn đề mang tính bản chất, đã trừu tượng hóa thành các nguyên lý Nếu cho đó là một kiểu nhận thức triết học thì Việt Nam đã
có triết học của mình trong lịch sử
Môi trường để hình thành nên triết học Việt Nam là hoàn cảnh sống của con người Việt Nam Hoàn cảnh đó luôn là những áp lực đè nặng lên họ, tạo nên ở họ hai số phận nghiệt ngã: số phận cá nhân con người và số phận đất nước Để sống, họ phải đối mặt, phải đi sâu tìm hiểu, khám phá để có điều kiện vượt qua
Sống trong điều kiện của đất nước có khí hậu á nhiệt đới, nóng ẩm, con người và sinh vật ở Việt Nam trong lịch sử sản sinh nhanh, nhưng rồi tàn lụi đi cũng nhanh Bão tố,
lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đói kém,… diễn ra quanh năm, làm cho số phận con người không có gì là bảo đảm, còn đó nhưng rồi mất đó, khỏe mạnh đó nhưng rồi tật bệnh
đó, giàu có đó nhưng nghèo đói đó, phúc đó nhưng rồi họa đó,… Mặt khác, sống dưới chế độ phong kiến tông pháp, đa số người Việt Nam bị bóc lột nặng nề về mặt kinh tế,
bị trấn áp về mặt chính trị, bị đè nén về mặt tinh thần, làm cho cuộc sống của họ luôn
ở trong tâm trạng lo âu, khổ não Tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh tự nhiên và xã hội trên đối với đời sống con người, làm cho một số nhà tư tưởng phải chú ý đến số phận cá nhân con người, phải tìm đến ngọn nguồn của các sự kiện, phải chắp nối các
sự việc với nhau, phải hướng tới một lối thoát Hàng loạt các hiện tượng của sự vật ở trong trạng thái đối lập và thống nhất được đặt ra, như tự do và áp chế, sướng và khổ, sống và chết, họa và phúc, giàu và nghèo, may và rủi,… trở thành những vấn đề thường trực trong tư duy và được lặp đi lặp lại nhiều lần để nghiền ngẫm và khám phá Tư tưởng triết học về số phận của cá nhân con người, do đó được nảy mầm và tăng cường, được trao đi đổi lại để làm cơ sở cho nhân sinh, cho lẽ sống
Ở vào địa đầu của Đông Nam Á, lại nằm trên con đường giao lưu giữa Đông và Tây, giữa Bắc và Nam, Việt Nam luôn là nạn nhân của các cuộc xâm lược của các loại đế quốc Kẻ địch từ gần sang, từ xa tới Việt Nam phải chiến đấu chống lại Tương quan lực lượng của các cuộc chiến tranh luôn ở trong tình trạng bất lợi cho Việt Nam: kẻ địch mạnh, Việt Nam yếu; kẻ địch có số quân nhiều, Việt Nam có số quân ít Bình
Trang 35Mối quan hệ giữa hai loại tư duy trên là mối quan hệ mang tính hữu cơ Ở đó, không khi nào có hiện tượng là chỉ mất đi cái này mà còn lại cái kia Trái lại, chúng luôn tồn tại bên nhau, xoắn xuýt lấy nhau, tác động lẫn nhau làm nên sắc thái của tư duy triết học Việt Nam Tất nhiên, có lúc thì tư duy về số mệnh cá nhân con người nổi lên, có lúc thì tư duy về số phận đất nước nổi lên Cuộc sống cá nhân và cuộc sống của đất nước đã tạo nên tư duy đó và cũng vì vận mệnh của cá nhân con người và vận mệnh của đất nước mà chúng được chăm nom, duy trì bền vững
Trong lịch sử, Việt Nam đã có một số lần tiếp nhận các trào lưu tư tưởng triết học từ bên ngoài vào, nhưng do những tư duy triết học cơ bản của Việt Nam đã hình thành như trên, nên các trào lưu đó không phát triển về phía các hệ phái, về phía các vấn đề như gốc vốn có của nó, mà chỉ xoay quanh hai vấn đề đã có ở Việt Nam và góp phần làm cho chúng sâu sắc hơn, phong phú hơn Ngoài hai vấn đề đó ra, các vấn đề khác của các học thuyết nước ngoài được trình bày trên mảnh đất này chỉ có tính chất giới thiệu, giảng dạy mà thôi
Nếu so với các nền triết học hùng hậu của thế giới thì triết học Việt Nam chưa xuất hiện các vấn đề vũ trụ luận, bản thể luận, nhận thức luận chung, chưa xuất hiện các trường phái triết học, các nhà triết học thực thụ Đây là một hạn chế Tuy vậy, những thành quả trong tư duy triết học về số phận con người và số phận đất nước đã tạo nên một cơ sở để từ đây, con người Việt Nam có thể tiến tới những đỉnh cao của triết học, biến không thành có, biến khả năng thành hiện thực
2 Sự mở cửa hội nhập: cơ hội và thách thức mới đối với triết học Việt Nam
Tư tưởng triết học Việt Nam được ghi trong các văn bản do lịch sử để lại cho thấy có dấu ấn của triết học bên ngoài, như cách diễn đạt, khái niệm, phạm trù,… Đây là điều
Trang 36
không thể phủ nhận Nhưng, không thể dựa vào đó mà kết luận rằng, triết học Việt Nam chỉ là sự bắt chước, sự mô phỏng của triết học nước ngoài Bởi vì bản chất của các tư tưởng được thể hiện trong hình thức đó đã thể hiện lên tâm hồn, bản sắc và năng lực tư duy của người Việt Nam, vì những vấn đề nêu trong đó là của Việt Nam và
sự giải quyết chúng cũng là vì cuộc sống của con người Việt Nam Chỉ có thể nói, nó là kết quả của quá trình nhận thức, suy tư, đúc kết của Việt Nam về sự tác động qua lại giữa con người bản địa với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của họ, là kinh nghiệm được rút ra từ chính cuộc sống vốn luôn gặp các trở ngại và không ngừng khắc phục các trở ngại đó của họ
Mặt khác, cũng phải thấy rằng, thành quả của triết học Việt Nam là do con người Việt Nam học tập, kế thừa được từ các nền triết học khác diễn ra trong quá trình tiếp xúc, hội nhập với khu vực và thế giới Nói như vậy không phải là để hạ thấp mình Vì việc
kế thừa những nền triết học khác để bồi bổ cho sự phát triển triết học của mình là một vấn đề bình thường, mang tính quy luật và có ý nghĩa phổ biến đối với bất cứ một nền triết học nào Ngay cả triết học cổ đại Hy Lạp, một nền triết học điển hình nhất của loài người, cũng đã kế thừa được nhiều yếu tố tư tưởng và khoa học của nền văn minh
Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà để phát triển lên Nhờ có sự tiếp xúc với triết học Ấn Độ và
kế thừa được tư duy biện chứng từ nền triết học này mà triết học Trung Quốc trở nên sâu sắc hơn, toàn diện hơn Là nước đi sau trên lĩnh vực triết học, Việt Nam lại càng cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của phương diện này
Đối với Việt Nam, việc mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới vì lý do trên không phải chỉ diễn ra ở ngày nay, mà đã từng diễn ra nhiều lần trong lịch sử Đặc điểm chung của những lần mở cửa, hội nhập đó là đều gặp phải khó khăn, thử thách, đều có
sự đấu tranh giữa hai chiều hướng tư tưởng là chấp nhận và phản đối, hoặc là từ chối
và cầm cự lâu dài, hoặc là đi đến sự thắng thế của chiều hướng hội nhập Mỗi lần đó đều diễn ra trong một hoàn cảnh riêng, đều có sự đối xử riêng của người trong cuộc và đều tạo nên ý nghĩa riêng
Vào đầu công nguyên, ở Việt Nam đã diễn ra sự đấu tranh và hội nhập giữa tư duy hồn nhiên và chất phác của người Việt bản địa với tư duy siêu hình trong đạo Nho, đạo Lão - Trang và đạo Phật của người Hán Lúc này, Việt Nam nội thuộc Hán Việc truyền bá Nho giáo, Phật giáo và đạo Lão - Trang cho người Việt lúc bấy giờ nằm
Trang 37
trong ý đồ đồng hóa dân tộc Việt của đế quốc Hán, buộc tộc Việt trở thành một bộ phận của dân tộc Hán Ý thức tự chủ của tộc Việt đã khiến người Việt chống lại âm mưu đồng hoá của người Hán Việc hội nhập, do đó, diễn ra một cách khó khăn, kéo dài và mãi đến cuối thời kỳ Bắc thuộc mới có sự tiến triển Và phải đến đầu thời kỳ độc lập, ở thế kỷ X và XI, Nho, Phật, Lão mới thực sự trở thành thế giới quan của người Việt
Cuối thế kỷ XIX, trong xu thế bành trướng về phương Đông của các nước đế quốc phương Tây, nền độc lập của Việt Nam bị uy hiếp Nho, Phật, Lão là nòng cốt của thế giới quan người Việt lúc bấy giờ đã tỏ ra bất lực Người Việt yêu nước đương thời không thể dựa vào thế giới quan này để giải thích cục diện của thế giới mới, nhất là càng không thể dựa vào nó để tạo nên sức mạnh, có thể ngăn chặn được nạn ngoại xâm Có người Việt Nam thấy được hệ thống tư duy làm nên sức mạnh của phương Tây đương thời, đã đề xuất tư tưởng cải cách và kêu gọi cải cách để hội nhập Nhưng
do nhiều nguyên nhân mà triều đình nhà Nguyễn đã từ chối Cơ hội làm cho dân giàu, nước mạnh bị bỏ qua, cơ hội để có thể chống được sự xâm lược của thực dân Pháp cũng tuột mất Việt Nam rơi vào sự thống trị của thực dân Pháp
Vào đầu thế kỷ XX, các phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,… đã
diễn ra ở Việt Nam Về thực chất, đó là các phong trào yêu nước với chủ trương cải cách, đổi mới hệ thống tư duy cũ của dân tộc để hội nhập với tư tưởng của trào lưu Khai sáng Pháp và các tư tưởng tiến bộ khác của Tây Âu đương thời, nhằm qua đó nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí để tiến tới giành độc lập dân tộc Nhưng mục tiêu của các phong trào trên uy hiếp sự thống trị của đế quốc Pháp ở xứ thuộc địa Việt Nam, nên bị cấm đoán Chủ trương hội nhập, do đó, không thành công
Sau nhiều năm đi tìm đường cứu nước ở phương Tây, nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam là Hồ Chí Minh, đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có triết học Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam C.Mác đã từng nói: triết học không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới và ông cũng từng khẳng định rằng, vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực vật chất, nhưng một khi tư tưởng thâm nhập vào quần chúng thì cũng biến thành sức mạnh vật chất Luận điểm trên của C.Mác đã đưa lại cho cách mạng hiện đại
ở Việt Nam một ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ khi có chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và
Trang 38
triết học Mác - Lênin nói riêng, Việt Nam đã tạo ra được sức mạnh phi thường để làm nên kỳ tích: đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người
Lịch sử đã qua của dân tộc cho thấy: hội nhập với các trào lưu tiên tiến của thế giới là một công việc khó khăn, nhiều trở ngại, nhưng một khi vượt qua được để hội nhập và hội nhập thành công thì không những có tác động làm biến đổi hiện thực xã hội theo chiều hướng tích cực, mà còn làm cho tư duy của dân tộc có một bước phát triển mới,
và từ trình độ phát triển mới này của tư duy sẽ đi tới những thành công khác trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn Ngày nay đang là thời điểm đi tới sự hội nhập quốc tế mới của Việt Nam Xu thế này không thể đảo ngược Nhưng sự hội nhập ngày nay không hoàn toàn giống với bất cứ một sự hội nhập nào trong lịch sử Ở đây, có những điều kiện thuận lợi, nhưng đồng thời cũng có những khó khăn, thách thức mới Chủ trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội lần thứ VI đã mở ra thời
kỳ mới cho sự hội nhập quốc tế của Việt Nam Từ đó đến nay, việc đổi mới về mặt kinh tế và thực hiện các liên kết kinh tế quốc tế của Việt Nam đạt được những thành công vang dội Liền theo đó là đổi mới về quan hệ đối ngoại, thực hiện đa phương, đa dạng hóa về ngoại giao cũng thu được những thành tựu rõ rệt Theochiều hướng đó, các hoạt động văn hóa và tinh thần khác ít nhiều đều có sự đổi mới, hội nhập,… Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới nhận thức triết học hiện nay, là cơ hội để hiện đại hóa, phong phú hóa đầu óc tư duy của dân tộc, là dịp để tư duy triết học phát huy được tính chiến đấu và tính cập nhật của mình Trên thực tế, triết học Việt Nam cũng đã có những biểu hiện nhất định của sự hội nhập
Theo xu thế phát triển của thời đại và của dân tộc thì hội nhập phải diễn ra trên cả phương diện tư tưởng triết học Nhưng nhìn về hoàn cảnh xã hội và cục diện chính trị hiện nay của đất nước thì hội nhập về triết học, tư tưởng, xem ra chưa phải lúc Hội nhập hay từ chối đều còn thuộc dạng khả năng Phát triển theo khả năng nào là tùy thuộc vào bản lĩnh con người Việt Nam hiện nay, phụ thuộc vào sự nhận thức và xử lý của họ đối với các vấn đề do thời đại và dân tộc đề ra
3 Nhận thức lại tư duy truyền thống và lựa chọn, kế thừa những giá trị trong tư duy triết học của thế giới - điều kiện để có sự hội nhập tích cực
Thời đại ngày nay là thời đại toàn cầu hóa, trước hết là về mặt hoạt động kinh tế Kinh
Trang 39
tế đã toàn cầu hóa thì trước hay sau, các hoạt động xã hội khác cũng phải đi theo Triết học không phải là một ngoại lệ Dù ai đó không muốn thì xã hội hiện nay vẫn có tác động làm thay đổi nhận thức của con người, vẫn đưa tới bước làm thay đổi vị trí và vai trò của các thế lực xã hội, vẫn tạo ra những nhân tố đi tới xu hướng chấp nhận hội nhập quốc tế Trước xu thế đó của thời đại, con người chỉ có thể chấp nhận và chủ động hội nhập thì bao giờ cũng tốt hơn là làm theo một cách thụ động
Để đạt được kết quả tích cực thì mục đích và nhiệm vụ của hội nhập phải được xác định rõ ràng, phải thấy đây là cơ hội làm giàu cho hệ thống tư duy của đất nước, làm lành mạnh hóa cuộc sống của con người dân tộc, tạo cơ sở để phát huy năng lực tư duy của con người Việt Nam và mở rộng giao lưu với bên ngoài Muốn thực hiện được điều trên không thể không đồng thời tiến hành việc nhận thức lại tư duy truyền thống và thẩm định để kế thừa những giá trị của các nền triết học đương đại của thế giới
Nhận thức lại tư duy truyền thống không phải là để gạt bỏ, mà là một lần nữa xem xét lại giá trị của nó để có những sự loại trừ hoặc bảo lưu, phát huy thích đáng Hiện đang
có những khuynh hướng nhận thức lệch lạc đối với truyền thống, như cho tư duy truyền thống là bảo thủ, lạc hậu; hoặc trái lại, cho tư duy truyền thống đến nay vẫn là tuyệt đỉnh, vẫn còn nguyên giá trị Cả hai khuynh hướng đó đều không phù hợp với thực tế, đều không có lợi cho sự hội nhập
Nho, Phật, Lão là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức, tôn giáo lâu đời ở Việt Nam, gắn với vận mệnh xã hội và con người Việt Nam Hiển nhiên chúng là sản phẩm của
xã hội phong kiến, có yếu tố phong kiến, lỗi thời cần phải gạt bỏ, nhưng những giá trị vượt thời đại của chúng như lòng thương người, nghĩa vụ cứu vớt con người, đề cao trách nhiệm với người khác và với xã hội, coi trọng đạo đức, coi trọng môi trường sống, hoặc triết lý tùy thời mà hành động,… thì cần phải được kế thừa, bảo lưu và hơn thế, còn phải phát huy, truyền bá
Triết học Mác - Lênin được du nhập, tồn tại và phát huy tác dụng ở Việt Nam từ gần một thế kỷ Với tư cách là thế giới quan khoa học và cách mạng, nó đã có vai trò to lớn trong việc đào tạo các thế hệ con người cách mạng Việt Nam So với Nho, Phật, Lão thì nó là mới, nhưng so với yêu cầu hiện đại thì nó đã là truyền thống và cần được đối xử như đối xử với truyền thống, nghĩa là cần được nhận thức lại, cần khẳng định
Trang 40và đời sống đều đã có những bước phát triển vượt bậc, đòi hỏi triết học, dù triết học
đó ưu việt như thế nào, cũng phải phát triển theo Ph.Ăngghen, người cùng với C.Mác sáng lập nên chủ nghĩa Mác, đã nhiều lần nói tới sự phát triển của khoa học và của công nghiệp đòi hỏi sự phát triển tương ứng về mặt triết học Người nói rằng, cái
“thúc đẩy các nhà triết học tiến lên, hoàn toàn không phải chỉ là sức mạnh của tư duy thuần túy, như họ tưởng tượng Cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là bước tiến mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghiệp”(1); đồng thời, khẳng định rằng, “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử - tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó”(2)
Do không đổi mới lý luận nên nhiều nhà nghiên cứu lúng túng trước thực tiễn sinh động, phong phú và đã đi đến đánh mất chức năng xã hội của triết học Trong khi Đảng, Nhà nước và xã hội yêu cầu đẩy mạnh việc nghiên cứu, khảo sát tình hình thực
tế xã hội để phát hiện, đề xuất những căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc hình thành đường lối, chính sách thì họ lại chủ yếu làm công việc thuyết minh, minh họa cho cái
đã có, thậm chí cho cái đang gây cản trở sự phát triển của cuộc sống Họ không những không góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước, mà có khi còn ngăn cản sự đổi mới
Cùng với việc đổi mới tư duy truyền thống dân tộc thì phải coi trọng hội nhập quốc tế với cách làm mới Một mặt, giới thiệu có phê phán toàn bộ các trào lưu triết học hiện