1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY docx

125 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Phát Triển Con Người, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Lực Con Người Trong Công Cuộc Đổi Mới Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này p

Trang 1

MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

Xuất phát điểm của đổi mới là gì, nếu không phải là từ con người, bởi không có sự đổi mới xã hội nào nếu như không có sự đổi mới từ con người Một loạt vấn đề về con người, nhân cách con người, trí tuệ con người, tiềm năng, nguồn lực con người, xây dựng và phát triển con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa Trong phạm

vi bài viết này, chúng tôi muốn giới hạn ở vấn đề xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Thực ra, vấn đề con người không phải là vấn đề mới, không phải đến khi xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta mới bàn đến, mà ngay khi con người có ý thức và khả năng tìm hiểu thế giới xung quanh, con người cũng đồng thời tìm cách giải đáp những bí mật về mình Lịch sử nhân loại, xét đến cùng, là lịch sử giải quyết vấn đề con người và giải phóng con người từng bước thoát khỏi thần quyền và bạo quyền để

đi đến mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện cá nhân trong xã hội văn minh Không một dân tộc nào tồn tại và phát triển lại không chú ý đến con người, chỉ có điều là khác nhau ở mục đích và phương pháp giải quyết mà thôi Thực tiễn đổi mới

ở Việt Nam vừa qua đã chứng minh rằng, không phải bộ máy, cũng không phải khâu

Trang 3

nào khác trong hệ thống chính trị với tầm quan trọng của nó, mà chính là con người với phẩm chất và năng lực nhất định đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh của đổi mới Vì thế, đổi mới không thể thành công, nếu chúng ta không tạo ra được môi trường xã hội thuận lợi để khơi dậy hoạt động sáng tạo của con người Mặt khác, đổi mới cũng chẳng đem lại kết quả gì, nếu chúng ta quay lưng lại với những vấn đề rất

cơ bản của con người

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"; "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa" Tại Đại hội VII, khi xác định con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm của văn hoá là tập trung xây dựng con người và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội VII (năm 1991) đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân lao động làm chủ đất nước;

có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân; công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo

Tại Đại hội VIII, khi đưa ra các phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệ con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Đảng ta đã khẳng định giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (năm 1996) và Hội nghị Trung ương 5 (năm 1998) khoá VIII đều nhấn mạnh những phẩm chất cơ bản của con người mới mà chúng ta cần xây dựng để phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó là những con người phát triển toàn diện cả về đức lẫn tài, trong đó đức là gốc, cả về thể lực lẫn trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ; có kỹ năng lao động giỏi; có ý chí và bản lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX đã khẳng định quyết tâm của toàn Đảng là: tiếp tục triển khai trong thực tiễn quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với tư cách quốc sách hàng đầu; quán triệt sâu sắc hơn nữa ở các cấp, các ngành và trong toàn xã hội về vai trò động lực của các yếu tố văn hoá, xã

Trang 4

hội đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Kế thừa các Đại hội trước, Đại hội X đã chỉ rõ: Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; phát triển nguồn nhân lực; "xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam"(1)

Như vậy, có thể nói, công cuộc đổi mới ở nước ta luôn được đặt ra trong mối quan hệ với việc giải quyết vấn đề con người, lấy con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới Tính chất và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới xã hội phụ thuộc vào tính chất và hiệu quả của việc giải quyết vấn đề con người Song, vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực, giải quyết các vấn đề xã hội bao giờ cũng là vấn đề cơ bản, có tính chiến lược và cần phải được tiến hành một cách nghiêm túc, thận trọng, tránh chủ quan, duy ý chí

Trước đổi mới, với lối suy nghĩ chủ quan, phiến diện, chúng ta đã coi nhẹ vai trò con người và khi nói đến con người, chúng ta chỉ nhấn mạnh về mặt dân số, nguồn lao động, thành phần giai cấp , mà chưa chú ý đầy đủ đến cá nhân, nhân cách con người Với những quan niệm như vậy, trong hoạt động sản xuất, chúng ta chỉ quan tâm đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật của sản xuất, còn con người được xem như là yếu tố lao động đương nhiên, có sẵn trong quá trình sản xuất, đòi hỏi phải

"khai thác" triệt để và có hiệu quả mà không chú ý đến việc chăm sóc, bồi dưỡng, không chú ý đến nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Kết quả là sản xuất không tiến lên được và con người cũng không phát triển được

Hiện nay, mặc dù từ Đại hội VI, con người đã được coi là đối tượng, mục tiêu và động lực của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, nhưng nhận thức này chưa phải đã được thấm nhuần và quán triệt ở mọi cấp trong tổ chức Đảng và chính quyền Phần lớn quần chúng nhân dân chưa nhận thức được đầy đủ vấn đề cấp bách và quan trọng này Trên thực tế, quan niệm về vấn đề con người, chất lượng nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội chưa rõ ràng và còn quá đơn giản Thậm chí, nhiều khi chúng ta chỉ coi đó là những chính sách xã hội và nhân đạo đơn thuần

Trang 5

Việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển thường còn dừng ở định hướng chứ chưa được thể hiện rõ trong hành động cụ thể Vì vậy, trong quá trình phát huy và sử dụng nhân tố con người, vì hạnh phúc của con người, chúng ta vẫn còn vấp phải những thiếu sót sau đây:

- Việc đào tạo, giáo dục và phát triển con người vẫn chưa theo kịp với đòi hỏi của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước Thậm chí, có lúc chúng ta còn chưa lấy việc làm giàu thêm tri thức và nhân cách của con người làm mục đích hoạt động, chỉ biết chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần và do vậy, kết quả thu được chẳng là bao

- Mục tiêu đề ra không chỉ thiếu căn cứ khoa học, mà cả cơ sở thực tiễn và hơn nữa, còn chưa được bảo đảm bằng những chính sách, giải pháp tương ứng

Chính vì vậy, tại Đại hội X, một lần nữa, Đảng ta đã khẳng định, cần phải coi trọng hơn nữa chất lượng nguồn lực con người trong phát triển kinh tế – xã hội, phải thực

sự coi đó là nguồn vốn quý nhất trong tất cả các nguồn vốn của xã hội Thiết nghĩ, điều này phải trở thành suy nghĩ thường trực của mọi người, mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Đi đôi với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta cần phải có một chiến lược phát triển con người Việt Nam đủ tầm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay và cả trong tương lai Ở đây, theo chúng tôi, cần phải giải quyết tốt các vấn đề cơ bản sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,

đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức Tổng kết

20 năm đổi mới, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định"(2) Thật vậy,

trong điều kiện nền kinh tế mà cho đến nay, vẫn trong tình trạng chậm phát triển, để

có được những thành công lớn trong đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu tất yếu Chính tính hợp quy luật đó đã tạo ra địa bàn thuận lợi cho việc phát huy tính chủ động sáng tạo của con người và thực tế hơn

20 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn đó Song, tính biện chứng của quá trình phát triển sản xuất hàng hoá cũng chỉ ra mặt trái của nó - đó là nạn đầu cơ, buôn lậu, nâng giá, ép giá, làm hàng giả Chúng ta không được phép coi nhẹ, mà phải cảnh giác với những tệ nạn này Đồng thời, Nhà nước phải sử dụng chính sách, pháp luật; phải có thể chế phù hợp để điều tiết có định hướng và hạn chế những hiện tượng

Trang 6

tiêu cực, tự phát, chú trọng hơn nữa việc chống lãng phí và tham nhũng Đây là yêu

cầu cần thiết mà chúng ta đã làm và tiếp tục phải làm Đảng ta đã nhấn mạnh: "Phát

triển đồng bộ các loại thị trường và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"(3)

Thực tế cho thấy, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) hiện đang còn sức sống và phát huy tác dụng của nó, đang là động lực cho sự phát triển xã hội Muốn giải quyết vấn đề con người, không thể dừng lại ở sự nỗ lực của từng cá nhân, mà phải tạo ra một chế độ kinh tế vừa có điều kiện phát huy tối đa năng lực cá nhân, vừa định hướng, lôi cuốn tất cả mọi người theo yêu cầu tiến bộ chung của xã hội Vì thế, cần phải thực hiện tốt mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; đồng thời “giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"(4)

Trong thời đại nền văn minh mới, nền văn minh thông tin, muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh lại chính là con người Trong cạnh tranh, mọi sự gian dối tầm thường sẽ bộc lộ, thất bại và cuối cùng, thắng lợi chủ yếu là công nghệ mới, năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả Xã hội tồn tại, phát triển đâu phải bằng lừa dối, đầu cơ, hàng giả , mà bằng trình độ sáng tạo của con người Đây là vấn đề có tính quy luật Có thể nói, trong thế giới ngày nay,

ai tạo ra công nghệ mới, năng lực quản lý mới trên cơ sở phát huy tối đa khả năng sáng

tạo của con người thì người đó thắng Đường lối "đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức"(5) mà Đảng ta đã đưa ra hoàn toàn phù hợp với

xu thế khách quan đó

Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,

phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Ngày nay, khoa học - công nghệ đang tác động mạnh mẽ vào chính cuộc sống con người Thế giới đang đổi thay, phát triển và cạnh tranh quyết liệt, tận dụng thời cơ và những thách đố của thời đại không phải là công việc của riêng quốc gia nào Nhật Bản đã xây dựng 19 thành phố công nghệ rải rác khắp đất nước với ý định dẫn đầu

Trang 7

loài người vào làn sóng văn minh mới Hoa Kỳ đang cố níu lại vị trí siêu cường quốc

về kinh tế của mình bằng mọi cách, kể cả thủ đoạn sử dụng vũ lực quân sự Các nước thuộc Cộng đồng kinh tế châu Âu đang cố gắng bứt lên trong cuộc cạnh tranh quyết liệt để sánh ngang với Nhật Bản và Mỹ Các "con rồng châu Á” tuy "đi sau", nhưng cũng đã làm được những điều phi thường về kinh tế Tất cả những quốc gia này đã làm nên những điều kỳ diệu trong phát triển kinh tế - xã hội nhờ sớm nhận thức được vai trò của tri thức và triệt để khai thác kho tài nguyên vô tận này

Triết lý kinh doanh lấy công nghệ làm trung tâm như trước đây không còn đúng nữa,

mà giờ đây đã chuyển sang một bước ngoặt mới - đó là triết lý kinh doanh coi con người là trung tâm, quyền ưu tiên được giành cho con người ở khía cạnh tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao động của nó

Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục phải được coi là đầu tư cơ bản, đầu tư cho tái sản xuất sức lao động, đầu tư cho tương lai Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nước trong

kế hoạch phát triển đất nước đã đặt giáo dục vào hệ thống ba chiến lược: giáo dục, khoa học và mở cửa

Thực tiễn lịch sử, nhất là trong thời đại ngày nay, đã chứng minh rằng, trong tất cả các yếu tố tạo nên sự thành công của các nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục - đào tạo Từ Nghị quyết Đại hội VII, Đảng ta đã coi giáo dục - đào tạo là

“quốc sách hàng đầu" Tại Đại hội Đảng VIII, Đảng đã đưa ra các phương hướng chủ yếu để phát triển trí tuệ con người Việt Nam trên các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII, Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục - đào tạo trong giai đoạn cách mạng mới Tại Đại hội IX, Đảng tiếp tục khẳng định đường lối phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nhấn mạnh việc quán triệt quan điểm coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến

cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục - đào tạo Gần đây, tại Đại hội X, khi khẳng định chúng ta đã "tạo được chuyển biến cơ bản về phát triển giáo dục và đào tạo", "phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ", một

lần nữa, Đảng ta nhấn mạnh đường lối “đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, trên cơ sở “nâng cao chất lượng giáo dục toàn

Trang 8

diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”(6)

Ba là, từng bước hoàn thiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền

làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực

Dân chủ là vấn đề cơ bản của hệ thống chính trị và toàn bộ hoạt động của đời sống

xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, người lao động hoạt động không phải chỉ với tư cách người công dân, mà còn với tư cách người chủ tư liệu sản xuất Do đó, đặc điểm dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn có sự thống nhất giữa quyền công dân và quyền làm chủ

xã hội của người chủ tư liệu sản xuất "Dân là gốc", tất cả là do dân, vì dân, quyền lực của dân là tối cao Hoạt động của Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo là theo xu hướng tất yếu đó Đây là điểm xuất phát để chúng ta từng bước xây dựng hệ thống chính trị với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Đó không phải chỉ là hoạt động của những công dân, mà chính là hoạt động của người chủ xã hội Tuy nhiên, mở rộng dân chủ phải đi đôi với xây dựng kỷ cương, kỷ luật Nhà nước sẽ

tự mình làm tan rã mình, nếu không hoạt động trên cơ sở pháp luật Điều nguy hiểm

là các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực của mình mà không có pháp luật hoặc không thông qua pháp luật Một thời gian trước đây, trong lãnh đạo hoạt động xã hội cũng như trong cuộc sống từng người dân, chúng ta còn có quá nhiều mặt không được pháp luật bảo vệ, việc vi phạm dân chủ đã trở thành hiện tượng phổ biến Có thể nói, người phá kỷ cương trước nhất, người vi phạm kỷ cương lớn nhất không ai khác ngoài những người thoái hoá, biến chất trong các

cơ quan nhà nước có trách nhiệm thi hành và bảo vệ pháp luật Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất lòng tin và gây nên sự công phẫn của dân với nhiều cơ quan và không ít cán bộ nhà nước Đổi mới là một quá trình cải biến cách mạng nhằm khắc phục những hiện tượng trên, đồng thời từng bước phá bỏ những lực cản trong xã hội và trong mỗi con người Do vậy, cần phải có những hình thức tổ chức, cơ chế hợp lý và tiến bộ góp phần vào xây dựng Nhà nước để Nhà nước ta thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân, để khi con người được đặt trong cơ chế đó thì quyền tự do dân chủ của họ được thực hiện trong thực tế

Và, chính cơ chế đó sẽ thu hút quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội,

Trang 9

tham gia kiểm kê, kiểm soát số lượng lao động, sản xuất và phân phối sản phẩm

Ở đây, quan hệ lợi ích và quan hệ dân làm chủ gắn bó với nhau tạo thành quan hệ sống còn đối với chế độ Nếu dân không làm chủ, xa lạ chế độ, mất lòng tin, đứng ngoài trông chờ, thì khủng hoảng là không tránh khỏi

Bốn là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy đảng và

nhà nước

Việc con người có thể phát huy mạnh mẽ năng lực hành động tự do, sáng tạo đến đâu phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội Nhưng, trong hiện thực cụ thể, điều ấy phụ thuộc trực tiếp, trước tiên vào tổ chức hoạt động của bộ máy chính trị Do vậy, việc xây dựng bộ máy chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Ở đây, đấu tranh chống tham nhũng làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước đang là yêu cầu cấp bách Những năm gần đây, chúng ta có không ít chỉ thị, nghị quyết và các cuộc vận động trong Đảng, trong nhân dân về đấu tranh chống tham nhũng Thế nhưng, tình hình chuyển biến còn chậm, nạn tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; "nhiều tổ chức cơ sở đảng bị tê liệt, thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo để giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh"(7) Không hiếm cán bộ suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức vẫn được "tín nhiệm", được tham gia các cơ quan lãnh đạo, quyền lực Phần lớn những vụ việc tiêu cực nghiêm trọng không do tự các tổ chức đảng phát hiện, phanh phui, mà do công luận và cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện

Đó là một nguy cơ lớn Bài học của những cuộc khủng hoảng ở các nước Đông Âu,

sự tan rã của Đảng và Nhà nước Liên Xô vừa qua cho thấy, các thế lực thù địch trong

và ngoài nước đã lợi dụng sự tha hoá của cán bộ, đảng viên, sự quan liêu của bộ máy nhà nước để tách dân với Đảng Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp dẫn đến sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội Phải chăng, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, mất nước do kẻ thù xâm lược nhiều khi khó hơn là tự ta để mất chế độ chỉ vì mất lòng dân Do vậy, cần phải đánh giá sâu sắc hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng chứ không chỉ của một bộ phận cán bộ, đảng viên Cần nghiêm túc xem xét lại cơ chế đánh giá, đề bạt cán bộ hiện nay, bởi ở đây vẫn còn có kẽ hở tạo ra tình trạng chạy chức,

Trang 10

chạy quyền Phải chăng, tình trạng giảm sút sức chiến đấu một cách phổ biến là do sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân, do nhận thức chính trị không được nâng cao trong Đảng

Do vậy, để từng bước đạt được kết quả trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy đảng, nhà nước, cần giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, phải kiên quyết làm nghiêm từ trong Đảng ra, từ trên xuống và phải xử lý

kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật các vụ việc, nhất là các vụ nghiêm trọng, không phân biệt kẻ vi phạm ở cương vị cấp bậc nào Cần phải "xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai theo kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với những cán bộ, công chức tham nhũng, bao che cho tham nhũng, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của nhân dân, dù người đó ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu"(8) Đây là khâu đột phá, có thể lâu nhưng cần phải làm và quyết tâm làm bằng được Chỉ

có thế, chúng ta mới tạo ra hiệu quả chính trị xã hội lớn nhất và nhanh nhất

Thứ hai, kiên quyết xóa bỏ cách thức tổ chức bộ máy khiến cho cán bộ, đảng viên trở

thành tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, tách rời quần chúng Bởi cách tổ chức bộ máy cũ

mà chủ yếu là cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp tạo điều kiện cho bất cứ

ai khi có một vị trí nào đó trong bộ máy nhà nước mà mất cảnh giác thì có thể đặc quyền, đặc lợi Có người đã sử dụng cương vị của mình như là của riêng "tư hữu quyền lực" và tự ban cho mình cái quyền đứng trên tổ chức, sống ngoài vòng pháp luật Đặc quyền trong Đảng là tiền đề để có đặc quyền trong bộ máy nhà nước, khi mà

sự khôn ngoan trở thành âm mưu, thông minh trở thành lưu manh chính trị, chức quyền trở thành công cụ của chủ nghĩa cá nhân Chính đặc quyền, đặc lợi đã phá vỡ công bằng xã hội Nó là kẻ thù gây cho chúng ta thương vong nặng nhất trong thời bình, làm giảm niềm tin của quần chúng Vì thế, cần phải thay đổi cách thức tổ chức

bộ máy để xoá bỏ tệ nạn đặc quyền, đặc lợi, từ đó gắn bó mật thiết với quần chúng, phục vụ quần chúng Đồng thời, cần phải "xây dựng hệ thống chính sách phân phối thu nhập xã hội và chế độ đãi ngộ công bằng, hợp lý", "tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và của cả hệ thống chính trị"(9) Tuy nhiên, đây là một công việc phải được tiến hành một cách công phu, kiên trì, liên tục và quyết tâm cao Bởi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, cái mới và cái cũ, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân Kinh nghiệm cho

Trang 11

thấy, chiến thắng tiêu cực ở người khác, ngoài xã hội tuy đã khó, nhưng còn dễ hơn nhiều việc chiến thắng tiêu cực của chính mình

Thứ ba, đẩy mạnh việc giáo dục và tự giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng

viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng Không phải cứ tăng trưởng kinh tế là đạo đức cách mạng tự động được nâng lên; không phải cứ đời sống vật chất được cải thiện thì mọi tiêu cực về mặt đạo đức, sự sa đoạ về lối sống, sự xuống cấp về đạo đức tự nhiên được khắc phục Do vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải đẩy mạnh việc giáo dục, cũng như tự giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Phải đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức Việc giáo dục phải được thực hiện theo nhiều kênh, nhiều biện pháp, nhiều hình thức kết hợp với phương tiện thông tin đại chúng khác nhau Phải phát huy cao độ vai trò tích cực, chủ động của từng cấp uỷ, từng chi bộ Đi đôi với giáo dục đạo đức cách mạng thì mỗi cán bộ lãnh đạo, quản

lý phải luôn tự mình trau dồi, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, phải từng bước khắc phục chủ nghĩa cá nhân Bởi chính chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh tham nhũng, quan liêu cũng như sự sa đoạ về đạo đức và lối sống

Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng và các cơ quan thông tin đại

chúng trong giám sát và đấu tranh chống tham nhũng "Quần chúng nhân dân là tai mắt, là thiên la địa võng" Hầu hết các hiện tượng, các vụ tham nhũng, buôn lậu được phát hiện và xử lý thời gian qua là do nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng phát hiện Công tác chống tham nhũng luôn đòi hỏi phải đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thông tin, nhấn mạnh tính công khai, phát huy vai trò thanh tra nhân dân Kết hợp sức mạnh tổng hợp của các lực lượng chống tham nhũng, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia kiểm kê, giám sát tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý lao động xã hội và phân phối sản phẩm Không phải là ngoại lệ, tham nhũng ở nước ta hiện nay vẫn là biểu hiện sự tha hoá của Nhà nước, cho dù chỉ là một bộ phận công chức nhà nước tham nhũng Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là về kinh tế, tài chính; về cơ chế, giải pháp phòng ngừa; cơ chế giám sát, phản biện của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân"(10) Vì vậy, cuộc đấu tranh chống tham nhũng luôn mang tính chính trị trực tiếp, có ý nghĩa quyết định thành công trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 12

Tất cả vì hạnh phúc của con người - đó là mục tiêu phấn đấu của cả nhân loại từ xưa đến nay Nó chi phối tâm tư, khát vọng của mỗi con người và không một trào lưu triết học nào, không một loại hình tôn giáo nào, không một xu hướng nghệ thuật nào là không đề cập đến điều đó Cái khác của chủ nghĩa Mác với các tư tưởng trên là ở chỗ khẳng định hạnh phúc của con người phải do chính con người giành lấy, con người là

"thượng đế của bản thân mình" C.Mác đã khẳng định như vậy Đổi mới ngày nay không chỉ làm ra và đem lại cho con người những điều con người mong muốn, mà chủ yếu là khơi dậy trong con người lòng tự hào, niềm tin, ý chí và nhiệt tình cách mạng

để con người tự mình làm ra tất cả Đây cũng là quá trình để con người tiếp cận và từng bước đi vào quỹ đạo của con đường tiến hoá chung của nhân loại là tiến tới sự quay trở lại tuyệt đối, tự giác và có bảo toàn tất cả các vốn phong phú của sự phát triển đã đạt được, sự quay trở lại của con người với chính bản thân mình.r

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.106

Trang 13

sự hình thành và phát triển như một tất yếu khách quan của chủ nghĩa xã hội Theo tác giả, nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phải nghiên cứu sâu và cụ thể hoá hơn nữa các nguyên lý chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng và phát triển sáng tạo triết học Mác để giải quyết những vấn đề mà thời đại đặt ra cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới

Trong Lễ an táng C.Mác, khi đánh giá công lao vĩ đại của C.Mác đối với sự phát

triển của nhân loại, Ph.Ăngghen đã viết: “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái

sự thật đơn giản đã bị những tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay là: con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v.v được; vì vậy, việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta, cho nên phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái này, chứ không phải ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã làm

Nhưng không phải chỉ có thế thôi Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và của xã hội tư sản do phương thức

đó đẻ ra Với việc phát hiện ra giá trị thặng dư trong lĩnh vực này thì lập tức một ánh sáng đã hiện ra trong khi tất cả các công trình nghiên cứu trước đây của các nhà kinh

tế học tư sản cũng như của các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa vẫn đều mò mẫm trong bóng tối”(1)

Ph.Ăngghen coi đó là hai phát minh vĩ đại của C.Mác - quan niệm duy vật về lịch

sử và học thuyết giá trị thặng dư (2) Vấn đề đặt ra là, nội dung của quan niệm duy

Trang 14

vật lịch sử gồm những gì và việc phát hiện ra quan niệm đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung?

Triết học Mác, như chúng ta đều biết, bao gồm 2 bộ phận có mối liên hệ hữu cơ với

nhau, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi

là quan niệm duy vật về lịch sử) Chủ nghĩa duy vật biện chứng được hiểu là khoa học về các quy luật vận động và phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và của tư duy con người; còn chủ nghĩa duy vật lịch sử là bộ môn khoa học nghiên cứu các quy luật vận động và phát triển của xã hội với tư cách một chỉnh thể Vì vậy, nếu các môn khoa học xã hội chuyên ngành, như kinh tế học, luật học, sử học, xã hội học nghiên cứu từng mặt khác nhau của đời sống xã hội, thì chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu toàn bộ xã hội như một chỉnh thể thống nhất Các quy luật xã hội mà nó nghiên cứu là những quy luật tác động trong tất cả hoặc trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội

Các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử được C.Mác trình bày ở nhiều

tác phẩm khác nhau, nhưng tập trung nhất là trong Góp phần phê phán khoa kinh tế

chính trị Lời tựa Chúng ta có thể tóm tắt lại những nguyên lý đó trong một số điểm

sau đây:

Thứ nhất, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, chứ không phải ngược lại - ý thức

xã hội quyết định tồn tại xã hội

Thứ hai, phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt

xã hội, chính trị và tinh thần nói chung

Thứ ba, trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ

nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực mà trên đó, dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị cùng với những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực ấy

Thứ tư, tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã

hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất ấy - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó, từ

Trang 15

trước đến nay, các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội

Thứ năm, cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũng đảo lộn ít

nhiều nhanh chóng Khi xem xét những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng cần phân biệt cuộc đảo lộn vật chất trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết

Thứ sáu, không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng

sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ

Thứ bảy, về đại thể, có thể coi phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư

sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội

Thứ tám, các quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình

sản xuất xã hội, đối kháng không phải với ý nghĩa là đối kháng cá nhân, mà với ý nghĩa là đối kháng nảy sinh từ những điều kiện sinh hoạt xã hội của các cá nhân; nhưng những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy Cho nên, với hình thái xã hội tư sản, thời kỳ tiền sử của xã hội loài người đang kết thúc(3)

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đem lại cho triết học một quan niệm vừa duy vật, vừa biện chứng về lịch sử; đã kết hợp một cách hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng Đó chính là một trong những ý nghĩa thời đại mà C.Mác đã đóng góp cho nhân loại Điều đó thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, theo cách giải thích của V.I.Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử chính là sự

vận dụng triệt để những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực các hiện tượng xã hội

Sự vận dụng triệt để nguyên lý của chủ nghĩa duy vật được thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối

Trang 16

quan hệ giữa vật chất và ý thức để nghiên cứu và giải thích sự phát triển xã hội Vật chất trong lĩnh vực xã hội được chủ nghĩa duy vật lịch sử quan niệm là tồn tại xã hội, còn ý thức trong lĩnh vực xã hội là ý thức xã hội

Tồn tại xã hội bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, song yếu tố quan trọng nhất

là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là yếu tố quyết định nhất trong tồn tại

xã hội, bên cạnh các yếu tố cấu thành khác làhoàn cảnh địa lý và mật độ dân số

Trên thực tế, trong lịch sử triết học, có học thuyết nhấn mạnh quá mức vai trò của yếu tố địa lý, đồng thời cũng có học thuyết nói đến vai trò quyết định của yếu tố dân

số đối với sự phát triển xã hội Trái với các học thuyết đó, trong khi không coi nhẹ

vai trò của yếu tố địa lý và dân số, chủ nghĩa duy vật lịch sự khẳng địnhvai trò quyết

định của phương thức sản xuất

Mỗi phương thức sản xuất nhất định trong lịch sử là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, là sự thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất và người lao động Người lao động sử dụng tư liệu sản xuất hiện có, trước hết là công cụ lao động, để tác động vào tự nhiên và qua đó, tạo ra toàn bộ của cải vật chất, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Còn quan hệ sản xuất được quan niệm là mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, được biểu hiện trên ba phương diện: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định và chi phối Chính vì vậy, trong các yếu tố cấu thành tồn tại xã hội, phương thức sản xuất là yếu tố quan trọng nhất, còn các yếu tố khác là tiền đề và điều kiện cho sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất

Ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội ở hai trình độ: tâm lý xã hội và hệ tư

tưởng; đồng thời, nó còn được biểu hiện dưới các hình thái cơ bản khác, như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học và triết học

Nếu như chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận rằng, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, còn ý thức là cái có sau và là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao

là bộ óc con người; là sự phản ánh tự giác thế giới vật chất vào trong bộ óc con người, đồng thời có tác động tích cực trở lại đối với sự tồn tại và phát triển của thế

Trang 17

giới vật chất thì chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định rằng, tồn tại xã hội có trước và quyết định ý thức xã hội; ý thức xã hội là cái có sau và là sự phản ánh tự giác, tích cực ít nhiều tồn tại xã hội; nó có tính độc lập tương đối và đặc biệt là, thông qua hoạt động của con người, có tác động trở lại tồn tại xã hội Với tính chất này, ý thức xã hội có thể đóng vai trò đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội

Song, chủ nghĩa duy vật lịch sử không dừng lại ở việc lý giải nguyên lý chung về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mà còn đi sâu phân tích kết cấu của

xã hội, xác định vị trí, vai trò của từng yếu tố cấu thành xã hội, đồng thời xem xét

mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố đó Với việc ra đời của khái niệm hình thái

kinh tế - xã hội, C.Mác đã cung cấp cho khoa học xã hội cách tiếp cận mới khi

nghiên cứu về xã hội Sự thay thế khái niệm xã hội nói chung bằng khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cho phép chúng ta hình dung rõ các yếu tố cấu thành xã hội, các giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời thấy được nguyên nhân vận động và phát triển của xã hội nói chung Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội là khái niệm dùng để chỉ xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định tương ứng với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó và một kiểu kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Nhưng, kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho một xã hội bao giờ cũng tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, do lực lượng sản xuất đó quy định Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là

một quá trình lịch sử - tự nhiên

Trong hình thái kinh tế - xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở

hạ tầng (bao gồm tổng thể các quan hệ sản xuất) có vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng (bao gồm hệ tư tưởng, các thể chế và các quan hệ tương ứng - cái được thiết lập trên cơ sở hạ tầng đó Tuy nhiên, kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và có tác động ngược trở lại đối với cơ sở hạ tầng Đây chính là điểm mà C.Mác đã nói đến khi khẳng định rằng, “cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”

Thứ hai, với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nguyên lý của phép biện

chứng cũng được áp dụng triệt để vào việc xem xét và lý giải sự phát triển của xã hội

Trang 18

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mỗi hiện tượng, quá trình xã hội đều có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các hiện tượng, quá trình khác của cả tự nhiên, xã hội lẫn tư duy con người Đây chính là sự vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng vào xem xét xã hội

Cùng với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển cũng được chủ nghĩa duy vật lịch sử vận dụng để xem xét sự phát triển của xã hội Nếu như phép biện chứng cho rằng, tự nhiên là một quá trình (Hêghen), mọi sự vật, hiện tượng luôn ở trong quá trình vận động và phát triển thì chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định rằng, xã hội nói chung cũng như mỗi hiện tượng xã hội nói riêng đều ở trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng Toàn bộ lịch sử vận động

và phát triển của xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế -

xã hội mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội sau bao giờ cũng là một sự phát triển cao hơn hình thái kinh tế - xã hội trước đó Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng Về đại thể, như C.Mác đã viết, có thể coi phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội

Đồng thời, chủ nghĩa duy vật lịch sử còn chỉ ra nguồn gốc sâu xa của sự phát triển xã hội là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong lòng của xã hội, trước hết là

sự đấu tranh giữa lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, đang kìm hãm sự phát triển của nó Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì sự đấu tranh giữa lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất cũ được thể hiện thành cuộc đấu tranh giữa giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất mới và giai cấp đại diện cho quan

hệ sản xuất cũ Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng sẽ dẫn đến cách mạng xã hội, tức là dẫn đến bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển của xã hội

Cách mạng xã hội có nhiệm vụ cải tạo một cách căn bản toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là lĩnh vực kinh tế và chính trị Trong lĩnh vực kinh tế, cách mạng xã hội có nhiệm vụ giải quyết sự xung đột giữa lực lượng sản xuất mới và quan

hệ sản xuất cũ nhằm thay thế quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn với lực lượng sản xuất mới Trong lĩnh vực chính trị, cách mạng xã hội

có nhiệm vụ giải quyết sự xung đột giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, thay thế chính quyền nhà nước cũ bằng chính quyền nhà nước mới Phương thức để thay

Trang 19

thế nhà nước cũ bằng nhà nước mới là cách mạng bạo lực, bởi nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, đồng thời là công cụ, là lực lượng trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác

Kết quả của các cuộc cách mạng xã hội đã dẫn đến sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn Tất cả các hình thái kinh tế - xã hội đã thay thế nhau trong lịch sử tạo nên chuỗi phát triển tiến bộ của xã hội loài người Tuy nhiên, các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong lịch sử vẫn chỉ là những nấc thang nhất thời trên con đường phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao, như Ph.Ăngghen đã khẳng định mà thôi(4)

Bên cạnh ý nghĩa đối với triết học, sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử còn là cơ sở

lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Trong bài Các Mác (1877),

Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học đã được xây dựng dựa trên hai phát minh vĩ đại của C.Mác mà một trong hai phát minh đó là quan niệm duy vật

về lịch sử (hay chủ nghĩa duy vật lịch sử)

Đánh giá về lý luận chủ nghĩa xã hội trước C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng, “chủ nghĩa

xã hội cũ không thể phù hợp với quan niệm duy vật lịch sử ấy, cũng giống như quan niệm về tự nhiên của những nhà duy vật Pháp không thể phù hợp với phép biện chứng và khoa học tự nhiên cận đại Chủ nghĩa xã hội trước kia tuy có phê phán phương thức sản xuất tư bản hiện có và những kết quả của phương thức ấy, nhưng không thể giải thích được phương thức sản xuất ấy và vì thế cũng không đánh đổ được phương thức sản xuất ấy; nó chỉ có thể tuyên bố một cách đơn giản rằng phương thức ấy là vô dụng Chủ nghĩa xã hội trước kia càng phẫn nộ đối với sự bóc lột không thể tránh khỏi mà giai cấp công nhân phải chịu trong phương thức sản xuất ấy thì nó lại càng không thể vạch rõ cho thấy rằng sự bóc lột ấy là ở chỗ nào và do đâu mà có"(5)

Do đó, theo Ph.Ăngghen, vấn đề đặt ra là, một mặt, cần trình bày phương thức sản

xuất tư bản chủ nghĩa trong mối liên hệ lịch sử của nó, trong tính tất yếu của sự sinh

thành, phát triển và tiêu vong của nó,nhưng mặt khác, cũng phải vạch trần tính chất

bên trong, vẫn còn ẩn giấu của phương thức sản xuất ấy Cả hai điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ ý nghĩa của quan niệm

Trang 20

duy vật về lịch sử đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

Theo quan niệm duy vật về lịch sử, sản xuất và trao đổi là cơ sở của mọi chế độ xã hội; trong mọi xã hội đã từng xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối ấy, - sự phân chia xã hội thành giai cấp, đẳng cấp, - bị quy định bởi những cái được sản xuất ra, bởi cách thức sản xuất và trao đổi những vật phẩm đã được sản xuất ra đó Chính vì vậy, "phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta ,

mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần

phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của

thời đại tương ứng"(6)

Có thể khẳng định rằng, trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế

- xã hội là một trong những nền tảng lý luận quan trọng của lý luận về chủ nghĩa xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen Theo học thuyết đó, sự vận động của mâu thuẫn cơ bản của xã hội, như trên đã trình bày, bắt nguồn từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, thượng tầng kiến trúc phải phù hợp với hạ tầng cơ sở; trong đó, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất Sự phát triển của xã hội trước hết được thể hiện ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất Điều đó có nghĩa là, bất kỳ sự thay đổi nào trong quan hệ sản xuất đều là kết quả tất yếu của việc quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp, trở thành xiềng xích trói buộc sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó chính là cơ sở và quy luật khách quan để khẳng định chủ nghĩa tư bản tất yếu phải được thay thế bằng một xã hội mới, phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn

Còn trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đó

là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong các xã hội có giai cấp Trong xã hội tư bản, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Do đó, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là kết quả của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản Đó cũng là một tất yếu lịch sử

Trang 21

Như vậy, quan niệm duy vật về lịch sử đã chỉ ra xu hướng khách quan và các động lực phát triển của xã hội loài người, trong đó chủ nghĩa tư bản với tư cách một hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một giai đoạn phát triển của lịch sử và nó tất yếu sẽ bị thay thế bởi một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn; trong đó, học thuyết giá trị thặng dư bóc trần bí mật của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thông qua bóc lột giá trị thặng dư, đồng thời vạch rõ địa vị và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản - người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản Xuất phát từ hai phát hiện ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra

kết luận rằng, sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều

là tất yếu như nhau; cũng như vậy, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ phải bị thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản

Kết luận trên đây là một kết luận khoa học và chính nó tạo nên cái cốt lõi của lý luận

mácxít về chủ nghĩa xã hội Không phải ngẫu nhiên mà sau này, trong Chống

Đuyrinh và trong Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học,

Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng, "hai phát hiện vĩ đại ấy - quan niệm duy vật về lịch sử

và việc dùng giá trị thặng dư để bóc trần bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa - là

công lao củaMác Nhờ hai phát hiện ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học

mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối

liên hệ của nó"(7) (chúng tôi nhấn mạnh – P.V.Đ)

Nhận xét trên đây cho thấy, khi nói tới tính chất khoa học của lý luận mácxít về chủ nghĩa xã hội, Ph.Ăngghen muốn nói trước hết tới cơ sở khoa học của lý luận ấy và

của kết luận cơ bản mà nó đi tới - kết luận về sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản - là hai phát minh trên đây Còn chủ nghĩa cộng sản ấy sẽ như thế nào, “mọi chi tiết và mọi mối liên hệ” của nó, v.v trong tương lai sẽ ra sao thì, theo Ph.Ăngghen, đó là công việc sẽ còn phải tiếp tục nghiên cứu Vấn đề đặt ra

là, dựa trên cơ sở nào mà C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu xã hội mới trong mọi

chi tiết và mối liên hệ của nó

Ngay từ năm 1843, bản thân C.Mác đã ý thức được rất rõ ràng rằng: "Chúng ta không

cố đoán trước về tương lai một cách giáo điều, mà chỉ mong tìm ra cái thế giới mới qua sự phê phán thế giới cũ Song nếu việc cấu tạo tương lai và tuyên bố dứt khoát những quyết định in sẵn cho tất cả mọi thời kỳ sắp đến không phải là việc của chúng

ta, thì chúng ta càng biết rõ là mình cần phải làm gì trong hiện tại, - tôi nói đến sự phê

Trang 22

phán thẳng tay toàn bộ cái hiện tồn, thẳng tay theo hai nghĩa: sự phê phán này không

sợ những kết luận của mình và không lùi bước trước sự đụng độ với những cơ quan cầm quyền"(8)

Vào năm 1917, tức 74 năm sau, V.I.Lênin cũng đặt lại vấn đề căn cứ để dự đoán về

những đặc trưng của xã hội mới V.I Lênin viết: "Xuất phát từ những căn cứ nào, mà

có thể đặt vấn đề sự phát triển tương lai của chủ nghĩa cộng sản tương lai?

Xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên,

trong quá trình lịch sử, từ chủ nghĩa tư bản, là kết quả của sự tác động của một lực

lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sinh ra Trong tài liệu của Mác, người ta không thấy

mảy may một ý định nào nhằm bịa ra những ảo tưởng, nhằm đặt ra những dự đoán vu

vơ về những điều mà người ta không thể nào biết được Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn, vấn đề tiến hoá của một giống sinh vật mới, một khi đã biết nguồn gốc của nó và định được rõ rệt hướng của những biến đổi của nó"(9)

Điều đó hoàn toàn dễ hiểu Bởi lẽ, cho đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen qua đời, chủ nghĩa xã hội vẫn chưa tồn tại trong hiện thực Những điều mà các ông nói về chủ nghĩa xã hội là kết quả rút ra từ sự nghiên cứu xã hội tư bản - một xã hội đang tồn tại, chứ không phải là kết quả nghiên cứu được rút ra trên cơ sở phân tích chính các sự kiện của xã hội tương lai ấy Chính vì thế, với một thái độ khoa học, nghiêm túc, thận trọng, khi nói tới các đặc trưng của xã hội tương lai, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ khẳng

định những đặc trưng ấy như những cái có thể xẩy ra mà thôi(10) Điều đó cũng tương

tự như nói về các giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa và khả năng phát triển

“rút ngắn” của các nước chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Vì là những dự đoán về cái có thể xảy ra, nên lúc sinh thời, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng thường xuyên điều chỉnh các dự đoán của mình Chẳng hạn,

trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói đến 10 biện pháp để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở riêng những nước tiên tiến nhất (chứ

không phải đối với tất cả các nước) Tuy nhiên, các ông cũng thận trọng coi đó là

những biện pháp sẽ có thể được áp dụng khá phổ biến, chứ không phải là những biện pháp dứt khoát phải áp dụng như nhau ở mọi nơi, mọi lúc

Trang 23

Hơn hai mươi năm sau, trong Lời tựa viết cho lần xuất bản bằng tiếng Đức (năm

1872) Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhắc lại và nhấn

mạnh rằng, không nên quá câu nệ vào những biện pháp đó và nếu ngày nay được viết lại đoạn nói về 10 biện pháp ấy thì về nhiều mặt, phải được viết khác đi

Vậy, cái đảm bảo cho tính khoa học, cho độ tin cậy của các kết luận và các tiên đoán của C.Mác về xã hội tương lai là gì? Từ sự phân tích nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử và ý nghĩa của nó, chúng ta có thể khẳng định rằng, cái đảm bảo cho tính khoa học và độ tin cậy của các dự đoán của C.Mác và Ph.Ăngghen về xã hội tương lai chính là việc phân tích sự vận động và phát triển của xã hội loài người nói chung và

xã hội tư bản nói riêng để từ đó, suy ra kết quả tác động của các quy luật đang chi phối sự vận động và phát triển của xã hội tư bản đương thời

Tuy nhiên, vì là những tiên đoán về tương lai, dựa trên xu hướng phát triển của sự vật,

về cái sẽ có trong tương lai nên những nội dung cụ thể đó của nó sẽ như thế nào còn

tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và sự biến đổi của hoàn cảnh trong tương lai Do vậy, tính chân lý của của những dự đoán về các nội dung cụ thể của xã hội tương lai vẫn phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn Bởi vì, xét đến cùng, thực tiễn, theo quan điểm của triết học Mác, là tiêu chuẩn cơ bản để kiểm nghiệm chân lý

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 của thế kỷ trước, không ít người vốn tin theo triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung

đã đi đến nghi ngờ tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trực tiếp là học thuyết

về hình thái kinh tế - xã hội

Thực tiễn những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI không hề phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa duy vật lịch sử; trái lại, càng khẳng định tính đúng đắn và khoa học của nó Theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà chúng tôi đã trình bày ở trên, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX là một tất yếu Đó là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể về chủ nghĩa xã hội Thay vì cần tạo ra một phương thức sản xuất tiên tiến hơn so với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mô hình đó lại chứa nhiều khuyết tật; hơn nữa, các khuyết tật này lại không sớm được nhận thức và khắc phục kịp thời Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra rộng khắp trên toàn thế giới đang chứng minh luận điểm của C.Mác coi sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử - tự

Trang 24

Bên cạnh đó, sự thành công của công cuộc cải cách, mở cửa, đổi mới ở Trung Quốc

và Việt Nam cũng bổ sung thêm những chi tiết mới vào con đường, cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội đối với những nước thực hiện bước quá độ “rút ngắn”, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; đồng thời, khẳng định kiên trì chủ nghĩa Mác không có nghĩa là áp dụng một cách nguyên xi, máy móc, mà là vận dụng một cách khoa học và sáng tạo những tư tưởng của các ông trong điều kiện lịch sử mới Chính sự sáng tạo trong vận dụng, sự bổ sung và hoàn thiện những nguyên lý chủ nghĩa Mác cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới của thời đại là con đường đúng đắn

để bảo vệ chủ nghĩa Mác, để kiên trì đi theo chủ nghĩa Mác Đó cũng là một nhiệm vụ cấp bách đang đặt ra cho những người làm công tác lý luận ở nước ta hiện nay

Liên quan đến nhiệm vụ này, vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều học giả đã nhắc tới học thuyết về các nền văn hoá và văn minh Trong số đó, một số người đã coi nó là một lý thuyết khoa học và có thể thay thế cho cách tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội của C.Mác Công bằng mà nói, học thuyết về các nền văn hóa, văn minh có nhiều điểm đáng được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, chúng ta có thể thấy, trong khi coi trọng vai trò quyết định của nhân

tố kinh tế, C.Mác không hề bỏ qua yếu tố văn hoá trong sự phát triển xã hội Nhưng theo quan điểm của C.Mác, yếu tố văn hóa luôn chịu sự quy định và phụ thuộc vào yếu tố vật chất Đồng thời với việc khẳng định sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, trong đó hình thái kinh tế – xã hội phát triển sau luôn tiến bộ hơn hình thái kinh tế – xã hội trước đó, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội còn thừa nhận sự kế thừa và phát triển của các nền văn minh nhân loại, coi sự thay thế các hình thái kinh tế – xã hội cũng chính là sự thay thế các nền văn minh

Trong khi khẳng định tính đúng đắn, tính nguyên giá trị của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhiệm vụ của những người làm công tác nghiên cứu

Trang 25

triết học là phải cụ thể hóa và nghiên cứu sâu thêm các nguyên lý chung đó Điều quan trọng trước hết, theo chúng tôi, cần làm rõ hàng loạt vấn đề về mối quan hệ giữa cái đóng vai trò quyết định (tồn tại xã hội, lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng, v.v.) và cái bị quyết định (ý thức xã hội, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng, v.v.) Sinh thời, V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập

đó là tương đối”(11) Áp dụng tư tưởng trên đây của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chúng ta có thể đặt vấn đề rằng, phải chăng các yếu tố quyết định

đã được nhắc đến ở trên luôn đóng vai trò quyết định trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện lịch sử hay chỉ đóng vai trò quyết định khi xét đến cùng? Nếu các yếu tố quyết định chỉ đóng vai trò quyết định khi xét đến cùng thì trong trường hợp và điều kiện nào, nhân tố bị quyết định trở thành cái có vai trò quyết định? Điều này rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn khi muốn phát huy vai trò của nhân tố chủ quan nhưng lại tránh được chủ nghĩa chủ quan duy ý chí cũng như chủ nghĩa giáo điều Chẳng hạn, chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, còn kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của cơ sở hạ tầng và có tác động ngược trở lại đối với cơ sở hạ tầng Nhưng, sự tác động ngược trở lại cần được hiểu như thế nào và đến mức độ nào, có khi nào kiến trúc thượng tầng làm thay đổi cơ sở hạ tầng không hay nó chỉ luôn là yếu tố chịu sự tác động, bị động trong quan hệ với cơ sở hạ tầng? Hoặc, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội cũng cần được lý giải thấu đáo về mặt triết học Văn hóa, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bị quy định bởi những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người Vậy, cần lý giải như thế nào vai trò của văn hóa với tư cách động lực của sự phát triển xã hội, v.v

Tất cả những điều trình bày trên đây đã khẳng định những đóng góp vĩ đại của C.Mác đối với thời đại của ông và cả với thời đại chúng ta đang sống Trách nhiệm của chúng

ta là phải vận dụng và phát triển sáng tạo triết học của C.Mác để giải quyết những vấn

đề mà thời đại đang đặt ra cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới Thành công hay thất bại trong thực tiễn đều phụ thuộc vào thế hệ chúng ta và do chính chúng ta quyết định.r

Trang 26

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen Sđd., t.19 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 304 (6) C.Mác và Ph.Ăngghen Sđd., t 20, tr 371

(7) C.Mác và Ph.Ăngghen Sđd., t 19, tr 305

(8) C.Mác và Ph Ăngghen Sđd., t.1, tr 520

(9) V.I Lênin Toàn tập, t 33 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 104

(10) Xem: Lê Hữu Tầng (Chủ biên) Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn: những

bài học kinh nghiệm chủ yếu Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.30-31

(11) V.I.Lênin Toàn tập, t 18 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 173

VỀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

đó đi đến kết luận: Sở dĩ triết học Mác mang giá trị thời đại là bởi trong bản thân nó

đã hàm chứa những đặc trưng cho phép nó đi cùng thời đại Rằng, triết học Mác đã

Trang 27

kế thừa và phát triển sáng tạo những thành tựu của toàn bộ tư tưởng triết học nhân loại; nó là một hệ thống mở, luôn tự đổi mới như một nhu cầu tự thân để đáp ứng sự biến đổi không ngừng của thực tiễn cuộc sống

Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng thực sự trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại Cái mới về chất của triết học Mác, nói một cách vắn tắt, là ở chỗ, với tư cách “một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại"(1) Và, thực tiễn cũng cho thấy rằng, để luận giải đúng thực chất các sự kiện lịch sử trọng yếu đang tham gia quy định diện mạo của thế giới ngày nay, triết học Mác vẫn thực

sự là một công cụ nhận thức sắc bén, mang tầm thời đại

1 Trong cái chiến dịch ầm ĩ chống lại chủ nghĩa xã hội do chủ nghĩa đế quốc và các

thế lực phản động quốc tế phát động gần đây, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa

ở Liên Xô và Đông Âu thường được chúng sử dụng như một “bằng chứng thực tế”

để bác bỏ giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác, chứng minh cho "sự cáo chung" của triết học Mác

Tính chất xảo trá và nguy hiểm của những luận điệu trên đây đòi hỏi chúng ta phải đáp trả bằng những luận cứ khoa học xác đáng

Như chúng ta đã biết, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong hai phát kiến

vĩ đại của C.Mác Ở đó, khác về nguyên tắc và đối lập với các quan niệm truyền thống, bằng việc áp dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội, C.Mác đã phát hiện ra tiền đề đầu tiên, chân chính của lịch sử nhân loại là những

con người hiện thực, mà đặc trưng quyết định là việc con người sản xuất xã hội ra

đời sống vật chất của chính mình Và, khi vận dụng một một cách đúng đắn phép biện chứng duy vật vào phân tích quá trình sản xuất vật chất ấy, C.Mác đã chỉ ra ra rằng, nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng của mọi hiện tượng xã hội - lịch sử (như đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, ) và do vậy, cũng là động lực cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội chính là cái mâu thuẫn vẫn luôn nảy sinh và đòi hỏi

phải được giải quyết giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Cuối cùng,khi áp

dụng những thành quả nghiên cứu trên đây vào phân tích một xã hội cụ thể, nhưng rất điển hình là xã hội tư bản, theo phương pháp "đem quy những quan hệ xã hội vào

Trang 28

Đó chính là thực chất quan niệm duy vật biện chứng của C.Mác về lịch sử Quan niệm này đã được V.I.Lênin hiện thực hoá một cách sáng tạo bởi Cách mạng Tháng Mười và qua đó, mở ra cả một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Lịch sử nhân loại đã ghi nhận rằng, hơn 70 năm tồn tại và phát triển với tư cách một hệ thống, chủ nghĩa xã hội đã tỏ rõ là một chế độ xã hội tốt đẹp nhất mà loài người từng biết đến, góp phần to lớn và nhiều khi có ý nghĩa quyết định vào việc hiện thực hoá các mục tiêu cơ bản của thời đại Chính vì thế, sự sụp đổ của nó đã trở thành một sự kiện bi thảm nhất của thế kỷ XX, một thất bại to lớn và cay đắng của nhân loại tiến bộ Trong bối cảnh ấy, không ít người trong số chúng ta đã bắt đầu tỏ ra hoài nghi về tính hiện thực của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội Do vậy, chúng ta cần phải có một quan niệm đúng đắn về những sự biến vẫn thường diễn ra trong tiến trình lịch sử Bởi phép biện chứng của lịch sử đã chỉ ra rằng, với tư cách là kết quả của quá trình tìm tòi và thử nghiệm các mô hình, với tính chất của cuộc đấu tranh nhằm chuyển hoá giữa cái cũ thành cái mới, một cuộc chiến đấu một mất một còn giữa cách mạng và phản cách mạng, sự ra đời của chế độ mới không bao giờ là một quá trình suôn sẻ, trơn tru Do phụ thuộc một cách tổng hoà, cùng một lúc vào nhiều nhân tố, cả khách quan lẫn chủ quan, nhiều khi chế độ mới phải tạm thời lùi bước, thậm chí thất bại Lịch sử các cuộc cách mạng tư sản, mà điển hình là Cách mạng tư sản Pháp, đã diễn ra đúng như vậy Phải trải qua gần 60 năm (1789 – 1848) với vô số biến cố thăng trầm, được dựng lên rồi lại đổ, nền Cộng hòa tư sản Pháp mới được xác lập hoàn toàn trên mảnh đất hiện thực của nó Một cuộc cách mạng mà mục tiêu của nó chỉ là nhằm thay đổi một chế độ bóc lột này bằng một chế độ bóc lột khác mà đã là như vậy, thì một cuộc cách mạng với mục tiêu cao cả như cách mạng xã hội chủ nghĩa lại càng có thể như

Trang 29

vậy và còn hơn thế nữa

Đương nhiên, chúng ta không cố tình biện hộ cho những thất bại vừa qua của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đầu thập niên 90 của thế kỷ XX và càng không

cố tình lảng tránh trách nhiệm của mình trước lịch sử Nghiên cứu một cách nghiêm túc sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng ta đã chỉ ra hai loại nguyên nhân: sâu xa và trực tiếp

Nguyên nhân sâu xa là, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh

những thành tựu vĩ đại, chúng ta đã chậm phát hiện và khắc phục những nhược điểm, khuyết điểm to lớn về mô hình Không thể phủ nhận vai trò vĩ đại của mô hình "chủ nghĩa xã hội thời chiến", - nếu có thể gọi như vậy, - với đặc trưng nổi bật của nó là ưu tiên cao độ cho nguyên tắc tập trung trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội trong các thời khắc hiểm nguy của lịch sử Nhưng, việc duy trì quá lâu và "phổ biến hoá" một cách duy ý chí mô hình này như là một mô hình của chủ nghĩa xã hội nói chung, bất chấp tính đặc thù của các dân tộc và điều kiện lịch sử mới, đã làm triệt tiêu nhiều động lực vốn có và cơ bản của chủ nghĩa xã hội, dẫn nó đến chỗ bảo thủ, trì trệ Không chỉ C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhắc nhở, mà bản thân V.I.Lênin, ngay trước Cách mạng Tháng Mười cũng đã lưu ý rằng, "chúng ta không kỳ vọng rằng Mác hay những người theo chủ nghĩa Mác đều hiểu biết mọi mặt cụ thể của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Như thế sẽ là phi lý Chúng ta chỉ biết phương hướng của con đường đó và những lực lượng giai cấp nào dẫn đến con đường đó;

còn như về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao, thì kinh nghiệm của hàng

triệu con người sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động"(4) Nói cách khác, những

sai lầm, khuyết tật đó không xuất phát từ bản chất của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội, mà bắt nguồn từ việc vi phạm những nguyên tắc biện chứng - "linh hồn sống" của chủ nghĩa Mác - trong quá trình xây dựng và ứng dụng mô hình hiện thực của chủ nghĩa xã hội

Cùng với nguyên nhân sâu xa trên đây, những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị,

tư tưởng và tổ chức của Đảng Cộng sản Liên Xô trong quá trình cải tổ là nguyên

nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Thực tiễn

lịch sử đã chỉ ra rằng, cải tổ, cải cách, đổi mới là tất yếu, nhưng sụp đổ thì không tất

Trang 30

yếu Sai lầm có tính nguyên tắc của quá trình cải tổ là ở chỗ, Đảng Cộng sản Liên Xô

đã để cho một số người theo đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác nắm giữ những chức vụ cao nhất Chính họ là những kẻ đã thao túng cơ quan lãnh đạo đảng,

vô hiệu hoá sức chiến đấu của các tổ chức đảng và hàng chục triệu đảng viên Tình hình ấy, đến lượt nó, đã đem đến cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động những thời cơ vô cùng thuận lợi để nhanh chóng đạt được mục tiêu xoá bỏ hệ thống

xã hội chủ nghĩa thế giới

Luận điệu tuyên truyền về "sự cáo chung" của chủ nghĩa Mác rõ ràng là hoàn toàn vô căn cứ Nhưng qua đó, bài học về việc nâng cao bản lĩnh chính trị, tầm cao trí tuệ và tính năng động, sáng tạo của các đảng cộng sản và công nhân trong việc vận dụng học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội vào quá trình cải cách và đổi mới ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với tương lai và triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực

2 Liên quan một cách hữu cơ với vấn đề trên đây là vấn đề phải nhận thức như thế nào cho

đúng về bản chất và tiền đồ của chủ nghĩa tư bản hiện nay?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải vận dụng phép biện chứng của triết học Mác vào việc làm rõ những mối quan hệ, những phương thức đã và đang quy định sức sống của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Không phải ai khác mà chính C.Mác là người đã phát hiện ra rằng, khác với tất cả các chế độ tư hữu đã tồn tại trước đó, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa được hiện thực hoá thông qua việc mua bán, sử dụng một loại hàng hoá đặc biệt - hàng hoá sức lao động Tính chất đặc biệt của loại hàng hoá này là ở chỗ, quá trình nhà tư bản sử dụng

nó cũng đồng thời là quá trình nó sinh ra giá trị Để quá trình sử dụng loại hàng hàng hoá này sinh ra cho nhà tư bản một lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó – giá trị thặng dư, giai cấp tư sản phải sử dụng nhiều phương thức Lúc đầu là kéo dài ngày lao động, sau đó là cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá dây chuyền sản xuất, thay đổi công nghệ Đó chính là nguồn gốc và phương thức chiếm đoạt giá trị thặng dư của giai cấp tư sản Trước đây đã là thế, hiện nay lại càng là như thế

Nhưng, giai cấp tư sản hiện nay lại cố tình bác bỏ sự thật này Các lý luận gia tư sản đã cố tình tỏ ra khách quan khi nhận xét rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác có thể đúng trong thời đại công nghiệp, nhưng không còn phù hợp với thời đại hậu công nghiệp, thời

Trang 31

đại của kinh tế tri thức Họ lập luận rằng, trong nền kinh tế tri thức, lượng lao động sống phải sử dụng trong quá trình sản xuất ngày càng ít đi, nhưng năng suất lao động vẫn không ngừng tăng lên; sự giàu có của những ông chủ tư sản, theo họ, không phải chủ yếu nhờ vào sự bóc lột công nhân như trước đây, mà là do đầu óc sáng tạo và nhanh nhạy phát hiện kỹ thuật mới, do tài quản lý và sử dụng chất xám đem lại Rằng, lập luận của C.Mác coi lao động sống như là nguồn duy nhất của giá trị và giá trị thặng dư, coi giá trị thặng dư

là phần giá trị làm ra ngoài giá trị sức lao động của người công nhân bị nhà tư sản chiếm đoạt, cũng vì thế mà đã trở nên lỗi thời Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, cũng như cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp này cũng dần bị tiêu vong do mất đi tính tất yếu kinh tế, v.v và v.v

Điều đó là không đúng, bởi, một mặt, lao động sống theo quan điểm của C.Mác,

áp dụng vào nền kinh tế tri thức, chính là lao động của một cộng đồng người, bao gồm cả lao động của một bộ phận công nhân truyền thống (trực tiếp điều khiển máy móc) và công nhân trí thức – những người tham gia vào quá trình phát minh, sáng chế, thiết kế, chế tạo thiết bị tự động hóa và cả các nhân viên quản lý kinh

doanh; mặt khác, trong nền kinh tế tri thức, thông tin, tri thức và các sản vật phần

mềm đều là sản phẩm lao động và đều có giá trị, đều thuộc tư liệu sản xuất Những tư liệu sản xuất này thì bản thân nhà tư sản không làm ra được, còn C.Mác cũng chưa bao giờ phủ nhận vai trò đặc biệt của tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, mặc dù nó không phải là nguồn gốc của giá trị thặng

dư Tóm lại, nền kinh tế tri thức trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản đương đại không những không làm thay đổi nguồn gốc của giá trị thặng dư, mà còn không làm thay đổi bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Có điều, cả lý luận và thực tiễn lịch sử đều cho thấy rằng, quá trình làm cho lực lượng sản xuất phát triển theo hướngxã hội hoá trên đây cũng chính là quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa theo hướng tư nhân hoá Mâu thuẫn vốn có của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không những không giảm đi trong quá trình áp dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, mà trái lại, còn ngày càng gay gắt Để làm chậm lại những bùng nổ về mặt xã hội đang ngày càng đến gần, giai cấp tư sản buộc phải tiến hành các cuộc "điều chỉnh" Lúc đầu, trong

Trang 32

thời kỳ còn đang hưng thịnh của mình, giai cấp tư sản tiến hành "điều chỉnh" chủ yếu bằng cách hạ thấp tốc độ tăng trưởng quá nóng của lực lượng sản xuất thông qua các đòn bẩy kinh tế Nhưng, khi nền sản xuất đã đạt giới hạn của sự tăng trưởng và bắt đầu có chiều hướng suy thoái, như hầu hết các nước tư bản phát triển hiện nay, giai cấp tư sản chủ yếu sử dụng phương thức điều chỉnh các quan hệ sản xuất hiện có Vấn đề là ở chỗ, hãy xem thực chất và giới hạn của sự điều chỉnh ấy là như thế nào?

Dễ thấy rằng, một trong những điều chỉnh lớn nhất và có ý nghĩa nhất trong quá trình

tổ chức lại sản xuất ở các nước tư bản hiện nay là sự ra đời của hàng loạt các công ty

cổ phần, với rất nhiều dạng, loại hình khác nhau Có loại thuộc một "tập thể" các nhà

tư bản của một nước hoặc nhiều nước (công ty xuyên quốc gia) Có loại "trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội đối lập với tư bản tư nhân" như C.Mác đã nói; lại có

cả loại "nửa nọ nửa kia" với sự tham gia của người lao động Nhưng, vô luận thế nào, tất cả các loại hình đó vẫn là "những hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể"(5) Và, với những sự “điều chỉnh” như thế, chủ nghĩa tư bản đã khoác lên mình một diện mạo mới, mà nếu thoạt nhìn, nhiều người lầm tưởng như nó đã thay đổi hẳn bản chất, đang bước vào "tuổi thanh xuân", thậm chí còn coi nó chính là một giai đoạn của chủ nghĩa xã hội!

Ở đây, cần nhấn mạnh một điều, chủ nghĩa tư bản không thể tự mình thay đổi bản chất, cũng như chủ nghĩa xã hội không thể tự phát ra đời từ trong lòng chủ nghĩa tư bản Những "điều chỉnh" của chủ nghĩa tư bản, nhiều nhất, theo C.Mác, chẳng qua cũng chỉ là "sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở trong giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa"(6) Những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà bất cứ sự "điều chỉnh" nào cũng không thể vượt qua được ấy chính là chế độ tư hữu tư bản và quyền chiếm đoạt giá trị thăng dư phải thuộc

về giai cấp tư sản

Thực tế lịch sử đã cho thấy rằng, không phải là giai cấp tư sản ở các nước "tư bản văn minh" hiện nay không quan tâm đến việc chiếm đoạt giá trị thặng dư nữa, mà là phương thức chiếm đoạt giá trị thặng dư đã mang tính toàn cầu Theo báo cáo của Quỹ phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thu nhập bình quân đầu người của 20 nước giàu nhất thế giới so với 20 nước nghèo nhất thế giới đã tăng lên 74 lần trong thời gian từ đầu đến cuối thế kỷ

XX Tỷ xuất bóc lột giá trị thăng dư cũng không ngừng tăng lên và hiện đã đạt mức kỷ

Trang 33

lục 500% Trong 20 năm, kể từ 1980, số quốc gia bị liệt vào hàng những nước kém phát triển nhất đã tăng từ 25 lên 50 và tổng sản phẩm quốc nội của tất cả các nước này cộng lại hàng năm chỉ bằng tổng giá trị tài sản của 5 tỷ phú giàu nhất nước Mỹ(7) Mâu thuẫn

cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - mâu thuẫn giữa tư bản và lao động - không hề mất đi trong quá trình “điều chỉnh”, mà trái lại, còn bị khoét sâu thêm và mở rộng ra trên phạm vi toàn cầu Và, thực tiễn cũng đang cho thấy, để giải quyết những mâu thuẫn này thì không thể lảng tránh được những cuộc đấu tranh mà nếu xét theo phương pháp tiếp cận của C.Mác, chính là những cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc giữa một bên là giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản đang chi phối quá trình toàn cầu hoá Đỉnh cao của cuộc đấu tranh này sẽ không thể là gì khác ngoài các cuộc cách mạng xã hội - những cuộc cách mạng xã hội với đúng nghĩa mà C.Mác đã quan niệm, nhưng có thể sẽ được tiến hành với những phương thức không hoàn toàn như trước đây - nhằm xoá bỏ tận gốc mọi áp bức, bóc lột

3 Triết học Mác, sở dĩ có giá trị thời đại, bởi bản thân nó hàm chứa những đặc

trưng cho phép nó đi cùng thời đại Ý nghĩa lịch sử của triết học Mác sở dĩ có được, trước hết là do các nhà sáng lập nó đã kế thừa và phát triển sáng tạo những thành tựu của toàn bộ tư tưởng triết học nhân loại trước đó Nhưng, giá trị thời đại của

triết học Mác sở dĩ trở thành hiện thực, một mặt, là do các nhà sáng lập nó đã biến

nó thành một hệ thống mở bằng cách thổi vào đó một "linh hồn sống"; mặt khác, là

do những người kế tục trung thành luôn biết làm mới nó, trước hết như là một nhu cầu tự thân, sau đó là để phù hợp với sự biến đổi không ngừng của hiện thực khách quan, và cuối cùng, là để đáp ứng vai trò ngày càng tăng của nó đối với thực tiễn cuộc sống Chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã luôn nhắc nhở chúng ta rằng, học thuyết của các ông không phải là một giáo điều, mà là kim chỉ nam cho hành động Theo đó và trên tinh thần đó, V.I.Lênin đã có những cống hiến xuất sắc vào việc bảo vệ và phát triển toàn diện triết học Mác

Thời đại ngày nay rõ ràng là đã có những thay đổi to lớn, không chỉ so với thời đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, mà ngay cả với giai đoạn V.I.Lênin Ngoài hai sự kiện mà chúng ta đã phân tích trên đây, phải kể đến hàng loạt sự kiện quan trọng khác nữa, như

sự phát triển với tốc độ vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đi liền với nó là quá trình toàn cầu hoá và sự xuất hiện của kinh tế tri thức; sự khủng hoảng

Trang 34

của loại mô hình “nhà nước phúc lợi chung” ở Tây Âu và sự vượt lên của các phong trào cánh tả ở "sân sau" của chủ nghĩa đế quốc; vấn đề xung đột giữa các nền văn hoá và văn minh, sắc tộc và tôn giáo, đi liền với nó là sự nảy sinh của chủ nghĩa khủng bố quốc tế

và hiểm hoạ của một cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao

Theo đó, để thực sự có thể "nắm bắt thời đại bằng tư tưởng" (theo cách nói của Hêghen) thì triết học Mác cần thiết phải có những sự bổ sung và phát triển tương ứng Nội dung, tầm vóc của những vấn đề cần bổ sung, phát triển có thể là hết sức khác nhau, tuỳ theo từng trường hợp Đó có thể là những vấn đề triết học mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, vì những lý do khác nhau, chưa có điều kiện và thời cơ để giải quyết hoặc giải quyết chưa trọn vẹn (chẳng hạn như những vấn đề về tâm thức, lôgíc biện chứng hay phương thức sản xuất châu Á ) Đó cũng có thể là những vấn đề triết học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã giải quyết đúng đắn trên phương diện lý luận - phương pháp luận cơ bản, nhưng chưa có điều kiện làm rõ những biểu hiện cụ thể, sinh động của

nó (ví dụ như các kiểu thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, các mô hình của chủ nghĩa xã hội hiện thực, vấn đề khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hoặc quá trình diệt vong của chủ nghĩa tư bản với tư cách chế độ tư hữu cuối cùng nhưng hoàn thiện nhất, vấn đề sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường dưới chủ nghĩa xã hội ) Bên cạnh đó, còn có cả những vấn đề nhận thức lại (cho đúng) những tư tưởng kinh điển, nghiên cứu hợp lý hoá cấu trúc, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng truyền bá triết học Mác trong thời đại mới

Như vậy, có thể khẳng định, bổ sung, phát triển triết học Mác không có nghĩa là phủ định nó, mà là tiếp tục làm sáng tỏ và khẳng định ý nghĩa lịch sử vĩ đại và giá trị thời đại của nó Cũng vì thế, trong quá trình này, cần tránh và cảnh giác với những biểu hiện cực đoan, lệch lạc: hoặc là núp dưới chiêu bài "bổ sung, phát triển" triết học Mác để bác bỏ những nguyên lý cơ bản của nó, thay vào đó bằng những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa cơ hội, xét lại; hoặc là núp dưới khẩu hiệu "chống chủ nghĩa giáo điều" để "khái quát", cắt xén, thêm bớt một cách tuỳ tiện những nguyên lý

cơ bản của triết học Mác, làm mất đi bản chất cách mạng và khoa học vốn có của nó Thực tiễn cho thấy, những khuynh hướng tư tưởng trên đây đã và đang trở thành một thực tế, đặc biệt nguy hiểm, và vì thế, chúng ta phải có sự cảnh giác, đề phòng đủ mức cần thiết.r

Trang 35

(*) Phó giáo sư, Tiến sĩ, Chủ nhiệm Khoa Triết học, Học viện Chính trị Quân sự

(1) V.I.Lênin Toàn tập, t.23 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr 54

(2) V.I.Lênin, Sđd., t.1, tr.163

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.23 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993,

tr.21

(4) V.I.Lênin Toàn tập, t.34 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 152 - 153

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.25, Ph.I Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

Khẳng định chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng chỉ có thể và đã thực

sự xuất hiện trong bối cảnh của nền văn minh công nghiệp hoá đã hình thành ở phương Tây nửa đầu thế kỷ XIX, trong bài viết này, xuất phát từ quan niệm duy vật

về lịch sử và lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội với tư cách hạt nhân của học thuyết Mác, tác giả đã đưa ra và luận giải mối quan hệ giữa triết học Mác và nền văn minh công nghiệp hoá Từ sự luận giải đó, tác giả đã đi đến kết luận: Khi xây dựng lý thuyết hình thái kinh tế –xã hội, C.Mác đã đưa ra những đặc trưng và giá trị sâu xa của loại hình phát triển văn minh này vào quan niệm của ông về tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại trong tương lai

Có thể nói, một trong những vấn đề cấp bách hiện nay đối với giới triết học chúng ta

là vấn đề số phận của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh đang diễn ra các xu hướng phát triển mới của nền văn minh thế giới đã hình thành cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Trang 36

Vốn đặc trưng cho nền văn minh công nghiệp, do những đổi mới về công nghệ, về

kỹ thuật trong lĩnh vực hoạt động sản xuất và các lĩnh vực khác, sự biến đổi thường xuyên của quan hệ xã hội và nếp sống đã hình thành một phương hướng phát triển cùng với sự định hướng rõ nét vào tương lai Cùng với đó, sự phát triển văn hoá trong xã hội công nghiệp cũng đưa ra một sự định hướng tương tự: những điều tốt đẹp hơn còn ở phía trước, trong tương lai “Tiến bộ” trong sự phát triển văn hóa này

đã được đánh giá một cách tích cực, còn “lý tưởng về tiến bộ” bắt đầu giữ một trong những vị trí tối cao trên thước đo giá trị của nền văn minh công nghiệp Một cái gì đó tương tự như vậy đã không thể có trong xã hội truyền thống Tư tưởng về tiến bộ với

tư cách một giá trị cũng không thể có trong xã hội truyền thống Những chuyển biến

xã hội nhằm cải biến truyền thống thường bị đánh giá một cách tiêu cực Tư tưởng về tiến bộ xã hội và cải tạo cách mạng với tư cách cuộc vận động hướng đến một trật tự

xã hội tốt đẹp trong tương lai chỉ có thể phát triển trong bản tính sâu xa của nền văn minh công nghiệp Học thuyết Mác về tiến bộ xã hội và về chủ nghĩa cộng sản đã hình thành chính trong điều kiện như vậy

Hạt nhân của học thuyết Mác là quan niệm duy vật về lịch sử và lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội Mỗi bộ phận cấu thành đó đều gắn liền với những quy định về mặt thế giới quan của nền văn minh công nghiệp, đều đã xuất hiện với tư cách khái quát hoá thực tiễn xã hội và tiến trình lịch sử của nền văn minh ấy

Tác động mang tính quyết định của sự phát triển kỹ thuật, công nghệ sản xuất đến mọi mặt của đời sống xã hội đã thể hiện rõ ở giai đoạn phát triển công nghiệp Làm xuất hiện nền sản xuất đại cơ khí, cuộc cách mạng công nghiệp đã cho thấy mối liên

hệ khăng khít giữa phát triển sản xuất và những biến đổi trong cơ cấu xã hội của xã hội Cùng với đó, một quan niệm đặc biệt về mối liên hệ giữa con người với kỹ thuật,

Trang 37

một cách lý giải mới về bản thân sự tiến hóa của con người đã xuất hiện ở thời đại cách mạng công nghiệp, bắt đầu từ nước Anh giữa thế kỷ XVIII, sau đó lan sang tất

cả các nước Tây Âu và Bắc Mỹ

Trong bối cảnh đó, nhà tư tưởng người Mỹ - B.Franklin quan niệm con người là động vật biết chế tạo ra công cụ Còn nhà triết học người Mỹ khác - R.Emerson và nhà khoa học, triết học người Đức - E.Kapp (người đương thời với C.Mác) đã phát triển tư tưởng về công cụ và phương tiện hoạt động như là các cơ quan đặc biệt của con người và như là sự kế tục và tăng cường thể xác của con người Mặc dù, tư tưởng này dưới hình thức chung, đã được đưa ra ngay từ trong triết học Cổ đại (Aristotle), song việc nghiên cứu nó một cách có hệ thống đã dẫn tới một quan niệm mới về quan hệ của con người với giới tự nhiên xung quanh con người E.Kapp lý giải môi trường tự nhiên này như là sự “ngoại hóa” thể xác con người, như sự biểu hiện các cơ quan của con người và những chức năng của chúng Và, khi chuyển dịch một cách hình ảnh công nghệ và kỹ thuật sản xuất sang tất cả mọi lĩnh vực hoạt động sống của con người, ông đã lý giải đạo đức, pháp luật, nhà nước, v.v như là các công nghệ đặc biệt

Những thành tựu hiện thực của cách mạng công nghiệp và lối sống mà nó sinh ra đã dẫn tới quan niệm về con người như một thực thể kỹ thuật, thực thể cải tạo thế giới Quan niệm về con người với tư cách chủ thể sáng tạo lịch sử, thực thể cải tạo thế giới đã

được C.Mác phát triển trongBản thảo kinh tế – triết học năm 1844 và các tác phẩm khác của ông những năm 40 và 50 của thế kỷ XIX Đến lượt mình, tư tưởng nhân học triết

học này đã trở thành một trong những cơ sở quan trọng nhất để C.Mác xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử

C.Mác đã xem xét tồn tại vật chất – thể xác của con người không chỉ là sự hoạt động

và tái sản xuất tổ chức sinh học của con người, mà còn là sự tái sản xuất và phát triển thành quả sáng tạo của con người – “giới tự nhiên thứ hai”, hệ quả trung gian hóa sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên xung quanh Coi “giới tự nhiên thứ hai” là “giới tự nhiên tinh thần vô cơ của con người, là món ăn tinh thần mà con người phải chuẩn bị trước rồi mới có thể thưởng thức và tiêu hoá được” và “đó cũng

là một bộ phận của đời sống con người”, C.Mác khẳng định: “Giới tự nhiên – cụ thể

là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con

Trang 38

người – là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”(1) Và, khi kế thừa, tiếp thu truyền thống lý giải sự tồn tại vật chất của con người như sự sống của thể xác (“con người là một bộ phận của giới tự nhiên”), ngay lập tức, C.Mác nhận xét rằng, không nên quy thể xác này về thành tố sinh học, vì nó còn bao hàm cả “thân thể vô cơ” với

tư cách thành tố thứ hai của thể xác con người Rằng, khi đó, trong tồn tại vật chất của mình, con người thể hiện ra là một hệ thống Sự tồn tại của nó nhất thiết phải có

sự trao đổi vật chất giữa con người với môi trường tự nhiên và bản thân quá trình trao đổi này cũng đã không còn là một quá trình sinh học thuần tuý, nó là một quá trình xã hội cần thiết cho sự phát triển “thân thể vô cơ” của con người - đó chính là quá trình sản xuất ra của cải vật chất Đây là một điểm mới trong quan điểm nhân học triết học của C.Mác

Tương tự như quá trình thích nghi của động vật với môi trường được thực hiện thông qua sự cải biến cơ thể của chúng (hình thành các cơ quan mới và các chức năng mới của chúng trong quá trình biến dị và chọn lọc tự nhiên), sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên cũng đòi hỏi phải cải biến và phát triển tổ chức cơ thể của con người Nhưng, bản thân tổ chức này là đa cấu trúc, bao hàm hai tiểu hệ thống: cơ thể sinh học và “thân thể vô cơ” Khác với động vật, con người ngày càng làm chủ những điều kiện mới của tồn tại tự nhiên không phải nhờ thường xuyên cải biến và làm phức tạp thêm tổ chức sinh học của mình, mà nhờ phát minh ra những sản phẩm nhân tạo mới và hình thành “giới tự nhiên thứ hai”, giới tự nhiên “hiện thực của con người” – giới tự nhiên “nhân bản chân chính”, “sinh thành trong lịch sử loài người”,

“trong hành vi xuất hiện của xã hội loài người”(2) Rốt cuộc, sự tiến hóa sinh học

chuyển biến thành một loại hình phát triển mới về chất– lịch sử xã hội của loài người Về điều này, C.Mác viết: “Toàn bộ lịch sử là sự chuẩn bị để “con người” trở

thành đối tượng của ý thức cảm tính và để nhu cầu “của con người với tư cách là con người” trở thành nhu cầu [tự nhiên, cảm tính] Bản thân lịch sử là một bộ phận hiện thực của lịch sử tự nhiên, của sự sinh thành của tự nhiên bởi con người”(3) Có thể nói, đây lại là một điểm mới nữa của C.Mác trong quan điểm nhân học triết học về

sự phát triển của xã hội loài người

Trang 39

Tư tưởng then chốt của chủ nghĩa Mác đã được hình thành như vậy Theo đó, sản xuất ra của cải vật chất và phát triển tư liệu sản xuất (với tư cách thành tố cơ bản trong hệ thống các “cơ quan nhân tạo” của con người) được quan niệm là nhân tố chủ yếu của lịch sử nhân loại Không chỉ thế, việc triển khai tư tưởng này còn được kích thích bởi quan niệm đặc trưng cho nền văn hóa của thời đại công nghiệp – đó là quan niệm về con người với tư cách thực thể cải tạo tự nhiên, về hoạt động chủ yếu với tư cách sự tác động tích cực bằng kỹ thuật của con người đến thế giới đối tượng Tiếc rằng, lôgíc hình thành tư tưởng then chốt này trong triết học xã hội của C.Mác thường bị bỏ qua và xuyên tạc Các quan điểm nhân học triết học của C.Mác bị coi là thứ yếu trong triết học của ông; trong trường hợp tốt nhất, quan điểm đó cũng chỉ được coi là cách tiếp cận “chưa chín muồi” với chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong khi đó, không chỉ quan niệm về vai trò quyết định của sản xuất trong hoạt động sống của con người, mà cả toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu của C.Mác về phương thức sản xuất đều gắn liền với chính quan điểm nhân học triết học mà ông đã đưa ra Nói một cách cụ thể hơn, khi tách biệt vai trò quyết định của quan hệ sản xuất trong

hệ thống các quan hệ xã hội của con người, C.Mác đã xuất phát từ quan niệm coi tồn tại vật chất của con người như sự tái sản xuất và phát triển các yếu tố cấu thành “thân thể vô cơ” của con người “Thân thể vô cơ” này, theo C.Mác, được kế thừa về mặt xã hội, được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác và sau bước chuyển từ thời man rợ sang nền văn minh, sự phát triển của nó đã ngày càng gia tăng và trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển của nền văn minh nhân loại

Do vậy, để trở thành chủ thể của hoạt động, tức là để có được tồn tại người đích thực, con người phải thường xuyên tiếp cận những lĩnh vực khác nhau trong “thân thể vô cơ” của nền văn minh Con người không thể tồn tại, nếu nó không sử dụng giới tự nhiên và những sản phẩm do mình sáng tạo ra, như là của cải vật chất và phương tiện hoạt động Nhưng, bản thân việc tiếp cận đó lại có nghĩa là cá nhân tham gia vào hệ thống các quan hệ phức tạp giữa người với người, bởi bất kỳ công

cụ nào, bất kỳ đối tượng hay hệ thống đối tượng nào của “thân thể vô cơ” đều thể hiện ra là kết quả của phân công lao động xã hội, đều là lao động được vật hóa của người khác Do vậy, khi con người sử dụng phương tiện lao động để trở thành lực lượng sản xuất, thì ngay lập tức, thông qua quá trình này, con người đã tham gia vào

Trang 40

quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm và phân công lao động xã hội C.Mác gọi chúng

là quan hệ sản xuất và coi chúng là cơ sở của đời sống xã hội

Có thể nói, đây là quan niệm về xã hội như một chỉnh thể đặc biệt, luôn biến đổi nhờ cải biến phương thức sản xuất Quan niệm đúng đắn này của C.Mác là cái không thể coi nhẹ và loại bỏ như một số địch thủ của C.Mác đã từng làm Bởi lẽ, xét đến cùng, toàn bộ thực tiễn phát triển của nền văn minh nhân loại ở thế kỷ XX đã khẳng định rằng, chính những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế là nhân

tố đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện chất lượng sống của con người và phát triển xã hội

Khi so sánh sự phát triển của các hệ thống xã hội với sự tiến hóa của các loài sinh vật, C.Mác đã viết: “Giống như là sự cấu tạo của những xương hoá thạch đối với việc tìm hiểu tổ chức của các loài động vật đã tiêu vong”, “những di vật của những

tư liệu lao động cũng có một tầm quan trọng” đối với việc “đánh giá những hình thái kinh tế – xã hội đã biến mất”(4) Với phương pháp so sánh này, C.Mác đã dành cho phương thức sản xuất và sự phát triển kinh tế (những cái quy định mối quan hệ giữa

xã hội và tự nhiên trong khuôn khổ những điều kiện tự nhiên mà hoạt động sống của con người diễn ra ở trong đó) vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội – vai trò

mà Darwin đã dành cho chọn lọc tự nhiên trong tiến hóa sinh học Cũng với phương pháp này, sự phát triển của xã hội với tư cách một chỉnh thể phức tạp đã được C.Mác phân tích một cách thuyết phục

Quan niệm của C.Mác về vai trò quyết định của sản xuất trong tiến bộ xã hội và trong sự cạnh tranh giữa các loại hình xã hội khác nhau đã được minh chứng bởi lịch

sử hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn công nghiệp Tuy nhiên, với tinh thần biện chứng, C.Mác cho rằng, bức tranh đó chưa phải là chân lý tối hậu,

nó cần được bổ sung và phát triển trong mối liên hệ mật thiết với hiện thực xã hội luôn phát triển

Triển khai tư tưởng về vai trò quyết định của phương thức sản xuất, C.Mác đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng về tiến trình lịch sử nhân loại như là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội C.Mác viết: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư bản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế – xã hội”(5) Và, “sự phát triển của những hình thái

Ngày đăng: 08/03/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w