1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ NIỀM TIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY pdf

79 1,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Xây Dựng Và Củng Cố Niềm Tin Trong Đời Sống Xã Hội Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Xây Dựng Và Củng Cố Niềm Tin Trong Đời Sống Xã Hội
Thể loại Tổng luận
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 641,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính khoa học của thế giới quan mà học thuyết Mác - Lênin mang lại thể hiện ở sự tiếp cận, giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội và ý thức con người từ lập trường duy vật biện chứng

Trang 1

TIỂU LUẬN:

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ NIỀM TIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

tư tưởng Hồ Chí Minh

Niềm tin là một lĩnh vực đặc biệt của ý thức, liên hệ mật thiết với sự hiểu biết về thế giới khách quan, tồn tại trong từng con người và xã hội nhằm phản ánh thế giới khách quan Niềm tin được hiểu là sự thừa nhận một tính chân lý Do vậy, niềm tin

có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người nói riêng, sự phát triển xã hội nói chung Niềm tin chỉ được hình thành và phát triển khi đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của con người và xã hội, hướng con người tới nhu cầu, lợi ích

Ở Việt Nam hiện nay, niềm tin là một trong những vấn đề không chỉ được Đảng và Nhà nước, mà cả xã hội đều rất quan tâm Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến hai loại niềm tin: niềm tin tôn giáo và niềm tin khoa học trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Niềm tin tôn giáo trong đời sống xã hội Việt Nam được thể hiện trước hết quanhững

hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có từ rất sớm,

trước khi có sự du nhập của các tôn giáo ngoại sinh Hệ thống tín ngưỡng ở nước ta

đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau, từ các lễ thức trong chu kỳ đời sống con người (sinh thành, cưới xin, ma chay ) đến lễ thức thờ cúng tổ tiên và những người có công với làng, nước Mỗi nhà đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ cúng tổ tiên, làng xã thì thờ thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ

Trang 3

ngành, nghề, danh nhân văn hoá, trong phạm vi vừa biểu hiện tình cảm nhớ ơn những người có công sinh thành và dưỡng dục, vừa cầu mong sự che chở "phù hộ độ trì" của tổ tiên, ông bà cho con cháu mạnh khoẻ, được hưởng phúc, tránh tai hoạ ở ngay thế giới hiện hữu Hoạt động thờ cúng thần địa phương thể hiện tình cảm coi trọng những người có công dựng nước và giữ nước, được phản ánh rõ nét trong tín ngưỡng truyền thống của dân tộc

Trong quá trình giao lưu văn hoá Đông – Tây, có nhiều tôn giáo ngoại lai đã du nhập vào Việt Nam, song các tôn giáo đó đều đã được bản địa hoá và mang dấu ấn Việt Nam Với tinh thần khoan dung, độ lượng và tính nhân ái vốn có cùng với yêu cầu cố kết cộng đồng trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, người Việt đã chấp nhận

một sự hoà nhập, đan quyện các yếu tố tôn giáo khác nhau vào mình, miễn là nó

không phạm đến lợi ích quốc gia và không đi ngược lại truyền thống văn hoá của dân tộc Tính dung hợp, đan xen, hoà đồng của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam làm cho ở nước ta, về cơ bản, không có xung đột đức tin, chiến tranh tôn giáo Đối với nhiều người Việt Nam, khó xác định đức tin tôn giáo cụ thể ở họ Dưới con mắt của họ, các thánh thần đều như nhau, đều có thể làm toại nguyện lời cầu xin, thoả mãn được nhu cầu tâm linh Vì thế, không ít người đặt niềm tin vào nhiều vị thánh, thần; vái tứ phương với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”; sẵn sàng chấp nhận cả thần, thánh, tiên, phật, thượng đế, ma quỷ, thổ công, hà bá…; lễ bái ở đình, chùa, miếu… nhưng vẫn chăm thờ cúng tổ tiên Như vậy, có thể nói rằng, ngoài những mặt hạn chế, niềm tin tôn giáo còn đáp ứng nhu cầu tâm lý, đời sống tâm linh của một bộ phận dân cư có tín ngưỡng; đồng thời, nó cũng góp phần lưu giữ và thể hiện một số giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc

Trong điều kiện như vậy, việc thực hiện nhất quán chính sách của Đảng về tôn trọng

và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng xã hội mới Nhờ những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đời sống của đồng bào các tôn giáo được cải thiện về mọi mặt và do vậy, ngoài niềm tin tôn giáo vốn có, niềm tin của họ vào Đảng và Nhà nước cũng ngày càng được nâng lên Đồng bào ngày càng thấy rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của tôn giáo gắn bó mật thiết với lợi ích của đất nước

Trang 4

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, hiện nay, tình trạng gieo rắc mê tín dị đoan và các niềm tin tôn giáo không lành mạnh, thậm chí lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để kích động, thực hiện “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền chống phá cách mạng vẫn đang ngấm ngầm diễn ra Đây là một nguy cơ đối với sự ổn định và phát triển của xã hội cần sớm được ngăn chặn một cách tích cực và có hiệu quả Về vấn đề tôn giáo nói chung và niềm tin tôn giáo nói riêng, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là tiếp tục "thực

hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc

không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp

luật Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn

giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, làm phương hại đến lợi ích chung của đấtnước"(1)

Cùng với sự phát triển của lịch sử, khả năng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người cũng ngày càng được nâng cao đã tạo điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển của niềm tin mới Sự vận dụng từng bước những tri thức mang tính kinh nghiệm và sau này là những tri khoa học - kỹ thuật vào hoạt động thực tiễn của nhân dân ta là

cơ sở dẫn đến sự biến đổi của niềm tin, từ niềm tin mang mầu sắc thần bí của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sang niềm tin có căn cứ khoa học của con người và xã hội Như chúng ta đã biết, sự du nhập của nhiều trào lưu tư tưởng Đông - Tây vào Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến niềm tin trong đời sống xã hội Trong thời kỳ Trung đại, cha ông ta đã khai thác những giá trị trong các trào lưu tư tưởng Nho, Phật, Lão; đưa ra lời giải cho bài toán về sự thống nhất tinh thần, hình thành nên sức mạnh cộng đồng phục vụ cho sự cường thịnh của quốc gia, cho nền văn minh Đại Việt Song, các học thuyết đó cũng không đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển xã hội trong giai đoạn hiện đại

Đến những thập niên đầu thế kỷ XX, các học thuyết phát triển xã hội thuộc ý thức hệ phong kiến và ý thức hệ tư sản đã không giúp được gì cho con đường giải phóng dân tộc cũng như xây dựng niềm tin mới cho nhân dân Trong vô số những học thuyết, chủ nghĩa đã có, học thuyết Mác - Lênin với tính cách hệ tư tưởng của giai cấp vô sản được Hồ Chí Minh tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam, trở thành nền tảng lý luận của cách mạng Việt Nam, thành hạt nhân trong đời sống tinh thần của xã hội Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết cách mạng vĩ đại, là thế

Trang 5

giới quan khoa học trong thời đại hiện nay; nó có khả năng vạch ra bức tranh tổng quát về thế giới, tính quy luật phổ quát của sự phát triển tự nhiên, xã hội và ý thức, cũng như con đường phát triển xã hội - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Đó là hệ thống lý luận khoa học về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội; tạo thành thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động, là phương pháp luận phổ quát để nhận thức và cải biến thế giới Tính khoa học của thế giới quan mà học thuyết Mác - Lênin mang lại thể hiện ở

sự tiếp cận, giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội và ý thức con người từ lập trường duy vật biện chứng, ở sự đấu tranh phê phán thế giới quan phản khoa học và chưa khoa học; ở sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, tích cực cải tạo hiện thực bằng hành động cách mạng trên cơ sở nhận thức các quy luật khách quan; Thế giới quan duy vật biện chứng mà học thuyết Mác - Lênin mang lại là ánh sáng khoa học chỉ đường, soi lối cho nhân dân Việt Nam trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn Nó ươm mầm cho sự nảy nở, bén rễ và phát triển của một niềm tin mới - niềm tin khoa học

Niềm tin khoa học dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng ấy đã ngày càng được củng cố, phát triển cùng với tiến trình vận động, phát triển của đất nước kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời; trở thành động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của nhân dân Chủ nghĩa Mác – Lênin đã thắp sáng nên trong quần chúng nhân dân niềm tin vào tương lai Với niềm tin vào sức mạnh của con người mà lý luận khoa học ấy mang lại, nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta luôn giữ vững một niềm tin sắt đá: “Kháng chiến nhất định thắng lợi” Niềm tin ấy là một niềm tin khoa học, nó dựa vào truyền thống lịch sử kiên cường của dân tộc, vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, vào năng lực nắm bắt và vận dụng sáng tạo các quy luật đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam cũng như dự báo đúng đắn về xu thế phát triển của thời đại Thực tiễn của các cuộc kháng chiến cùng với sự giáo dục, tuyên truyền của Đảng ta đã thâm nhập vào đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân, thổi bùng nên niềm tin của họ vào ngày toàn thắng Nó góp phần làm cho định hướng giá trị của từng cá nhân và của xã hội hoà quyện vào

Trang 6

nhau, tạo nên sức mạnh của dân tộc và xung lực cho hành động anh hùng, dũng cảm của nhân dân để đưa sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và thống nhất Tổ quốc đến thắng lợi hoàn toàn

Có thể nói, trải qua thực tiễn, niềm tin của nhân dân ta vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố và phát triển Sau “cơn bão chính trị” xảy ra vào những năm 90 của thế kỷ XX, khi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên

Xô và các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ, không ít người rơi vào tình trạng hoang mang, dao động Trong bối cảnh đó, với niềm tin mãnh liệt vào tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam vẫn kiên trì con đường phát triển đất nước đã lựa chọn, chủ động và tích cực tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự phát triển trên mọi phương diện của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, của đất nước trong 20 năm đổi mới là bằng chứng thực tiễn xác nhận đường lối đúng đắn của Đảng; đồng thời, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với tính cách Đảng cầm quyền

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, những mặt trái của toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường đang tạo ra không ít vấn đề có ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân Những khuyết điểm và yếu kém trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội

mà Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ ra, như tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng, tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt, tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận

và các đoàn thể nhân dân còn chậm đổi mới cũng là những nguyên nhân đáng kể

Vì vậy, hơn bao giờ hết, hiện nay, việc xây dựng và củng cố niềm tin khoa học cho nhân dân là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng Có rất nhiều việc phải làm để đạt được mục tiêu đó, song quan trọng nhất là:

Trước hết, Đảng ta cho rằng, phải “nâng cao mặt bằng dân trí, đảm bảo những tri

thức cần thiết để mọi người gia nhập cuộc sống xã hội và kinh tế theo kịp tiến trình đổi mới và phát triển đất nước”(2) Đây là nhiệm vụ quan trọng vừa có tính chiến

lược, vừa có tính cấp bách Ngoài ý nghĩa là sự chuẩn bị các điều kiện cầnvà đủ để

sẵn sàng và nhanh chóng tranh thủ cơ hội thuận lợi do xu thế toàn cầu hoá, hội nhập

Trang 7

kinh tế quốc tế mở ra nhằm thực hiện rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức,

việc "nâng cao mặt bằng dân trí, đảm bảo những tri thức cần thiết" còn là sự khai

thông về mặt nhận thức cho nhân dân, tạo cơ sở để họ xác định, lựa chọn niềm tin

đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại, cụ thể là hướng tới những niềm tin khoa học, góp phần tích cực làm cho xã hội phát triển bền vững Tri thức nói ở đây là năng lực, kỹ năng và thói quen suy nghĩ, hành động một cách khoa học

để bắt nhịp với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Muốn vậy, phải đổi mới giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh sự phát triển của khoa học và công nghệ Cụ thể là, trong những năm tới, nhiệm vụ của chúng ta, như Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ, là cần đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện

“chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam; đồng thời, phấn đấu đưa năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng(3)

Thứ hai, phải xây dựng những cơ sở thực tiễn nhằm củng cố, xây dựng niềm tin khoa

học Theo quan điểm của Đảng ta, việc “kết hợp các mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến

và hưởng thụ”(4) chính là nhằm tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Có thể khẳng định rằng, thực hiện được những

nhiệm vụ đó cũng có nghĩa là chúng ta đã trực tiếp tạo nên cơ sở thực tiễn - tiền đề

quan trọng để xây dựng, củng cố và phát triển niềm tin khoa học trong quần chúng

nhân dân Thực tiễn cho thấy, niềm tin của nhân dân sẽ giảm sút khi nền kinh tế lâm

vào khủng hoảng và không phát triển, các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển con người, như lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn hoá, an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng đồng không được cải thiện và nâng cao Vì vậy, Đảng ta rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế – xã hội nhằm xây dựng, củng cố niềm tin khoa học cho nhân dân Đây là bài học kinh nghiệm lớn mà Đảng ta đã rút ra từ thực tiễn đất nước cũng như từ sự nhận thức lại

Trang 8

một cách đầy đủ, đúng đắn và khoa học hơn những di sản lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này

Thứ ba, một yêu cầu cấp bách đối với xã hội ta hiện nay là phải có tầm nhìn mới về

những thời cơ và thách thức đối với công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá Cụ thể là, phải có những quan điểm khoa học về thế giới, về quy luật phát triển chung của thế giới, về con đường nhận thức và biến đổi thế giới (thế giới quan khoa học) để thay thế cho những quan điểm của thế giới quan phản khoa học hoặc chưa khoa học - một trong những cái gọi là tàn dư của xã hội cũ hiện vẫn còn tồn tại trong đời sống tinh thần của một bộ phận đáng kể quần chúng nhân dân, nhất là ở

những vùng đồng bào dân tộc thiểu số Muốn vậy, cần “đổi mới mạnh mẽ nội dung,

hình thức, biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh”(5) cho phù hợp với điều kiện hiện nay Đảng ta đã khẳng định rằng, cùng với

chủ nghĩa Mác - Lênin, “tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(6), là

"nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động" của Đảng và nhân dân trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội Nói cách khác, cùng với những thành tựu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận vững chắc để chúng ta xây dựng và củng cố niềm tin khoa học Bởi vậy, việc tiếp tục giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho toàn Đảng, toàn dân là nhiệm vụ trọng tâm của công tác lý luận – tư tưởng

Niềm tin là một bộ phận của ý thức con người, có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tác động mạnh đến hoạt động của con người và xã hội Nhiều nhà khoa học và triết học tiến bộ đã cho rằng, niềm tin khoa học chỉ được xây dựng và củng cố dựa trên cơ sở hệ thống tri thức khoa học và tình cảm tích cực của con người Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ trước đến nay cho thấy, Đảng ta luôn nhận thức đúng vai trò của niềm tin, luôn quan tâm tới việc xây dựng, củng cố và phát triển niềm tin khoa học trong nhân dân Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng niềm tin khoa học cho nhân dân phải được tiến hành đồng bộ, gắn liền với nâng cao dân trí, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với xã hội, phải giáo dục thế giới quan và phương pháp

Trang 9

biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh./

(*) Tiến sĩ, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.42 - 43

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr198

(3) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 95, 98

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam Sđd., tr 101

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam Sđd., tr 283

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001, tr 84

THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO TRIẾT HỌC Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA – MẤY ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI

Trang 10

phương pháp giảng dạy, gắn giảng dạy với nghiên cứu

1 Thành tựu và những vấn đề đang đặt ra

Nghiên cứu và đào tạo triết học ở Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay, đặc biệt là từ

30 năm (từ 1975) trở lại đây, đã thu được những thành tựu to lớn, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong lịch sử phát triển nền triết học nước nhà

Với kho tàng tư tưởng dân tộc quý báu, tiếp thu tinh hoa triết học nhân loại bằng triết học Mác - Lênin và đứng trên nền tảng triết học khoa học đỉnh cao đó, sự nghiệp nghiên cứu và đào tạo triết học Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn, đã nâng văn hoá triết học của nhân dân ta lên một tầm cao mới, trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho đội ngũ cán bộ của Đảng Nhà nước và các đoàn thể vận dụng sáng tạo và hiệu quả tri thức và văn hoá triết học vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, phát triển con người, hình thành một đội ngũ các nhà triết học có trình độ, năng lực, khả năng đảm đương sự nghiệp xây dựng và phát triển nền triết học theo hướng hiện đại: đối thoại được với những tư tưởng, trào lưu triết học thế giới, khẳng định được năng lực trí tuệ, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo của giới khoa học nói chung, giới triết học Việt Nam nói riêng

Có thể nói, cùng với hệ thống các ngành khoa học xã hội và nhân văn, nền triết học nói chung, hoạt động nghiên cứu – đào tạo triết học 30 năm qua nói riêng ở Việt Nam đã thực sự góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, phát triển đời sống tinh thần, phát triển trí tuệ, năng lực tư duy, khả năng khám phá và sáng tạo trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội, khoa học, giáo dục của dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh và nguồn lực triết học nước nhà, phát huy những thành tựu nghiên cứu và đào tạo triết học thời gian qua, đặc biệt là nghiên cứu và đào tạo triết học trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tất cả chúng ta đều nhận thấy, dù là trực quan hay cảm tính (vì chưa có cứ liệu điều tra cụ thể), những bất cập của cả quá trình nghiên cứu và đào tạo của chúng ta

Trước hết, cần khẳng định rằng, ở nước ta trong thời gian qua, nghiên cứu và đào tạo

nói chung, triết học nói riêng chưa có sự gắn kết thực sự có hiệu quả Sự hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo giữa các trường đại học đã được thiết lập, nhưng có thể

Trang 11

khẳng định, hiệu quả của sự hợp tác đó chưa cao Trong khi đó, như chúng ta đều biết, nghiên cứu và đào tạo luôn là một quá trình thống nhất – quá trình tìm tòi khám phá, làm giàu tri thức, tạo ra tri thức mới và nạp tri thức cho con người Do đó, phải

có nghiên cứu triết học tốt mới có đào tạo triết học tốt Đào tạo triết học không thể nào khác là phải trên cơ sở và bằng những thành tựu triết học mới Cho nên, cần có cách nhìn nhận mới, cách triển khai, cách tổ chức mới để làm sao có thể kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo một cách tốt nhất trong cả quá trình này Chỉ khi có được một

cơ chế thích hợp trong hoạt động đó, chúng ta mới có thể tạo ra chuyển biến cả trong nghiên cứu lẫn trong đào tạo triết học Phải chăng, đó là mô hình viện gắn với trường, viện trong trường, trường trong viện, người làm công tác giảng dạy đồng thời

là nhà nghiên cứu và nhà nghiên cứu cũng phải tham gia giảng dạy

Thứ hai, điều quyết định nhất để bảo đảm tính đúng đắn và do vậy, cả kết quả của

nghiên cứu và đào tạo triết học, trước hết phải có quan niệm đúng về triết học Quan niệm đúng thì dù nhanh hay chậm, quá trình nghiên cứu – đào tạo sẽ cho ta kết quả đúng và đi tới mục tiêu; quan niệm sai thì hướng đi sẽ lệch lạc, nghiên cứu và đào tạo sẽ cho ra những sản phẩm méo mó, què quặt Quan niệm về triết học của chúng

ta, theo tôi, còn nhiều vấn đề cần phải bàn, nhưng phải chăng, một nhược điểm căn bản nhất là còn cứng nhắc và máy móc, nếu không nói là thô thiển đối với tính chất

và đặc điểm của bản thân triết học

Suốt một thời gian dài – cho đến những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta quan niệm

và nghiên cứu triết học như là một hệ thống triết học hoàn chỉnh với một số quy luật, phạm trù cố định Những năm gần đây đã có nhiều đổi mới, nhưng trong nhận thức

và trong tư duy, và do đó, cả trong cách tiếp cận và thực hành, chúng ta vẫn theo hướng tách nhận thức về tự nhiên khỏi nhận thức về xã hội

2 Về nghiên cứu triết học

Triết học là khoa học về tư duy và về thực chất, là một hệ thống luận lý về thế giới

(tự nhiên, xã hội, con người) Như vậy, có thể nói, triết học là các cách luận lý của loài người, chúng tồn tại từ cổ đại đến hiện đại, từ Đông sang Tây Luận lý ấy diễn ra dưới vô vàn hình thức và phương pháp: lôgíc – lịch sử, phân tích – tổng hợp, khái quát hoá - trừu tượng hoá, v.v để cuối cùng, đưa ra những đánh giá dưới dạng kết quả tổng hợp của con người về thế giới Luận lý về đối tượng (sự vật, hiện tượng) có

Trang 12

và duy vật lịch sử là một thể thống nhất, là một cách luận lý về tự nhiên, xã hội và con người Yếu tố duy vật biện chứng, duy vật lịch sử luôn hoà quyện trong quá trình luận lý về kinh tế, lúc đó ta có triết học kinh tế; về chính trị – ta có triết học chính trị;

về xã hội – ta có triết học xã hội; về văn hoá - ta có triết học văn hoá; về khoa học –

ta có triết học về cái đúng – chân lý; triết học về đạo đức – (cái thiện), triết học về thẩm mỹ (cái đẹp), v.v

Do tư duy triết học theo kiểu cũ đó mà nghiên cứu triết học của ta bị xơ cứng, thô thiển Chúng ta nói sự vật, hiện tượng và nói chung là đối tượng triết học luôn vận động và phát triển, nhưng cách tiếp cận của chúng ta mang tính một chiều (duy vật hay duy tâm), nhiều cái đã an bài, không đặt ngược vấn đề để nghiên cứu: những vấn

đề xã hội, con người, thế giới tâm linh; chúng ta đóng khuôn trong các phương pháp tiếp cận và nghiên cứu đối tượng, không thấy rằng các phương pháp nghiên cứu, cả

lý luận lẫn thực tiễn, còn phải có các cách khẳng định bằng phủ định, thực hiện định

đề ngược, không chỉ chứng minh nó đúng, mà còn chứng minh cái khác sai để khẳng định cái đúng; không chỉ có thế, triết học còn có các phương pháp cảm nhận để đi vào thế giới bí ẩn Dường như chúng ta coi phương Tây là cách quan niệm, cách tư duy, cách nghiên cứu của các nhà triết học phương Tây với các điều kiện đặc thù, có thể là nổi trội, nào đó của họ (như tiền đề tư tưởng, điều kiện kinh tế – xã hội, khoa học – kỹ thuật, v.v.) Triết học phương Đông có cách quan niệm, cách tiếp cận, cách nghiên cứu của người phương Đông với các điều kiện, đặc thù riêng có của người phương Đông Thực tế, triết học phương Đông không tiếp cận đối tượng bằng hệ thống các phạm trù như triết học phương Tây, mà bằng thế giới nội tâm, bằng cảm quan; nó có thể đi sâu khám phá thế giới tinh thần, sự huyền bí, tính linh diệu riêng của tâm hồn phương Đông

Với điều kiện và đặc điểm của riêng mình, các nhà triết học Việt Nam cũng phải trên nền tảng ưu thế của mình mà quan niệm, tư duy, khám phá thế giới, xã hội, con

Trang 13

người theo cách của mình Kế thừa, phát triển triết học thế giới, đặc biệt là triết học phương Đông, trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, với sức mạnh riêng của những đặc điểm tư duy Việt Nam, chúng ta sẽ tạo ra những sản phẩm triết học đích thực mang giá trị Việt Nam và giá trị nhân loại

Với tinh thần như vậy, triết học Việt Nam có thể nghiên cứu theo tinh thần không phân chia triết học duy vật biện chứng – duy vật lịch sử (chúng là một thể tư duy thống nhất, có mặt trong mọi nhận thức và nghiên cứu đối tượng triết học), v.v., mà

là nên theo hướng khám phá, tìm tòi, xây dựng tri thức (theo các khía cạnh triết học sau:

- Triết học giá trị, gồm: chân lý, đạo lý, mỹ lý… nói chung và chân lý, đạo lý, mỹ lý của Việt Nam nói riêng;

- Triết học về đời sống tinh thần và về tư duy;

- Triết học chính trị – xã hội;

- Triết học kinh tế;

- Triết học hành động, thực hành nói chung và của Việt Nam nói riêng;

- Triết học văn hoá (về các mô thức văn hoá với bản sắc của chúng, phong tục, tập quán các dân tộc);

- Triết học tâm linh (triết học về niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo, các hiện tượng khác

mà con người chưa giải thích được)

Sản phẩm nghiên cứu của giới triết học Việt Nam có một hạn chế rõ nét là không thể

hiện rõ tư tưởng độc lập, thiếu một sự luận giải đạt đến tầm, theo một lôgíc riêng; giữa công trình này và công trình kia ở một nhà nghiên cứu chưa thể hiện rõ một lôgíc chung theo cả quá trình, theo một hệ thống và do vậy, suốt cuộc đời nghiên cứu, dẫu người đó có thể có tới hàng trăm công trình, nhưng không xây dựng được một chủ thuyết riêng, không ai hiểu hệ thống tư tưởng triết học của người đó là gì

Do vậy, chúng ta khó có thể tìm ra được những gương mặt triết học, không tìm thấy các tư tưởng chủ đạo của từng nhà triết học Nguyên nhân của thực trạng đó là do triết học ở Việt Nam bị khuôn mẫu, phương pháp tiếp cận sáo mòn, không đặt vấn đề nghiên cứu là tìm tòi, khám phá, sáng tạo cái mới và kết quả là ít có những đột phá, ít

có những khuynh hướng triết học mới, diện mạo triết học không rõ, thiếu sắc thái riêng, không có những đóng góp lớn về giá trị phổ quát

Trang 14

Từ đó, theo tôi, cần đổi mới cách đặt vấn đề trong nghiên cứu triết học theo hướng:

- Trên cơ sở lợi ích dân tộc, sự phát triển đất nước, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng các nhà triết học tới quan niệm triết học đúng đắn, tự

do tìm tòi, khám phá, sáng tạo;

- Xây dựng các quan điểm, lý thuyết, trường phái triết học bằng các cách tư duy phong phú, phương pháp nghiên cứu đa dạng để trong thời gian ngắn, có thể hình thành những trường phái triết học, những hiện tượng triết học, những gương mặt triết học có vị trí nhất định trong giới khoa học và nền khoa học Việt Nam

3 Về đào tạo triết học

Quan niệm, cách tư duy và nghiên cứu triết học đã vậy thì đào tạo triết học cũng

không thể thoát khỏi quan niệm, cách tư duy, nội dung kiến thức, chương trình đào tạo, cách truyền thụ kiến thức tương ứng: xơ cứng, máy móc, thô thiển và kết quả của đào tạo là đưa ra những sản phẩm (con người) thiếu căn bản, méo mó, thiếu hụt tri thức, đặc biệt là thiếu tư duy triết học Nhận định này là có tính xu hướng chung, còn trong thực tế, có nhiều người, do biết kết hợp nhiều nguồn tri thức, do biết cách học, cách nghiên cứu, nên đã đạt được những kết quả nhất định

Nghiên cứu và đào tạo là các công đoạn, các khâu của cả quá trình xây dựng và phát triển triết học cho từng con người, cho cả nền triết học nước nhà Dù đến nay, trong đào tạo của ta đã được bổ sung nhiều tri thức mới theo quy luật phát triển tri thức chung của xã hội loài người và theo sự sáng tạo của chúng ta trên cơ sở triết học Mác

- Lênin; song, về cơ bản, chúng ta vẫn đào tạo theo cách cũ và trong khuôn khổ triết học cũ (như đã nói ở phần trên)

Chương trình đào tạo của ta vẫn phân ra triết học duy vật biện chứng – duy vật lịch sử; điểm xuất phát để nghiên cứu và đào tạo của ta thường vẫn đóng khung trong một cách nhìn nhận thế giới, xã hội, con người; dường như ta vẫn còn bị chi phối bởi cách nhìn và cách làm là lấy một số tiêu chí có tính khuôn mẫu để soi xét thế giới (tự nhiên, xã hội, con người), mà ít lấy thế giới như là đối tượng chứa đựng vô vàn những ẩn số để khám phá nó từ mọi góc độ, từ mọi cách thức Theo chúng tôi, nghiên cứu – đào tạo cần phá vỡ tính khuôn mẫu này; phải tìm tòi, khám phá, sáng tạo để tạo ra được những sản phẩm (con người) có tư duy mở hết sức uyển chuyển,

có khả năng tìm tòi, khám phá, sáng tạo cao

Trang 15

Chúng ta cần soạn lại nội dung giáo trình, giáo khoa giảng dạy – đào tạo theo tinh

thần mở, phương pháp tiếp cận đa dạng và phong phú, đặc biệt là cần quan tâm phát

triển thế giới quan và phương pháp luận Đối với đối tượng đào tạo sau đại học và trên đại học, cần khắc phục và từng bước vượt thoát các nội dung giáo trình, giáo khoa có tính khuôn mẫu Các giáo trình, giáo khoa của các cấp đào tạo cần khác biệt

về trình độ khoa học, cả nội dung lẫn phương pháp tiếp cận Chương trình đào tạo trên đại học phải được xây dựng theo hệ thống chuyên đề, bảo đảm cập nhật kiến thức mới và hiện đại, những vấn đề triết học cấp bách mà nhân loại đang đặt ra, thời cuộc đang thách thức, đặc biệt là vấn đề toàn cầu và hội nhập quốc tế

Phương pháp giảng dạy cũng cần phải đổi mới theo hướng:

- Không truyền đạt lại nguyên xi giáo trình, giáo khoa (phần này học sinh tự đọc);

- Lý giải những vấn đề mới về phương diện khoa học, những vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn đang đặt ra;

- Chỉ gợi mở để người học suy tư, tìm tòi, đề xuất cách hiểu, cách lý giải;

- Khuyến khích tính chủ động, tích cực, độc lập suy nghĩ, khám phá cái mới;

- Chấp nhận, khuyến khích các đề xuất ý tưởng táo bạo, khác truyền thống (tất nhiên

- Triết học về giới tự nhiên, về xã hội, về con người;

- Triết học kinh tế, triết học chính trị, triết học văn hoá, triết học khoa học - công nghệ, triết học đạo đức, triết học pháp quyền, triết học thẩm mỹ;

- Triết học thực tiễn - hành động;

- Triết học tinh thần, tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo)

Bởi theo tôi, có đào tạo triết học theo hướng như vậy mới cung cấp và đào tạo được cho người học:

- Cách nhìn nhận đúng về thế giới, về xã hội, về con người;

- Cách xây dựng và phát triển xã hội Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống, con người;

Trang 16

- Sử dụng tốt các phương pháp nhận thức, phân tích, đánh giá triết học như phép biện chứng duy vật, lôgíc - lịch sử, phân tích – tổng hợp, khái quát hoá - trừu tượng hoá, phép tổng hợp, v.v của triết học nhân loại

Có như vậy, triết học mới thực sự trở thành thế giới quan, phương pháp luận cho tư duy và hành động cải tạo xã hội, xây dựng và phát triển cuộc sống tương lai; và có như vậy, mới thấy triết học thực sự là thế giới quan và phương pháp luận, nền tảng tư tưởng và công cụ sắc bén cho hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá một cách

có hiệu quả

Ngay từ bây giờ, chúng ta phải khẩn trương đổi mới cách suy nghĩ, hướng đi, hướng phát triển tư duy và phương pháp nghiên cứu, đào tạo Và, điều quan trọng, có tính quyết định là phải biến suy nghĩ thành hành động, phải bắt tay làm ngay từ bây giờ Suy nghĩ đúng, hướng đi đúng, cách nghĩ và cách làm đúng ngay từ hôm nay thì mới

có thể sau 50, thậm chí 100 năm, nền triết học Việt Nam mới có thể đạt được những thành tựu rõ nét, mới có thể nói tới sự đóng góp những giá trị triết học riêng, đặc sắc của Việt Nam vào nền triết học thế giới./

* Giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính

Quốc gia Hồ Chí Minh

TỪ ĐẠO HIẾU TRUYỀN THỐNG, NGHĨ VỀ ĐẠO HIẾU NGÀY NAY

NGUYỄN THỊ THỌ (*)

“Hiếu” được hình thành từ xa xưa, gắn liền với phong tục thờ cúng tổ tiên, về sau

được Nho giáo phát triển và thể chế hoá thành chuẩn mực đạo đức Về cơ bản, nội dung phạm trù “hiếu” mang một ý nghĩa tích cực, đó là bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có nét đặc sắc riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo Đặc biệt, truyền

Trang 17

thống “hiếu” của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh Ở Người, phạm trù“hiếu” được chuyển đổi mang tính cách mạng Trong điều kiện hiện nay, tác giả cho rằng, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò của chữ “hiếu” trong gia đình cũng như ngoài xã hội; kế thừa, phát triển “hiếu” theo tinh thần Hồ Chí Minh, gắn với yêu cầu của xây dựng gia đình văn hoá mới

Đã từ lâu, cha ông ta hết sức coi trọng việc giáo dục đạo lý làm người cho con cháu,

mà trước hết là phải lấy chữ hiếu làm đầu:

“Làm trai nết đủ trăm đường,

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”

Bởi lẽ, một con người mà không có hiếu đối với ông bà, cha mẹ, không biết yêu thương, kính trọng những người sinh thành dưỡng dục mình, thì khi ra ngoài xã hội, con người ấy khó trở thành người có tình cảm, biết yêu thương những người xung quanh

Trách nhiệm, nghĩa vụ đối với ông bà, cha mẹ được cô đúc trong khái niệm hiếu

Hiếu không những được xem là đứng đầu của đức hạnh, mà còn là cội nguồn để có được phúc thiện:

“Điều hiếu đứng vững,

Muôn điều thiện theo

Phúc thiện đúng đạo,

Phúc lành được gieo”

(Xuân đình gia huấn)

Theo đó, mỗi cá nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của gia đình, gia tộc, tuân theo nề nếp gia phong “trên kính dưới nhường”, khác đi đều bị coi là bất hiếu

Hiếu được hình thành từ xa xưa, gắn liền với phong tục và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, về sau được Nho giáo phát triển và thể chế hoá thành chuẩn mực đạo đức Nho

giáo quan niệm, cái gốc của đạo nhân là ái và kính, mà ái và kính có cội nguồn từ

chữ hiếu Khi nói về đạo trị nước của nhà vua, Khổng Tử cho rằng: “Lòng nhân ái có được bắt đầu từ chỗ yêu người thân như cha mẹ, như vậy mới dạy dân hiếu mục được Muốn dạy dỗ người khác phải bắt đầu từ người lớn trước mới dạy dân thuận

Trang 18

theo được (Trong sự nghiệp) dạy dỗ dùng tình nhân ái hoà mục thì dân quý và coi mình như người thân Dạy biết kính bậc tôn trưởng nên dân quý mà nghe theo Lấy lòng hiếu ra thờ cha mẹ, thuận theo mệnh lệnh thì đức giáo sẽ rộng ra khắp thiên hạ, không ai là không theo”(1) Như vậy, trong sự giáo hoá của mình, Nho giáo

lấy hiếu làm trọng

Theo Nho giáo, hiếu bao hàm nhiều yêu cầu Trước hết, trong gia đình, con cái phải

có trách nhiệm phụng dưỡng bố mẹ khi về già và tế tự khi bố mẹ mất Khổng Tử nói:

“Khi cha mẹ sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an táng, và khi cúng tế cũng phải theo đúng lễ”(2) Điều đó có nghĩa là phận làm con phải có hiếu với cha mẹ không những lúc còn sống, mà cả khi cha mẹ đã mất Khổng

Tử cho rằng, nuôi cha mẹ thì phải một lòng kính trọng, nếu không kính trọng thì không phải là người có hiếu, đến như giống chó, ngựa đều có người nuôi Nuôi mà không kính thì chẳng khác gì nuôi thú vật Vậy nên, nuôi cha mẹ cốt yếu nhất là ở lòng thành kính, dẫu phải ăn gạo xấu, uống nước lã mà làm cho cha mẹ được vui, ấy

gọi là hiếu Thứ hai, người con trong gia đình phải có khả năng và điều kiện để kế

tục sự nghiệp của cha Có như thế mới là nhà có phúc Cha có con trai thì con cũng phải có con trai, nghĩa là ông phải có cháu trai, nếu không được như thế thì bị coi là nhà vô phúc và người con trai đó bị coi là bất hiếu Do quá chú trọng đến dòng dõi tông tộc, cộng với hạn chế về mặt lịch sử trong việc nhận thức về sinh lý con người,

nên Nho giáo có nhận định mang tính hà khắc, chủ quan Thứ ba, phận làm con trong gia đình không được phép trái lời cha mẹ Xét trong quá trình lịch sử thì chữ hiếu của

đạo đức Nho giáo quả đúng như vậy Trong giai đoạn đầu của Nho giáo, quan niệm

về hiếu có những nét tích cực nhất định Ví như Khổng Tử nói: “Trong khi cha mẹ

còn sống phận làm con chớ có đi chơi xa Nếu đi chơi đâu thì thưa trước cho cha mẹ biết”(3) Hoặc khi cha mẹ làm điều gì trái với đạo thì con cái phải dùng cách ôn hoà

mà can ngăn Nếu cha mẹ không nghe thì lại tỏ lòng cung kính và hiếu thảo, rồi dần lựa cách mà nói cho cha mẹ biết lẽ phải để sửa đổi lại:

“Những điều gì tốt trông cha mẹ nên,

Những điều hư hèn trông cha mẹ khỏi”

Đó là những nét mang tính nhân văn, nó không chỉ cần cho xã hội Nho giáo xưa mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ đạo hiếu với cha mẹ ở xã hội hiện đại ngày

Trang 19

nay

Nho giáo cũng cho rằng, những người con có hiếu còn là những người biết khéo tiếp nối được cái chí của cha mẹ, biết khéo noi gương được việc làm của cha mẹ, biết phân biệt để xem những cái nào hay thì theo, cái nào dở thì bỏ Khổng Tử nói: “Xét người con thì khi cha còn sống, xem chí hướng của người ấy, khi cha chết thì xem hành vi của người ấy Ba năm không thay đổi so với đạo của cha, thì có thể gọi là hiếu vậy”(4)

Dạy về hiếu, Khổng Tử cho rằng phải giữ đạo trung dung Theo Khổng Tử, việc thờ

cha mẹ không phải là cái lẽ cuối cùng của sự hiếu, mà cái lẽ cuối cùng của sự hiếu là

lấy hiếu gây thành đạo nhân, vì người có hiếu tức là có nhân.Nhân với hiếu thường

đi cùng nhau, nên những người có địa vị trọng yếu trong xã hội phải là những người rất chú ý về đạo hiếu: “Người quân tử ngồi ở trên mà trọn đạo với cha mẹ, thì dân chúng sẽ hướng về “nhân”; người ở ngôi trên không bỏ rơi bạn bè xưa cũ, thì dân chúng sẽ không ăn ở bạc bẽo lạnh lùng”(5) Người quân tử ở đây là những người có quyền hành, địa vị trong tay, làm gương cho dân chúng Những người ấy mà bất

hiếu, tình cảm đơn bạc thì không thể khiến cho người dân có nhân, có nghĩa, có tình

cảm được Vậy nên, Tăng Tử mới nói rằng: “Thận chung, truy viễn, dân đức quy hậu hỹ” (nghĩa là: Người trên mà thận trọng trong tang lễ cha mẹ và lo tế tự tổ tiên các đời trước, thì đạo đức của dân chúng sẽ quy về trung hậu)(6)

Tuân Tử cho rằng, cái biết của thánh nhân là cái biết sâu sắc, cái biết từ nguyên tắc,

từ tính lý biết đi – cái biết mà Tuân Tử gọi là “Tri thông thống loại” – nghĩa là biết lấy đạo nghĩa làm nguyên tắc căn bản để rồi từ đó suy ra Cái biết đó hơn hẳn cái biết của người thường Tỷ dụ: người thường biết hiếu với cha, trung với vua là nghe theo mệnh lệnh của cha, của vua; nhưng “tri thông thống loại” thì biết “ theo đạo chẳng theo vua, theo nghĩa chẳng theo cha, đó mới là cái hạnh lớn của con người” Ông phân biệt, người con hiếu có ba lý do “bất tòng mệnh”: Tòng mệnh thì người thân nguy, bất tòng mệnh thì người thân yên, <gặp trường hợp này> người con hiếu bất tòng mệnh là “chung” - đúng phải Tòng mệnh thì người thân nhục, bất tòng mệnh thì người thân vinh, <gặp trường hợp này> người con hiếu bất tòng mệnh là nghĩa Tòng mệnh thì không khác cầm thú, bất tòng mệnh thì hợp lễ giáo, <gặp trường hợp này> người con hiếu bất tòng mệnh là kính

Trang 20

Cho nên nên tòng mà bất tòng là bất hiếu, không nên tòng mà tòng là bất “chung”(7) Như vậy, về cơ bản, nội dung phạm trù hiếu mang một ý nghĩa tích cực, bắt nguồn từ tình cảm xa xưa - đó là phận làm con phải có hiếu với cha mẹ Đây cũng là tình cảm

và yêu cầu đạo đức có ý nghĩa phổ biến phù hợp với mọi dân tộc, trước hết là các dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi lại biết bao tấm gương hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ

Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo Tuy vậy, đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có những nét độc đáo riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo Ngay cả những người thuộc tầng lớp trên, được đào tạo Nho giáo một cách đầy đủ, họ cũng tiếp biến đạo hiếu song đã biến đạo hiếu trở thành giá trị và chuẩn mực đạo đức mang bản sắc Việt Nam Chẳng hạn, dưới triều Trần, trước khi lâm chung, Trần Liễu nhắc con phải báo thù cho ông Tuy vậy, Trần Quốc Tuấn đã bỏ đi hiềm khích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, không nghe lời cha, giữ hoà khí với Trần Quang Khải, anh em đồng lòng đánh thắng giặc Mông - Nguyên, báo hiếu cho xã tắc

Vào thời Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về Chi Lăng, Nguyễn Trãi

đã theo khóc đến tận ải Nam Quan Nguyễn Phi Khanh nói: “Con phải trở về mà lo

báo thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì” Vâng lời cha,

Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc phục thù, bày kế giúp Bình Định Vương đánh thắng quân xâm lược

Dưới thời Nguyễn, Phan Bội Châu nuôi chí lớn của cha, gắng sức học tập, thi đỗ giải nguyên để người cha đang hấp hối trên gường bệnh được yên lòng nhắm mắt ra đi Ông đã mở rộng đạo hiếu với cha ra đạo hiếu đối với dân tộc, giống nòi, hoạt động cách mạng và trở thành nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng đầu thế kỷ XX

Trong dân gian, đạo hiếu được thể hiện ngay trong những lời ru từ khi con người mới sinh ra, còn nằm trong nôi:

“Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Nội dung chữ hiếu trong dân gian đơn giản, thiết thực, bất kỳ ai cũng có thể thực

Trang 21

hiện được, chỉ cần có tấm lòng hiếu thảo thực tâm Đó là sự quan tâm, chăm sóc, cầu mong cha mẹ khoẻ mạnh, sống lâu, vui vẻ Đó cũng là những cố gắng gìn giữ, phát huy nề nếp, gia phong, là sự biết ơn ông bà tổ tiên và sự chăm sóc các thế hệ sau Truyền thống giữ đạo hiếu của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và

nhân cách Hồ Chí Minh Trung và hiếu là hai phạm trù đạo đức được Hồ Chí Minh

sử dụng cặp đôi với nhau và coi như chuẩn mực cao nhất trong hành vi của con người “Trung với nước, hiếu với dân” - trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phạm

trù hiếu không còn bó hẹp trong phạm vi trọn đạo làm con với cha mẹ mình, mà ở

đây là hiếu thảo với nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ Không chỉ thương yêu cha

mẹ mình mà còn phải thương yêu cha mẹ người Người khẳng định: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình chí hiếu nhất Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa”(8)

Ở Hồ Chí Minh, hiếu với dân là làm đầy tớ của dân, là lấy dân làm gốc Xưa Mạnh

Tử nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quý hơn hết, kế đó là xã tắc, vua là nhẹ) Phát huy mặt tích cực của tư tưởng đạo hiếu lấy dân làm gốc trong Nho giáo xưa, Hồ Chí Minh không đặt mình ở vị trí cao hơn dân, ở ngoài dân Không chỉ xem dân là quý, là gốc, là sức mạnh, mà Người luôn đặt mình trong dân,

là đầy tớ của dân, coi lợi ích của dân là tất cả sự nghiệp của mình, là mục tiêu của cách mạng “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(9) Bằng cách diễn đạt khác, Người đã đặt nhân dân từ vị trí phụ thuộc vua chúa, quan lại phong kiến lên địa vị người chủ

Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân với tính

chất là đối tượng cần phải dạy dỗ, ban ơn, mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng Vì vậy, phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy

dân làm gốc Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân

tâm, lại phải thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh,nâng cao dân trí, để

nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước, quyền thì hưởng còn trách nhiệm thì phải làm tròn Có được cái đức ấy thì người cách mạng, người lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý mến, kính trọng, nhất định sẽ tạo ra được sức

Trang 22

mạnh to lớn cho cách mạng

Với ý nghĩa rộng lớn ấy, hiếu thảo vẫn gắn liền với hiếu trung Chính bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương của quan niệm đó Tuỳ theo từng đối tượng mà Hồ Chí Minh xác định nội dung trung, hiếu cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Hồ Chí Minh đã kế thừa rất tài tình, sáng tạo phạm trù hiếu trong truyền thống

và trong Nho giáo Ở Người, phạm trù hiếu đã được chuyển đổi mang tính cách

mạng- hiếu với dân, trong dân có cha mẹ

Sau 20 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nền kinh tế tăng trưởng cao, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong những năm đổi mới, đạo đức xã hội nói chung, đạo đức gia đình nói riêng có nhiều biểu hiện suy thoái Nhiều gia đình đã lơ là việc gia huấn, con cháu lớn lên gây ra những điều lầm lỗi Đã đến lúc mọi gia đình cần để tâm, soát xét lại, tái lập gia giáo, gia phong; phải nghĩ tới cái đạo

ăn ở có lễ nghĩa, quy củ, trật tự nề nếp trong nhà và tộc họ mình, sau đó là xã hội, trên cơ sở nếp sống văn minh, văn hoá Bởi bất cứ ai tồn tại trên cõi đời đều được sinh ra từ cha mẹ mình Thể hiện đạo hiếu với cha mẹ không chỉ là bổn phận, trách nhiệm của người làm con, mà còn là quyền lợi thiêng liêng và cao cả của mỗi người Việc giáo dục đạo hiếu giúp con cái thấy được bổn phận làm con, giữ đúng vị trí của mình trong gia đình là vấn đề hết sức quan trọng trong giáo dục gia đình từ xưa đến nay Không chú tâm tới giáo dục đạo hiếu trong gia đình là thiếu sót, quên lãng cái nền móng thiết yếu nhất của đạo đức xã hội và con người

Trong thực tế đầy biến động của xã hội hiện nay, bên cạnh những tấm gương hiếu thảo, những tấm lòng nhân nghĩa, ân tình với cha mẹ, thì vẫn còn đó nhiều người con

đã có thái độ bất nhân, bất nghĩa, thiếu tôn trọng hoặc có hành vi hỗn láo, vô đạo đức với cha mẹ Một số người coi việc nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ như một gánh nặng Một số người khác lại nghĩ rằng, chỉ cần đóng góp tiền bạc để nuôi dưỡng cha mẹ là

đã làm tròn bổn phận của người con Có những gia đình kinh tế khó khăn, điều kiện vật chất eo hẹp nên không có điều kiện hoặc thường lảng tránh việc chăm sóc cha

mẹ Nhưng cũng có những người rất giàu có thì lại báo hiếu chỉ bằng cách thuê những người xa lạ về chăm sóc cha mẹ, để cha mẹ sống trong buồn tủi, cô đơn Từ

Trang 23

đó gây ra cảnh: “Không ăn thì ốm thì gầy,

Ăn thì nước mắt chan đầy bát cơm”

hoặc: “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày”

Những hiện tượng tích cực và tiêu cực về đạo hiếu đang xảy ra trong xã hội hiện nay

đã đặt ra rất nhiều vấn đề bức xúc mà chúng ta phải giải quyết Bên cạnh việc phát huy, nêu gương những tấm lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, thì chúng ta cũng cần phải lên án và phê phán các hiện tượng con cái ngược đãi cha mẹ Muốn thực hiện được điều đó, chúng ta phải nâng cao hơn nữa vai trò của giáo dục

chữ hiếu trong giai đoạn hiện nay Nếu từ xa xưa, cha ông ta đã rất coi trọng và rèn giũa chữ hiếu thì ngày nay, chúng ta phải ra sức nâng niu, trân trọng và gìn giữ nó

Thực hiện đạo hiếu trong gia đình, chúng ta sẽ nối được nghiệp nhà, làm rạng rỡ tổ

tông và góp phần cho sự ổn định, phát triển của xã hội Chữ hiếu từ xưa đến nay

không trực tiếp tạo nên mức tăng trưởng GDP mỗi năm của Việt Nam, nhưng lại có một ý nghĩa hết sức lớn lao là đã tạo ra những con người Việt Nam nghĩa tình, hiếu thảo

Trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò của chữ hiếutrong gia đình cũng như ngoài xã hội; kế thừa, phát triển hiếu theo tinh thần Hồ Chí Minh,

gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá mới đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá xã hội và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.r

(*) Thạc sĩ triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

(1) Kinh Lễ (Nguyễn Tôn Nhan biên dịch chú giải) Nxb Văn học, Hà Nội, 1999,

tr 198

(2) Trần Lê Sáng (chủ biên) Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 2002, tr.245

(3) Trần Lê Sáng (chủ biên) Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư Sđd., tr 282

(4) Trần Lê Sáng (chủ biên) Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư Sđd., tr 225

(5) Trần Lê Sáng (chủ biên) Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư Sđd., tr 358 – 359 (6) Trần Lê Sáng (chủ biên) Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư Sđd., tr 225

(7) Xem: Tuân Tử ( Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê dịch) Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994

Trang 24

“Thế giới đời sống” là khám phá sau cùng của Étman Huxéc nhằm tránh hiểm hoạ

rơi vào chủ nghĩa duy ngã, khi xây dựng phương pháp giản lược và lý thuyết “kiến tạo” của ý thức về tính ý hướng Nó là một chặng đường trong hành trình dài mà hiện tượng học của ông đã đi qua, từ chủ nghĩa tâm lý đến hiện tượng học, từ hiện tượng học mô tả đến hiện tượng học siêu nghiệm, rồi đến “thế giới đời sống” Xoay quanh khái niệm này, với cách mô tả độc đáo về “tính liên chủ thể”, “cộng đồng nhân vị”…, Huxéc đã làm cho hiện tượng học mang một diện mạo mới mà nhờ đó,

nó có thể đi sâu vào thực tiễn đời sống

Hiện tượng học của Étman Huxéc (Edmund Husserl), sau khi ra đời, đã đem đến một

sự phát triển mới cho triết học phương Tây hiện đại Hành trình mà hiện tượng học

đã đi qua để có được vị trí trân trọng đó là từ chủ nghĩa tâm lý đến hiện tượng học, từ hiện tượng học mô tả đến hiện tượng học siêu nghiệm, rồi từ chủ thể siêu nghiệm đến

“thế giới đời sống”, kết thúc dang dở những tâm niệm của người sáng lập ra nó “Thế giới đời sống” là một khám phá của Huxéc trong gần hai thập kỷ, từ những năm 20 của thế kỷ XX cho đến cuối đời “Thế giới đời sống” giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện hiện tượng học Với quan niệm về “thế giới đời sống”, Huxéc không chỉ mở thêm con đường tiến tới việc nghiên cứu vấn đề khoa học, triết học và mối quan hệ của chúng với đời sống, mà còn tạo nên diện mạo mới cho hiện tượng học Có nó, những tư tưởng của hiện tượng học mới có thể cắm rễ sâu vào thực tiễn Lần theo quá trình xây dựng và phát triển hiện tượng học của Huxéc, chúng ta thấy,

Trang 25

khái niệm “thế giới đời sống” có cơ sở lịch sử và hiện thực của nó Đó là sự khủng hoảng của nền khoa học châu Âu khi bước vào thế kỷ XX Nếu dừng lại ở những tác

phẩm lớn được truyền bá rộng rãi, như Những nghiên cứu lôgíc,Những ý tưởng hiện

tượng học thuần tuý và triết học hiện tượng học, Lôgíc hình thức và lôgíc siêu nghiệm… thì có thể nghĩ tới hiện tượng học của Huxéc chỉ hạn hẹp trong việc triển

khai tính ý hướng, sự tương hỗ giữa sở tri và năng tri, với ngã tiên nghiệm thuần lý trong một cơ cấu ý hướng Đặc biệt là quan niệm về sự “kiến tạo” (cấu thành) đã khiến người ta càng có thêm lý do để gán cho Huxéc một khuynh hướng chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm - duy ngã Sự thực thì trong duy tâm tiên nghiệm của ông đã bao hàm kinh nghiệm sống thực (nghiệm sinh) Do vậy, tiếp tục đi đến hiện tượng học, nói như Méclô Pônti, phải triển khai những gì “còn chưa được tư duy” trong phương pháp giản lược và quá trình “kiến tạo”

Thuật ngữ “thế giới đời sống”, tiếng Đức gọi là Lebenswelt, được các học giả nước

ta chuyển dịch sang tiếng Việt bằng nhiều tên gọi khác nhau: thế giới đời sống, thế giới cuộc sống, thế giới sống thực… Việc tạo lập khái niệm “thế giới đời sống” là nỗ lực của Huxéc gắn với nghiên cứu sự khủng hoảng châu Âu giai đoạn chuyển tiếp từ cận đại sang hiện đại Vấn đề khủng hoảng đã được Huxéc nghiên cứu khá sớm và thể hiện trong một tư liệu chép tay vào năm 1922 – 1923 và khái niệm Lebenswelt -

“thế giới đời sống” cũng theo đó, đã xuất hiện vào những năm 1924 – 1926 Nó được xem là khái niệm trung tâm của triết học về sự khủng hoảng

Thoạt đầu, “thế giới đời sống” được Huxéc quan niệm là một thế giới trực quan phi lịch sử(1) Thành tố tạo nên khái niệm này là đời sống được hiểu không phải với nghĩa cuộc sống tự nhiên, mà là đời sống sinh hoạt Đến giữa những năm 20 của thế

kỷ XX, nội hàm và ý nghĩa của “thế giới đời sống” đã có sự thay đổi Trong bài

giảng về Tâm lý học hiện tượng học (1925), ông giải thích rằng, thế giới trực quan là

thế giới hiện thực, gồm thế giới kinh nghiệm và thế giới mà chúng ta đang sống Khái niệm này phải đến những năm 1934 - 1937 mới được hoàn thiện

Khi nghiên cứu “thế giới đời sống”, Huxéc không phải vì mục đích đưa ra một sự mô

tả, mà là để chỉ ra nguồn gốc siêu nghiệm của nó trong đời sống của con người Theo ông, đây là thế giới bao gồm mọi kinh nghiệm mà con người tham dự vào một cách đặc trưng theo sự hiện hữu của nó - cảm giác, tri giác, phán đoán, mô tả hay tổng hợp

Trang 26

các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày “Thế giới đời sống” còn được ông quan niệm như là thế giới cộng đồng và gọi là “thế giới khách quan”, vì thế giới này là thế giới cho nhiều người, chứ không phải của riêng tôi Thế giới ấy được Trần Đức Thảo mô tả: “Nói một cách chung hơn, “thế giới đời sống” chỉ có thể là thế giới thực tại này, thế giới mà trong đó, chúng ta đang sống”(2) Coi đó là một thế giới đồng tính cho mọi người, trong đó mọi người trao đổi quan niệm của mình với người khác, Huxéc viết: Thế giới này là “thế giới khách quan” với tư cách nó cũng là một thế giới mà những người khác cũng có thể nhận thức được thực sự bằng kinh nghiệm Những thực tại và ảo tưởng chỉ có thể tồn tại và có căn cứ tồn tại trong sự tham gia với những người khác… Và, đến lượt mình, những người này lại là những

dữ kiện cho tôi kinh nghiệm thực sự hay có thể kinh nghiệm được(3) Ông còn giảng giải thêm: đó là “thế giới của mọi người chúng ta” Theo ý nghĩa này, thế giới chỉ là một, là nơi mà mọi người đều đi vào được một cách nguyên tắc nhờ kinh nghiệm và khi “trao đổi” kinh nghiệm với nhau, mọi người đều đồng ý cả(4)

“Thế giới đời sống” là sự tương liên giữa các cá nhân tồn tại trong thế giới Từ “thế giới” ở đây không hàm nghĩa chỉ vũ trụ, mà bao hàm mọi thế giới của nghề nghiệp

và cả những thế giới lạ thường Do vậy, thế giới vật lý, chẳng hạn, mà chúng ta nhận thức được là thế giới theo sự mô tả của nhà khoa học, thực ra chỉ là một phần nào đó của thế giới đời sống Hãy còn biết bao thế giới khác nữa: thế giới văn hóa, thế giới thẩm mỹ, thế giới tâm lý… Huxéc cho rằng, những thế giới này là những dạng được cho trước Chính vì vậy, một vấn đề lớn của nhân bản và hiện tượng học mà hữu thể người đặt ra là: cái này là cái gì và nó từ đâu tới, thế giới trong tất cả những hình thức và cấu trúc của nó luôn được đem đến trước, nó luôn vây quanh chúng ta và chúng ta tồn tại với tư cách hữu thể trong thế giới này Theo Huxéc, thế giới bao gồm lĩnh vực phổ biến của tự nhiên và tinh thần, cho nên thế giới không chỉ gồm thực tại,

mà còn gồm mọi hình thức phi thực tại, như trạng thái, quyền lực, văn hoá, tôn giáo, v.v Con người đang theo đuổi trong thế giới này các lợi ích khác nhau, như khoa học, mỹ học, kinh tế, quân sự, chính trị…, nghĩa là, nhìn thấy thế giới này dưới nhiều chiều cạnh khác nhau Thế giới là thế giới quanh tôi, có liên hệ với mọi biến động Tất cả khái niệm về thế giới là những khái niệm có thể trọn vẹn hoặc có hạn “Thế giới đời sống” như là thế giới có sự tương liên giữa cái khách quan và cái chủ quan

Trang 27

Nó có đặc tính là luôn ban tặng, luôn hướng tới, nên là thế giới của kinh nghiệm, thế giới của đánh giá, một tiền tri thức Nó còn là thế giới thuộc không gian và thời gian của sự vật Tất cả tồn tại trong “thế giới đời sống”

Như vậy, theo Huxéc, “thế giới đời sống” là thế giới thực tại của con người sống, hoạt động, liên hệ với nhau thành cộng đồng xã hội và được con người nhận thức theo những quan hệ nhất định

“Thế giới đời sống” đem đến những ý nghĩa quan trọng: “thế giới đời sống” là thế giới của đời sống chúng ta; đời sống tự nhiên của chúng ta luôn trong thế giới “Thế giới đời sống” là căn cứ của mọi kinh nghiệm, mọi hành vi của cảm giác và nhận thức, mọi hành động thụ động, tự phát và thuần túy chủ động của chúng ta Thường ngày, tôi nhìn thấy ở thế giới một đời sống hồn nhiên “Thế giới đời sống” này là thế giới cho tôi Trong sự suy tư trần tục và hiện tượng học, tồn tại người biểu lộ như là tồn tại trong thế giới Con người đến với thế giới và trong thế giới này Mọi cảm giác, suy tư và hành động được hiện thực hoá trong thế giới này Từ khi phát hiện ra

“thế giới đời sống”, Huxéc thường nhắc: thế giới đó là luôn có đối với chúng ta Cái tôi giờ đây chuyển thành chúng ta, thế giới thành thế giới của chúng ta Sự chuyển biến này là thể nghiệm sau cùng của ông vào những năm cuối đời

Việc đưa ra khái niệm “thế giới đời sống” đã góp phần đặt cơ sở lịch sử-xã hội cho quá trình nhận thức Bất kể sự vật nào khi ta tri giác được, dù như thế nào, cũng là một sự vật trong thế giới Thế giới bao giờ cũng được cho trước(5) Do tính chất này,

“thế giới đời sống” trở thành ngọn nguồn của hết thảy tri thức và cũng là cơ sở của khoa học, triết học, chính trị và lao động của con người Thế giới này luôn được cho trước, như không gian, thời gian, phạm vi của hành động, của tư duy, cảm giác và của ý chí con người Với khám phá về “thế giới đời sống”, Huxéc muốn đưa thế giới theo quan niệm khoa học trở về với đời sống thực tiễn, khi coi quan niệm của khoa học và triết học là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người trong “thế giới đời sống” “Thế giới đời sống” là nguồn cho mọi khoa học rút ra từ đó các trừu tượng khoa học Trên cơ sở đó, Huxéc nhằm giải phóng các nhà triết học ra khỏi ảnh hưởng của triết học duy khoa học – thứ triết học tuyệt đối hoá vai trò của khoa học trong hệ thống văn hoá, triết học, coi khoa học tự nhiên là hình mẫu chi phối các ngành khác,

kể cả triết học

Trang 28

Với hiện tượng học về thế giới, chúng ta có thể chấp nhận hai quan điểm khác nhau: quan điểm Tôi tư duy (noétique) và quan điểm cái Tôi tư duy (noématique), nhắm tới thế giới như là hiện tượng, như là phạm vi của tất cả hành vi ý hướng Nếu đề cao quan điểm Tôi tư duy, thì cần phải nhìn thấy những thế giới của khoa học và những

sự kiện ý hướng Trả lời câu hỏi “do đâu mà thế giới này được kiến tạo và tại sao ý nghĩa của nó nhận được từ sự kiến tạo?”, Huxéc cho rằng, tất cả điều này đã được cho trước Với lý luận về “thế giới đời sống”, hiện tượng học của Huxéc đã tìm ra một giải pháp có thể tránh khỏi nguy cơ rơi vào chủ nghĩa duy ngã Mặc dù ông luôn cho rằng, không nên quan niệm kiến tạo là sự tạo dựng thực tại Khi nói mọi hiện hữu đều được kiến tạo trong tính chủ thể, thì phải hiểu rằng, tất cả đều lấy ý nghĩa và giá trị hiện hữu trong tính chủ thể, chứ không có ý nói là tính chủ thể rèn đúc ra chúng(6) Đặt vấn đề như vậy để thấy Huxéc hoặc là bị bế tắc trong duy niệm đơn độc, hoặc sẽ tìm con đường tồn tại trong cộng đồng với nhân loại Theo nhà triết học Pháp –Gi.F.Lyotard, Huxéc không dừng lại ở duy niệm đơn độc kiểu đơn tử của Leibniz Cũng nên nhớ rằng, Huxéc luôn trung thành với những nguyên tắc của hiện tượng học là chỉ nhằm “mô tả” những gì ta “nhìn” thấy và do vậy, ông chủ trương

“thế giới đời sống” không đạt tới bởi sự chứng minh, mà bởi sự mô tả hiện tượng “kẻ khác” trong sự tương hỗ với ý thức tiên nghiệm của tôi Nhà xã hội học và triết học

Mỹ – G.Berger đã xem đây là nét độc đáo của phương pháp luận Huxéc

Không thể phủ nhận rằng, Huxéc vào giai đoạn cuối đời đã tự giới hạn ở việc phân tích sự phản tỉnh ý thức, ở Cogito của Đêcáctơ và ý nghĩa của học thuyết Cantơ Điều này là duy nhất cần thiết để phân biệt thuyết tiên nghiệm của ông và thuyết tiên nghiệm của Cantơ, bởi đây được xem như một nét riêng của Huxéc, mặc dù nó được đánh giá là có phảng phất nét “duy tâm” ở một vài trình bày triết học của ông trong suốt “giai đoạn giữa”, khi ông gọi hiện tượng học là chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Nhưng, thuyết tiên nghiệm trong hiện tượng học Huxéc khác với thuyết tiên nghiệm của Cantơ, dù khái niệm của họ cơ bản giống nhau Thuyết tiên nghiệm trong hiện tượng học Huxéc là “thế giới đời sống” như thể tương liên kiến tạo ý thức(7) Còn Cantơ giới hạn mình trong trong sự phân tích hình thức cấu trúc của ý thức, đặc biệt

là đối với siêu nghiệm của cảm giác và phán đoán Khi coi cái Tôi siêu nghiệm là một ý thức phán đoán, Cantơ đã chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa đặc điểm khách quan,

Trang 29

tất yếu và phổ biến về hành vi phản tỉnh hoàn toàn của phán đoán Trái lại, Huxéc, cũng như Đêcáctơ lại đặt ra một vấn đề thực tế Nhưng vượt lên cả Đêcáctơ và Cantơ, Huxéc đã nhận thức được thời gian, tính chất lịch sử và tính liên chủ thể kiến tạo “thế giới đời sống” “Cái Tôi” của Huxéc không phải là “res cogitans” của Đêcáctơ hay suy nghĩ kỳ quái của chủ nghĩa siêu nghiệm theo học thuyết Cantơ Ở Huxéc, “cái Tôi” được lồng vào và gắn với thế giới của đời sống đông đảo con người, mà ông gọi là “thế giới đời sống - kinh nghiệm” Cũng như Cantơ, Huxéc tìm kiếm cho tính chủ quan một cấu trúc siêu nghiệm với tư cách nền tảng của cái Tôi kinh nghiệm và vì sự tương quan của nó với “thế giới đời sống” mà ông làm như thế Ông không bằng lòng với việc lập ra một lý thuyết suông về phán đoán phản tỉnh khoa học hoàn toàn Về cơ bản, ông hoàn thành kết cấu dựa trên sự nghiên cứu lịch

sử và tính liên chủ thể trong kiến tạo “thế giới đời sống” và những phương thức khác nhau của nó

“Thế giới đời sống” gắn với quan niệm về tính liên chủ thể, nên điều đạt được quan trọng nhất của hiện tượng học Huxéc là nhờ quan niệm về thế giới và sự hợp lý (rationnalité) để liên kết tính chủ thể với tính liên chủ thể Nếu tách rời ý nghĩa này, thế giới sẽ là một thứ tinh thần tuyệt đối, hoặc là thế giới theo chủ nghĩa duy thực (réalisme) Thế giới này không thuộc loại hữu thể thuần tuý, mà ý nghĩa của nó lộ ra trong giao tuyến kinh nghiệm của tôi, giữa giao tuyến kinh nghiệm của tôi và kẻ khác “Thế giới đời sống” không phải là thế giới hiện hữu vĩnh cửu, bất biến mà trái lại, là thế giới đã hình thành và còn biến chuyển mãi, do vậy tri thức về nó cũng đã hình thành và còn đang tiến thêm Huxéc gọi chủ thể hiện tượng học là “người quan sát vô tư”, vì nó “thôi đồng lõa với thiên nhiên” Khi chủ thể hiện tượng học nhìn lại kinh nghiệm sống của mình, thì không thấy “một hiện hữu đã có sẵn”, mà chỉ thấy một thế giới hình thành do sự “kiến tạo”, sự “xây dựng” của mình

Tóm lại, việc đưa ra khái niệm “thế giới đời sống” đã mở ra một con đường mới trong việc nghiên cứu một lĩnh vực khó khăn nhất - nhận thức, đặt cơ sở cho sự tiếp cận biện chứng khi nghiên cứu về thế giới Huxéc đã vượt qua hiện tượng học tiên nghiệm, đưa hiện tượng học trở về bản chất của lịch sử, của đời sống và thực hiện bước chuyển quan trọng cho hiện tượng học từ chỗ nghiên cứu ý thức thuần tuý đến nghiên cứu “thế giới đời sống”

Trang 30

Tuy nhiên, khi đưa ra quan niệm về “thế giới đời sống”, Huxéc cũng hàm chứng minh rằng, cội nguồn của tình huống khoa học và triết học không thể tránh khỏi việc tái định hướng hiện tượng học tiên nghiệm của triết học(8) Ông cho rằng, trước khi triết học và khoa học ra đời đã từng có “thế giới đời sống” tiền triết học, tiền khoa học và con người đã nhìn, đã quan niệm về thế giới ấy; sau khi có triết học và khoa học, “thế giới đời sống” cũng hiện hữu với con người, chỉ có khác ở phương thức miêu tả mới về nó và việc đề cao năng lực của con người Với quan niệm này, Huxéc

đã đưa thế giới của những quan niệm trừu tượng trở về “thế giới đời sống” để chỉ ra rằng, quan niệm của khoa học và triết học là sản phẩm của hoạt động thực tiễn trong

“thế giới đời sống”; sau đó đưa “thế giới đời sống” trở về thế giới tự ngã thuần tuý và

ý thức thuần tuý với tư cách cái tồn tại vượt qua “thế giới đời sống” và bản thân chúng không phải là thế giới, còn thế giới (bao gồm thời gian, không gian, tự ngã, vật thể…) là do tự ngã thuần tuý kiến tạo(9) thông qua sự phản tỉnh ý thức của nó Cũng phải thừa nhận rằng, ít nhất là trong các tác phẩm đã được xuất bản, Huxéc dường như hoàn toàn không nhận ra sự cần thiết phải phân biệt nhiều hơn sự phản tỉnh hiển nhiên tách khỏi tiền phản tỉnh ý thức Do thiếu sự phân biệt này, Huxéc đã

bị Thévenaz chỉ trích là có chủ đích kéo theo “sự thụt lùi vô tận”, vì đã không vươn tới được một ý thức tuyệt đối, thực sự

Hiện tượng học Huxéc không dừng lại ở sự giản lược và sự “kiến tạo” Bản thân nó vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục triển khai và làm cho tường minh, đó là vấn đề “kẻ khác” (tha nhân), lịch sử và văn hoá Nếu dừng lại ở viễn tượng giản lược thì hiện tượng học khó tránh khỏi hiểm họa sa lầy trong lập trường chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm Trong lịch sử tư tưởng, hầu như chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm nào rồi cuối cùng cũng chỉ còn sót lại có ngã tiên nghiệm với những đối tượng tư duy của nó do chính nó kiến tạo nên và tất yếu, sẽ đi tới ngã luận thuần tuý và chủ quan, do vậy, đương nhiên, hiện tượng học đã đi vào con đường duy niệm và duy niệm đơn độc Nếu ý thức là tính ý hướng ban bố ý nghĩa cho sự vật, thì mỗi “chủ tri” chỉ cần hiện hữu một mình và muốn nghĩ gì về thế giới bên ngoài cũng được, còn thế giới bên ngoài chỉ là ý niệm về sự nhất trí của tất cả mọi sự vật hợp lại, mặc dù những thể tính như những đối tượng lý tưởng “đã được cấu thành” theo tính ý hướng(10) Do vậy, chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm không tránh khỏi đi tới chủ nghĩa duy ngã Chỉ tôi

Trang 31

tồn tại với thế giới, thế giới này chỉ là tư duy về sự đồng nhất của mọi khách thể, sự vật chỉ là sự đồng nhất của tri giác của tôi về sự vật Tránh rơi vào hố thẳm của chủ nghĩa duy ngã - đó là điều khó khăn nhất của hiện tượng học, khó đến mức Huxéc phải thốt lên là “một ẩn ngữ thực là đau đớn”(11)

Hiểm họa là thế, nhưng trên thực tế, Huxéc đã không dừng lại ở duy tâm tiên nghiệm đơn độc Trước hết, bởi một khi ý thức về tính ý hướng đã “ban bố” cho sự vật những ý nghĩa, thì những ý nghĩa ấy phải có tính khách quan và được sự chấp thuận của đại đa số chủ thể, hơn nữa, ý thức về tính ý hướng cũng không thể “kiến tạo” sự vật có ý nghĩa khi mà kẻ khác lại xuất hiện ý thức ý hướng với một kinh nghiệm khác biệt đối với mọi thể tính sự vật, nghĩa là “kẻ khác” không đem đến trong một kinh nghiệm bản thể nguyên thủy(12) Sự “kiến tạo” kết dệt ý thức về tính ý hướng với những đối tượng của nó đã làm nảy sinh những ý nghĩa, điều này chỉ dễ dàng ở lĩnh vực thuần lý và tiên nghiệm, nghĩa là không hiện hữu ở thế giới tự nhiên “Thế giới đời sống” là phương hướng triết học đưa Huxéc thoát khỏi tình trạng giam hãm của “đơn độc” chỉ có “cogito” và “cogitata” của nó

Những cái tôi khác “không thể hiện sự cô đơn”, cũng không phải là đối tượng thể hiện cho tôi, và không có những đồng nhất một tiến trình mở rộng “trong tôi”, mà lại đúng với những kẻ khác(13) Và, sau khi “có thể đạt tới một cách gián tiếp” nền tảng

về sự hiện hữu của kẻ khác, từ phương diện hiện tượng học, Huxéc tuyên bố “kẻ khác là sự thay đổi cái Tôi của tôi”(14) Trong trường hợp kẻ khác với tư cách chủ thể

ý hướng, người ta không thể giản lược sự hiện hữu thực tại, không thể giản lược thành “một tương hỗ tính ý hướng” của ý thức người khác được Vậy phải làm thế nào để chúng ta có được một ý nghĩa khách quan, tức trong một thế giới khách quan

mà mọi người đều chấp nhận được với nhau, để những gì được kiến tạo ý nghĩa trong

ý thức của tôi là những “bên ngoài” nhưng cũng là những “bên trong” của tôi Muốn vậy, chỉ có thể đặt ra “một cộng đồng giữa nhiều ý thức về tính ý hướng”

Huxéc gọi sự liên kết giữa các chủ thể ý hướng này là “tính liên chủ thể” (intersubjectivité), ở đó mỗi ý thức về tính ý hướng không hiện hữu như một ngã đơn độc, mà là hiện hữu với hay sống với kẻ khác trong một thế giới chung - thế giới của cộng đồng con người Có người còn gọi đó là “cộng đồng nhân vị”, ví như “ý thức công cộng” theo E.Đuykhem hay “tinh thần khách quan” với nghĩa của Hêghen, và

Trang 32

nó được kiến tạo đồng thời với sự tác động lẫn nhau của các chủ thể cũng như cộng đồng xung quanh chúng Cộng đồng này được xây dựng từ thế giới riêng của nó(15) Thế giới này có căn nguyên kiến tạo ẩn trong thế giới tinh thần, trong văn hóa Đi từ triết học siêu nghiệm, giản lược tới tính liên chủ thể hay cộng đồng nhân vị được coi

là bước tiến song hành mà Huxéc đặt ra trongNhững suy niệm Đêcáctơ và Những ý

tưởng hiện tượng học thuần tuý và triết học hiện tượng học

Trong Những ý tưởng II, III Partie, Huxéc đã phân chia thế giới thành thế giới tinh

thần và thế giới tự nhiên Thế giới tinh thần được hình thành bởi các cá nhân sống,

có liên hệ với nhau thành cộng đồng Thế giới tự nhiên là thực tại khách quan, mang tính thực tại siêu việt (vượt) Nhờ “tính liên chủ thể”, tính khách quan của thế giới dựa trên hoạt động của các chủ thể và được kinh nghiệm của mỗi người công nhận Trong “cộng đồng nhân vị” có một thế giới mà tôi và kẻ khác cùng trao đổi quan hệ, cùng kinh nghiệm

Một diễn tiến khác của Huxéc về “tính liên chủ thể” là quan niệm xã hội học về văn

hóa, được đặt ra ở Những ý tưởng hiện tượng học thuần túy và triết học hiện tượng

học và thể hiện trội hơn, rộng hơn ở tác phẩm sau cùng (Krisis) Theo Huxéc, nó như

là thuyết lịch sử tương đối, đi ngược lại triết học siêu nghiệm Xã hội học về văn hóa

là suy tư của Huxéc trong những năm cuối đời, thể hiện phong phú vấn đề tại Krisis

mà hai phần đầu đã được công bố năm 1936 tại Bengrate “Tính liên chủ thể” được Huxéc quan tâm đến như sự liên kết nghiêm ngặt tới vấn đề lịch sử và sự triệt để siêu nghiệm Quan niệm này đụng đến nền tảng khủng hoảng, nơi có sự liên quan giữa khoa học và triết học Triết học phải thông qua lịch sử, chính vì triết học tha thiết (bận lòng) tới sự lĩnh hội triệt để và bước qua sự ban tặng trực tiếp của lịch sử; nó là

sự lắng đọng lịch sử và kiến tạo ý nghĩa “thế giới” cho văn hóa…

Suốt quãng đời sáng tác nhằm tìm kiếm cái căn bản cho tất cả tri thức của con người, Huxéc luôn tâm niệm xây dựng hiện tượng học như là khoa học nghiêm túc, chính xác, đặt cơ sở cho việc nhận thức mọi khoa học Nhưng khi phát hiện ra “thế giới đời sống”, thì tâm niệm đó cùng hàng loạt vấn đề hiện tượng học đặt ra bị thách thức Bởi thế giới đó không lấy chủ thể siêu nghiệm làm cơ sở, mà nó được cho trước Trong “thế giới đời sống”, mọi chủ thể cắm rễ vào và không ngừng liên hệ với kẻ khác, cùng nhau xây dựng thành một thế giới của lịch sử và xã hội sinh động Hiện

Trang 33

tượng học siêu nghiệm với mong muốn đi đến cái tuyệt đối, triệt để đã không thể thỏa mãn trước phát hiện này Tuy nhiên, chính khám phá này đã làm phong phú hơn hiện tượng học Huxéc, khi tìm ra phương cách giúp hiện tượng học siêu nghiệm tránh sa vào chủ nghĩa chủ quan Từ khám phá này, Huxéc đã đặt một điểm quy chiếu cho nhiều khuynh hướng của triết học phương Tây hiện đại, khi kiến giải về khoa học, triết học và đời sống thực tiễn./

(*) Thạc sĩ triết học, Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương

(1) Xem: Diêu Trị Hoa Edmund Husserl Nxb Thuận Hóa, Trung tâm văn hoá ngôn

ngữ Đông - Tây, Huế, 2005, tr 209

(2) Xem: Trần Đức Thảo Phenomenologie et materialisme dialectique Editions

Minh Tân, Paris, 1951, p 217

(3) Xem: Edmund Husserl Logique formelle et logique transcendantale Presses

universitaires de France, 1957, Đ 94, p 313

(4) Ibid., pp 317-318

(5) Xem: Diêu Trị Hoa Edmund Husserl Sđd., tr 216

(6) Xem: Edmund Husserl Logique formelle et logique transcendantale Ibid., Đ 99,

(9) Xem: Lưu Phóng Đồng Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI, Triết học phương Tây

hiện đại Nxb Lý luận chính trị, 2004, tr 499

(10) Xem: Lê Tôn Nghiêm Những vấn đề triết học hiện đại Nxb Ra khơi, Sài Gòn,

Trang 34

Với tư cách một thành tố căn bản, là “thể nền” của bất kỳ hệ thống triết học nào, bản

thể luận và đi liền với nó là cách tiếp cận bản thể luận đã cho thấy lôgíc vận động nội tại của triết học nói chung, đặc biệt và cụ thể hơn là của triết học Tây Âu Chỉ khi đề cập đến nội dung bản thể luận của tư tưởng triết học Tây Âu, chúng ta mới có thể nắm bắt được tính đặc thù, cũng như sự tăng trưởng tri thức ở nó, vì bản thể luận luôn đóng vai trò thể nền và là khâu liên kết, hợp nhất mỗi một hệ thống triết học thành một thể thống nhất, có quan hệ với tư tưởng triết học quá khứ, hiện tại và mở

ra các xu hướng vận động tiếp theo của tư tưởng ấy vào tương lai Như vậy, vấn đề đầu tiên trong quá trình nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây chính là việc làm rõ nội hàm của các khái niệm “bản thể luận” và “cách tiếp cận bản thể luận” Đây là những khái niệm quen thuộc đối với giới nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây, song tiếc thay, vẫn chưa được chúng ta tìm hiểu một cách đầy đủ Nhằm bổ khuyết lỗ

Trang 35

hổng này, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số ý kiến của mình trong bài viết này

Để hiểu rõ thực chất của cách tiếp cận bản thể luận, theo chúng tôi, trước hết cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm “bản thể luận”, vì qua đó, chúng ta mới có thể xác định được các nguyên tắc tiếp cận bản thể luận với đối tượng nghiên cứu Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng, bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hình học Tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, trong “Lexicon philosophicum” (Bách khoa thư triết học) của triết gia R.Goclenius được xuất bản tại Phrăngphuốc (Đức) vào năm 1613(1) Muộn hơn một chút, thuật ngữ này cũng đã xuất hiện trong các tác phẩm của A.Calovius (xuất bản tại Rostock, năm 1636) và của J.B du Hamel (xuất bản tại Pari, năm 1687) Năm 1656, J.Clauberg cũng đã sử dụng thuật ngữ này trong “Siêu hình học” được xuất bản tại Amsterdam Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi trong triết học sau khi C.Vônphơ (C.Wolff) sử dụng nó để chỉ một bộ phận căn bản của siêu hình học, bên cạnh vũ trụ luận, tâm lý học và thần học

Như vậy, tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học phương Tây Khái niệm này liên

hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây tới mức chính nó, chính sự lý giải về nó đã tạo thành bản chất của phương pháp tư duy triết học Tây Âu Chính vì vậy mà việc nghiên cứu lịch sử bản thể luận, lịch sử các quan niệm, học thuyết triết học về tồn tại, về khái niệm tồn tại là con đường duy nhất để làm sáng tỏ nội dung của khái niệm này Chỉ thông qua đó, chúng ta mới có thể có được nội dung các nguyên tắc, cách tiếp cận bản thể luận

Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nó là sự kết hợp giữa hai

từ on (ỹv) – “cái thực tồn”, cái đang tồn tại và logos (ởỹóùũ) – lời lẽ, học thuyết, tạo thành “học thuyết về tồn tại”

Chúng ta cần phân biệt hai bộ phận của siêu hình học để có thể thấy rõ hơn được vị trí, đối tượng và cách tiếp cận của bản thể luận và qua đó, cũng thấy được vai trò hết sức quan trọng của bản thể luận với tư cách bộ phận căn bản nhất của siêu hình học

Siêu hình học được phân thành siêu hình học chung (metaphysica generalis), hay còn gọi là siêu hình học đại cương và siêu hình học chuyên ngành (metaphysica

Trang 36

specialis) Siêu hình học đại cương có đối tượng nghiên cứu là những cơ sở sâu xa,

những quy tắc, cấu trúc cơ bản của tồn tại, như Arixtốt nói, nó nghiên cứu “cái thực tồn như là cái thực tồn”(2)hay “cái gì là tồn tại của cái thực tồn”; còn siêu hình học

chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu là Thượng đế (Thần học tự nhiên), linh hồn (Tâm lý học tự nhiên) và thế giới (Vũ trụ học) Như vậy, bản thể luận chính là bộ

phận siêu hình học chung (đại cương) của siêu hình học Nói chung, theo nghĩa cổ điển thì bản thể luận có nhiệm vụ lý giải cấu trúc cơ bản của tồn tại và do vậy, bản thể luận (siêu hình học đại cương) mang tính trừu tượng cao nhất Các câu hỏi, như: Con người là gì? Có Thượng đế không? hay: Thế giới có điểm khởi đầu không? là lĩnh vực thuộc về siêu hình học chuyên ngành chứ không phải là của bản thể luận Chính vì đặc trưng trừu tượng nhất của nó mà học giả Uwe Meixner đã coi bản thể luận chỉ có “tính chất mô tả thuần tuý”(3) Theo ông, bản thể luận có nhiệm vụ mô tả cấu trúc nền tảng của “tất cả những cái hiện thực và những cái không hiện thực”, tức

là của tất cả những cái thực tồn

Từ thời Cổ đại, các nhà triết học đã phân biệt tồn tại (Sein) với thực tồn (Seiendes,

hiện hữu) Cái thực tồn là tổng thể những cái có thực và không có thực, kể cả những cái đang ở dạng khả năng Nhưng, ở tổng thể những cái đa dạng ấy, có thể tìm thấy một điểm chung, một dấu hiệu “trung tính” thể hiện ở chỗ, thế giới nói chung là đang thực tồn Khái niệm “tồn tại” biểu thị điều đó Tại sao một vật nói chung lại thực tồn,

sự thực tồn đó căn cứ trên cái gì? Cái gì là nguyên nhân của nó? Tồn tại là cái tối hậu

mà con người có thể đặt câu hỏi về nó, song nó lại không thể xác định theo cách thức thông thường

Khái niệm “tồn tại” lần đầu tiên được triết gia Hy Lạp - Pácmênít bàn tới Ông cho rằng, bản chất của mọi sự vật trong thế giới là tồn tại, không thể có cái không-tồn tại, bởi chúng ta không thể hình dung được cái không–tồn tại là cái gì Tồn tại là cái chỉ

có thể nhận thức được bằng lý tính Mọi tư duy bao giờ cũng là tư duy về tồn tại Tư duy, do vậy, đồng nhất với tồn tại

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, thuật ngữ “siêu hình học” không phải do Arixtốt đưa

ra, mà do nhà triết học Andronikos Rhodos, trong quá trình phân định các tác phẩm của Arixtốt, đưa ra vào khoảng năm 70 sau CN., tức là sau khi Arixtốt đã qua đời Nghĩa ban đầu của thuật ngữ “siêu hình học” là nghiên cứu “những cái sau vật lý”,

Trang 37

tức là những nguyên nhân sâu xa (vô hình, siêu hình), cơ sở của hiện thực mà chúng

ta không thể đạt được bằng kinh nghiệm, cảm tính, mà chỉ có thể đạt được nhờ vào lý tính, vào tư duy

Vậy, bản thể luận cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về cấu trúc cơ bản của tất

cả những cái thực tồn bằng cách nào? Nói chung, nó có thể thực hiện điều ấy bằng

hai cách thức khác nhau Một mặt, chúng ta có thể xem xét các kinh nghiệmcủa mình

về những cái thực tồn và từ đó, tìm cách xác định những đặc trưng, tính chất cơ bản

của chúng Đây là con đườngtrực tiếp tiếp cận tới cấu trúc cơ bản của tất cả những

cái thực tồn Nhưng trên thực tế, các nhà triết học thường ít chọn con đường này, mà

họ sử dụng “con đường vòng”, gián tiếp thông qua ngôn ngữ Chẳng hạn, Arixtốt đã

đi theo hướng này với học thuyết về phạm trù của ông Các phạm trù chính là nội

dung của tồn tại, được phân cấp thành “thực thể” (Substanz, hay “bản chất”) và “tuỳ thể” (Akzidenz, các dạng thức thể hiện “bản chất”, phụ thuộc vào “bản chất”)

Con đường gián tiếp thông qua ngôn ngữ này có ưu điểm hơn so với con đường trực tiếp thông qua kinh nghiệm, bởi cấu trúc của ngôn ngữ dễ nắm bắt hơn so với cấu trúc của kinh nghiệm và hơn nữa, kinh nghiệm thường xuyên biến đổi, còn cấu trúc ngôn ngữ thì ổn định và do vậy, cũng dễ phân tích, “mổ xẻ” hơn Như vậy, ngôn ngữ cũng được coi là một phương tiện, công cụ hữu hiệu biểu lộ cho chúng ta thấy cấu trúc cơ bản của các cái thực tồn

Tương ứng với hai con đường trên, có hai nguyên lý trong bản thể luận Nguyên lý

thứ nhất gắn liền với tên tuổi của Arixtốt và đó chính là nguyên lý thực tại Nguyên

lý thứ hai có thể được gọi là nguyên lý cấu trúc hay là nguyên lý Cantơ(4) Nguyên lý Arixtốt cho rằng, các cấu trúc cơ bản thể hiện ra trong kinh nghiệm và được phản ánh vào trong ngôn ngữ Do vậy, chúng ta có thể “đọc” ngôn ngữ và tìm ra được những cấu trúc cơ bản của tồn tại Chính vì lẽ đó mà sau này, Wittgenstein đã cho rằng, thông qua “phân tích ngôn ngữ”, chúng ta sẽ hiểu được bản chất sâu xa của tồn tại Còn nguyên lý cấu trúc thì ngược lại: các cấu trúc cơ bản ấy không tồn tại tự thân, mà chỉ là sự phóng chiếu của tư duy vào thế giới thông qua ngôn ngữ Và cho

dù hai nguyên lý này có đối lập nhau thì phần lớn các nhà bản thể luận vẫn quan niệm rằng, nội dung của bản thể luận mà chúng mô tả cũng chỉ là một

Theo Tômát Đacanh, “tồn tại” không phải là một khái niệm mang một nghĩa duy

Trang 38

nhất, mà có thể có nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào quan hệ của nó với các đối tượng Điều này có nghĩa là, các đối tượng có được sự thực tồn của mình là “nhờ vào tồn tại và thông qua tồn tại” và tồn tại đích thực, tối cao này chính là Chúa Tất cả các cái khác chỉ có được sự tồn tại của mình nhờ “tham dự” vào tồn tại tối cao đó; tồn tại tối cao này là bản chất của mọi cái thực tồn Nói cách khác, trong mọi sự vật cần phải phân biệt giữa “bản chất” (essentia) và “tồn tại” (existentia) và chỉ duy nhất ở Chúa thì bản chất mới đồng nhất với tồn tại

Như đã nói ở trên, C.Vônphơ là người đã phân định rõ “lĩnh vực” của siêu hình học chuyên ngành so với bản thể luận (siêu hình học chung, phổ quát), siêu hình học chuyên ngành bao gồm ba bộ phận cấu thành là: Thần học tự nhiên, Tâm lý học tự nhiên và Vũ trụ học Công lao chính của Vônphơ là ở chỗ đã tách bản thể luận ra khỏi thần học tự nhiên Nối tiếp con đường phân tích đó, Cantơ đã đưa siêu hình học phổ quát (cổ điển) trở về “bản thể luận của lý trí” Khi phê phán mạnh mẽ siêu hình học cổ điển, coi nó hoàn toàn không xứng danh “cao quý” như tên gọi của nó, Cantơ cho rằng, bản thể luận cổ điển phải nhường chỗ cho “phép phân tích đơn thuần về lý trí (giác tính) thuần tuý” Ông viết: “Các nguyên tắc của giác tính chỉ đơn thuần là các nguyên tắc trình bày về những hiện tượng, cho nên môn học với tên gọi rất tự

hào là môn Bản thể học (Ontologie) tự cho là chuyên mang lại những nhận thức tổng

hợp tiên nghiệm về những sự vật nói chung trong một học thuyết có hệ thống (ví dụ như nguyên tắc về tính nhân quả) phải nhường chỗ cho môn học với tên gọi khiêm tốn là Phân tích pháp về giác tính thuần tuý”(5)

Hêghen, một mặt, đã phê phán siêu hình học cũ, nhưng mặt khác, lại cho rằng,

“Lôgíc học” của ông là đồng nhất với siêu hình học, tức là “với khoa học nắm bắt sự vật trong tư tưởng, khoa học có nhiệm vụ trình bày bản chất của sự vật” Theo Hêghen, bản thể luận là “học thuyết về các tính quy định trừu tượng của bản chất”(6) Hêghen cũng là người đầu tiên đưa ra quan niệm coi siêu hình học là một phương pháp tư duy đối lập với phương pháp biện chứng và qua đó, siêu hình học bị đánh giá một cách hoàn toàn tiêu cực Hêghen kiên trì nguyên tắc đồng nhất giữa tư duy với tồn tại và, xét theo nghĩa ấy, có thể nói, ông đã tìm cách kết nối bản thể luận “thực tại” với bản thể luận “cấu trúc”

Trong nỗ lực tìm cách xây dựng “Bản thể luận mới”, chúng ta phải kể đến nhà triết

Trang 39

học Đức - Nicolai Hartmann “Bản thể luận mới” này đã được ông xây dựng dựa trên một nền tảng kinh nghiệm chặt chẽ và như vậy, đã chống lại quan niệm coi bản thể luận như là học thuyết về bản chất, chống lại “trực giác bản chất” (ví dụ như của E.Huxéc), cũng như khước từ mọi yêu cầu của siêu hình học cổ điển Theo ông, bản thể luận là học thuyết về tồn tại “hiện thực” và tồn tại “lý tưởng” Tồn tại “hiện thực”

lại bao hàm trong mình bốn “thang bậc” hay bốn “lớp” (Schicht) từ thấp đến cao là:

cái vật chất-vật lý, sự sống hữu cơ, linh hồn và tinh thần Còn lĩnh vực tồn tại “lý tưởng” là tồn tại của những bản chất, những khuôn mẫu toán học và những giá trị Như vậy, trong cấu trúc của tồn tại có sự phân định về chất giữa các “lớp của tồn tại” và các

“lớp” cao hơn không thể quy về các “lớp” thấp hơn Ngoài ra, Nicolai Hartmann còn không thừa nhận có mối quan hệ biện chứng giữa các “lớp” của tồn tại

Nghĩa của tồn tại là một trong những đề tài trọng tâm trong các tác phẩm của M.Haiđơgơ, nhất là trong tác phẩm nổi tiếng “Tồn tại và thời gian” Theo ông, vấn

đề về nghĩa của tồn tại đã bị lãng quên trong lịch sử siêu hình học vì chỉ có “hiện hữu” được đề cập tới chứ không phải là “tồn tại” Rằng, nhiệm vụ của “Bản thể luận

nền tảng” (Fundamentalontologie) là chỉ ra sự khác biệt ấy Khác với mọi vật hiện

hữu khác, chỉ có con người mới có thể đặt câu hỏi về tồn tại của chính mình Haiđơgơ trách cứ triết học phương Tây truyền thống sau Xôcrát là đã bỏ qua tồn tại

người (Dasein) và hơn thế nữa, đã đánh đồng tồn tại người ngang bằng với “hiện

hữu” của các sự vật khác Với quan niệm đó, ông xác định việc phân tích cấu trúc của Dasein là nhiệm vụ chính trong triết học của mình

J.P.Xáctơrơ đã tiếp tục con đường phân tích những cấu trúc của tồn tại người, đặc biệt là trong quan hệ của nó đối với hư vô Trong “Tồn tại và hư vô”, khi coi tính đặc thù của tồn tại người trước hết là tính đặc thù của ý thức con người với tư cách một thực tại đặc biệt, ông đã xem xét ý thức con người trên các bình diện bản thể luận và siêu hình học Bản thể luận được ông hiểu là một bộ môn mô tả, ghi nhận các cấu trúc khác nhau của tồn tại người, tức là mô tả thực tại nghĩa đặc thù người(7) Còn siêu hình học được hiểu là ý định xem xét một cách khái quát bản thân sự kiện của tồn tại người đã diễn ra với vũ trụ và qua đó, đã tạo ra một thực tại tuyệt đối độc đáo

mà nhờ đó, thế giới có được nghĩa và lần đầu tiên bắt đầu hiện hữu, “có mặt” thông qua tồn tại người

Ngày đăng: 08/03/2014, 15:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w