Chính đây là điểm xuất phát cơ bản để chúng ta từng bước xây dựng hệ thống chính trị với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", để Nhà nước ta thật sự là Nhà nước của dâ
Trang 1VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2Đổi mới tư duy (trước hết là tư duy kinh tế), về thực chất, là trở lại với tư duy biện chứng để nhìn nhận sự vật đúng như nó vốn có chứ không phải như cái ta muốn có Đổi mới tư duy về xây dựng bộ máy nhà nước hiện nay là "một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất", nhưng lại là vấn đề "rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị"(1) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước hết phải phù hợp với những nội dung và các giá trị tư tưởng mà văn minh nhân loại đã đạt được Từ nhà nước pháp trị đến nhà nước pháp quyền tư sản, từ nhà nước pháp quyền tư sản đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình phủ định biện chứng, diễn ra liên tục Nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền cùng với những khái niệm tự do, dân chủ, công dân ngày càng được mở rộng, đầy đủ hơn Vấn đề này, trong những năm qua, ở nước ta, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu
Trang 3
và cũng đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn không ít những điểm nổi cộm, như làm thế nào để xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng lớn mạnh; làm thế nào để làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước khi tệ nạn quan liêu, tham nhũng đã trở thành quốc nạn; việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Đảng cầm quyền ở Việt Nam cần có những nội dung gì Đây là những vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu
để làm sáng tỏ thêm Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ bàn về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Chúng ta đều biết, đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng đã đặt ra chủ trương phải "cải cách lớn" bộ máy nhà nước Nhưng, phải đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta mới khẳng định chủ trương "xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" Nội dung chủ yếu của nhiệm vụ này là: "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản
lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa" Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện quan trọng của Đảng chính
thức sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền và nêu cụ thể, toàn diện những quan
điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam và nó trở thành chủ trương có tầm chiến lược, định hướng cho toàn bộ quá trình và nội dung đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước
Đại hội VIII nhấn mạnh vấn đề xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực và hiệu quả và đã cụ thể hóa các nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước(2) Đặc biệt, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định và nhấn mạnh thêm: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành
Hiến pháp và pháp luật"(3) Đại hội X của Đảng khẳng định: "Nhà nước ta là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"(4)
Trang 4
Như vậy, có thể nói, kết quả nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là quá trình không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, không sao chép, rập khuôn, giáo điều, mà luôn sáng tạo để vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam Và, chỉ có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng mới là công cụ có đầy
đủ hiệu lực để quản lý sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Ở đây, cần phân biệt nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong lịch sử nhân loại, nhà nước pháp quyền biểu hiện dưới nhiều hình thức, nhưng khái quát lại chỉ có hai loại: nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Loại thứ nhất trải qua mấy trăm năm lịch sử Loại thứ hai ra đời trong thế kỷ XX và còn rất ít kinh nghiệm tổ chức xây dựng Những nhà nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã ít nhiều có tính pháp quyền, song chưa phải là nhà nước pháp quyền và trên thực tế, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta đặt ra cách đây không lâu(5) Mặt khác, chúng ta tạo lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là "đập tan" nhà nước cũ, mà bằng cách chuyển dần từ Nhà nước Dân chủ Nhân dân thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Về bản chất, hai nhà nước này đều là chính quyền của nhân dân, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Như vậy, Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở nhà nước hiện có, trên cơ sở đổi mới và không ngừng hoàn thiện, nâng nhà nước hiện có lên một tầm cao mới, và đây là một quá trình lâu dài Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản Điều này được quy định một cách khách quan trên
cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội Sự khác biệt đó biểu hiện ở bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước, chúng hòa quyện vào nhau, được quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa và thực hiện trên mọi lĩnh vực, mọi tổ chức, hoạt động của nhà nước Và, cũng chỉ có nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, hoạt động theo đường lối, quan điểm của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân mới đại biểu cho lợi ích chung của nhân dân lao động, của toàn dân tộc
Vì vậy, việc tìm kiếm, xây dựng những thiết chế, cơ chế nhà nước như thế nào cho phù hợp với đặc điểm và truyền thống dân tộc, cũng như trình độ phát triển kinh tế -
Trang 5
xã hội, trình độ dân trí, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân luôn có
ý nghĩa quan trọng Ở đây, chúng ta cần chú ý giải quyết tốt các vấn đề cơ bản sau:
- Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Đây không phải là vấn đề mới, nhưng lại là vấn đề có tính nguyên tắc để bảo đảm bản chất xã hội chủ nghĩa của nhà nước, bảo đảm sự thống nhất giữa tính giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước Các thuật ngữ "đảng cầm quyền", "đảng chấp chính", đảng "nắm chính quyền" đã được dùng từ lâu ở các nước phương Tây
để chỉ rõ vai trò, vị thế và trách nhiệm của một đảng khi đã có chính quyền, phân biệt đảng nắm chính quyền với đảng không nắm chính quyền, chưa giành được chính quyền hoặc ở vị thế đối lập Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối của đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà đảng đó đại diện(6) Trong thời đại ngày nay, không có nhà nước nào, kể cả nhà nước tư sản, nhà nước vô sản, mà không chịu sự chi phối của một đảng chính trị nhất định
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng cầm quyền tức là chính quyền thuộc về nhân dân và chịu
sự lãnh đạo của Đảng Đây không phải đơn thuần là vấn đề học thuật, từ ngữ, mà bắt nguồn từ những nhu cầu rất cơ bản của thực tiễn cách mạng Việt Nam và của Đảng cầm quyền Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: "Xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng"(7) Điều đó vừa khẳng định vai trò của Đảng đối với chính quyền và đối với toàn xã hội, vừa có ý nghĩa là phương thức lãnh đạo của Đảng cần phải có sự thay đổi căn bản so với thời kỳ chưa giành chính quyền
Là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội, Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất trước nhân dân về cả sự phát triển xã hội lẫn nâng cao đời sống của nhân dân, năng lực và phẩm chất của bộ máy nhà nước Đảng lãnh đạo toàn diện, tức là lãnh đạo các
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) Hoạt động của Nhà nước được thực hiện ở tất cả các cấp, Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất kỳ một lực lượng chính trị nào Mặt khác, Đảng phải bằng mọi cách phát huy cao nhất vai trò của Nhà nước Hai mặt đó là thống nhất, quan hệ biện chứng với nhau Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo của mình khi xây dựng được Nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và có hiệu quả cao, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân
Trang 6
Để hoàn thành nhiệm vụ này, Đảng phải tự đổi mới, phải xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi
Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống: "Nhiều tổ chức cơ sở đảng bị tê liệt, thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo để giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh"(8) Không hiếm cán bộ suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức vẫn được "tín nhiệm", được tham gia các cơ quan lãnh đạo, quyền lực Phần lớn những
vụ việc tiêu cực nghiêm trọng không do tự các tổ chức Đảng phát hiện, phanh phui,
mà do công luận và cơ quan bảo vệ pháp luật phanh phui
Đó là một nguy cơ lớn Bài học của những cuộc khủng hoảng ở các nước Đông Âu,
sự tan rã của Đảng và Nhà nước Liên Xô vừa qua cho thấy, các thế lực thù địch trong
và ngoài nước đã lợi dụng sự tha hoá của cán bộ đảng viên, sự quan liêu của bộ máy nhà nước để tách dân với Đảng Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp dẫn đến đổ vỡ chủ nghĩa xã hội Phải chăng, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, mất nước do kẻ thù xâm lược nhiều khi khó hơn là tự ta để mất chế độ chỉ vì mất lòng dân Do vậy, cần phải đánh giá sâu sắc hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng chứ không chỉ của một bộ phận cán bộ, đảng viên Cần nghiêm túc xem xét lại cơ chế đánh giá, đề bạt cán bộ hiện nay, bởi ở đây vẫn còn có kẽ hở tạo ra tình trạng chạy chức, chạy quyền Phải chăng, tình trạng phổ biến giảm sút sức chiến đấu do phát triển chủ nghĩa cá nhân, do nhận thức chính trị không được nâng cao trong Đảng(9)
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không chỉ vì một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, mà còn do nhiệm vụ của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mà trong những năm tới ngày càng khó khăn, phức tạp Ở đây, cần tập trung vào các khía cạnh: trí tuệ, cương lĩnh, đường lối, đạo đức, tính tổ chức, kỷ luật, bản lĩnh chính trị, khả năng tập hợp quần chúng Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng lên ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ của tình hình mới là đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta, là thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở sức mạnh, vai trò của Nhà nước Sẽ không có Đảng mạnh mẽ, chắc chắn nếu nhà nước yếu kém, hình thức, quan liêu, tham nhũng, luật pháp không nghiêm
Trang 7
Hai là, cần phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội
dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Lãnh đạo, quản lý là quá trình chủ thể tác động vào khách thể, nhận thức khách thể Xét về bản chất, lãnh đạo và quản lý đều là quá trình điều khiển Tuy nhiên, lãnh đạo
là quá trình định hướng cho mọi khách thể, còn quản lý là quá trình tổ chức, sắp xếp,
bố trí để thực hiện sự định hướng Quản lý là sự tiếp tục của lãnh đạo ở vòng khâu mang tính chất cụ thể hóa và hiện thực hóa sự lãnh đạo Nói Đảng lãnh đạo không có nghĩa là Đảng không có chức năng quản lý, Nhà nước quản lý không có nghĩa là Nhà nước không có lãnh đạo Chức năng quản lý của Đảng thể hiện trong việc quản lý trực tiếp đảng viên (nhất là đảng viên trong bộ máy nhà nước và quản lý xã hội, quản
lý đất nước), nhưng ở đây là sự quản lý gián tiếp thông qua Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Nói Đảng không làm thay chức năng của Nhà nước là đúng, nhưng nói Đảng không can dự vào công việc quản lý nhà nước thì
sẽ là sự mơ hồ về chính trị Và, trong sự lãnh đạo của Đảng có nội dung quản lý, thông qua quản lý để lãnh đạo Mặt khác, Nhà nước lãnh đạo xã hội thông qua việc hoạch định kế hoạch, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội; song có thể nói, đây
là sự lãnh đạo "cấp hai" chứ không phải ở cấp cao nhất Đó là tiếp tục sự lãnh đạo của Đảng dưới hình thức nhà nước Cho nên, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước vừa thống nhất, vừa khác biệt; tách Đảng khỏi Nhà nước, Đảng làm thay Nhà nước đều là sai lầm cực đoan như nhau
Điều cần chú ý là, khác với hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa, trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Đảng cầm quyền và Nhà nước đều là người đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân Vì lẽ đó mà trong một thời gian dài, các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, ít quan tâm nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, ít chú ý phân biệt giữa Đảng và Nhà nước Từ đó, trong thực tiễn thường xảy ra tình trạng lẫn lộn, nhập cục Đảng với Nhà nước Hiện tượng "Đảng trị", Đảng "ôm quyền", lấn át chính quyền nhà nước xảy ra khá phổ biến ở các nước
xã hội chủ nghĩa Từ chỗ là lực lượng lãnh đạo, Đảng có xu hướng bị "nhà nước hóa" thành cơ quan quyền lực, trực tiếp làm chức năng của Nhà nước Sự lẫn lộn nhập cục một cách chủ quan giữa chức năng của Đảng và chức năng của Nhà nước đã làm cho Đảng yếu, Nhà nước non kém, Đảng không phát huy được chức năng vốn có của
Trang 8và các đoàn thể nhân dân Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định "tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước"(10) Và, mới đây, tại Đại hội X,
một lần nữa, Đảng ta nhấn mạnh: "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó
tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước… Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội"(11)
Như vậy, ở đây, cần chú ý làm rõ sự khác biệt giữa quyền lực chính trị của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng với quyền lực, quyền uy pháp luật của Nhà nước, sự quản lý của Nhà nước Hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng phải khác với hệ thống tổ chức bộ máy của Nhà nước; sự đào tạo, huấn luyện cán bộ Đảng khác với sự đào tạo, huấn luyện cán bộ nhà nước(12) Đương nhiên, sự phân biệt thực thể này với thực thể khác không có nghĩa là tách rời, biệt lập, cũng không phải là đối lập với nhau Đây là sự khác biệt trong thống nhất, có cùng chiều hướng chung với một hệ mục tiêu, hệ giá trị đã được xác định Nhận thức đúng sự khác biệt trên là cơ sở để thực hiện những đổi mới, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, để nhân dân làm chủ
Ba là, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành
hoạt động của Nhà nước Yêu cầu của việc tổ chức bộ máy nhà nước sao cho Nhà nước thực sự là cơ quan quyền lực thể hiện ý chí của Đảng cầm quyền và cũng là ý
Trang 9Để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, cần chú ý giải quyết các mặt sau:
Thứ nhất, cần đề cao và thực hiện nhất quán các chuẩn mực dân chủ và pháp quyền
trong Đảng, trong Nhà nước và xã hội Hạn chế lớn nhất, từ trước đến nay, là hệ thống tổ chức, thể chế và cơ chế quyền lực, những quy định về các biện pháp và các điều kiện, các chế tài để kiểm tra, giám sát quyền lực không rõ ràng; đặc biệt là chế
độ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân bị xem nhẹ và suy yếu nghiêm trọng, thậm chí thiếu vắng Một bộ trưởng bị kỷ luật thì trách nhiệm của Chính phủ ở đâu, một vụ trưởng tham nhũng dưới quyền bị kỷ luật thì bộ trưởng trách nhiệm đến đâu, vì sao
có những vụ tham nhũng lớn, làm thất thoát hàng ngàn tỷ đồng mà lại kéo dài nhiều năm không được phát hiện từ chính các tổ chức Đảng, mà phải nhờ công luận và các
cơ quan thi hành pháp luật?
Để khắc phục từng bước những hạn chế trên cần phải "hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền"(13) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời Đảng hoạt động và thực hiện sự lãnh đạo phù hợp với tinh thần pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, không đứng trên Nhà nước, xã hội công dân và luật pháp
Thứ hai, nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước Nhà nước vô sản là
nhà nước kiểu mới, "nửa nhà nước", do đó trong quá trình thực hiện, cần phân biệt rõ đâu là nhà nước với tư cách một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, đâu là hoạt động quản lý sản xuất, kinh doanh của nhà nước, là “phần nửa” không thuộc nhà nước Trong hoạt động của nhà nước vẫn còn có hiện tượng lẫn lộn nhà nước với tư
Trang 10Ba là, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với Nhà nước Đảng lãnh
đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát, kể cả kiểm tra, giám sát cơ quan nhà nước ở cấp vĩ mô, và vấn đề này phải được luật pháp hóa Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, Đảng phát hiện những thiếu sót, lệch lạc trong hoạt động của Nhà nước để kịp uốn nắn, đồng thời phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề mới nảy sinh để
bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chính sách cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn Đảng phải tăng cường giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước trên tinh thần kỷ luật và đạo đức cộng sản Chỉ có như vậy thì các nhân viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước mới "tự giác" đặt mọi hoạt động của mình trong tổ chức Tổ chức và đạo đức, tất yếu và tự do gắn chặt với nhau Và, chỉ có tổ chức mới
có năng lực buộc người ta tự điều chỉnh trong lĩnh vực đạo đức
Trong chủ nghĩa xã hội, người lao động hoạt động không phải chỉ với tư cách người công dân, mà còn với tư cách người chủ tư liệu sản xuất của xã hội Do đó, đặc điểm
Trang 11
dân chủ xã hội chủ nghĩa là có sự thống nhất giữa quyền công dân và quyền làm chủ
xã hội của người chủ tư liệu sản xuất "Dân là gốc", tất cả là do dân, vì dân, quyền lực của dân là tối cao Hoạt động của Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo là theo xu hướng tất yếu đó Chính đây là điểm xuất phát cơ bản để chúng ta từng bước xây dựng hệ thống chính trị với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra",
để Nhà nước ta thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, để khi con người được đặt trong cơ chế đó thì quyền tự do dân chủ của họ được thực hiện trong thực tế Và, chính
cơ chế đó sẽ thu hút quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm kê, kiểm soát số lượng lao động, sản xuất và phân phối sản phẩm
Cùng với những vấn đề trên, cần chú ý tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, từng bước hoàn thiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước
Thực tiễn cách mạng nước ta chứng tỏ rằng, sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước phụ thuộc vào việc Nhà nước thực hiện dân chủ đến mức nào; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có đại diện cho lợi ích của đa số quần chúng nhân dân không; các đại biểu trong cơ quan nhà nước có xứng đáng là "công bộc có trách nhiệm" của dân không Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là tạo ra sức mạnh tất yếu đó để Nhà nước vươn lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu cách mạng hiện nay.r
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
(1) Xem: V.I.Lênin Toàn tập, t.39 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.179
(2) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.129
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131-132
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.45
Trang 12
(5) Xem: GS.TS Trần Hữu Tiến Tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Trong sách:Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng (GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Đặng Hữu Toàn (Đồng
chủ biên)) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.382
(6) Xem: Nguyễn Phú Trọng Xây dựng Đảng cầm quyền: một số kinh nghiệm Tài
liệu phục vụ Hội nghị cán bộ triển khai nhiệm vụ năm học 2004 - 2005, t.1, Hà Nội,
Trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành một học thuyết khoa học, vấn đề xuất phát điểm nghiên cứu luôn là một trong những vấn đề quan trọng nhất Với bất cứ học thuyết khoa học nào, trong giai đoạn đầu, xuất phát điểm nghiên cứu có thể kể
Trang 13
tới xuất phát điểm về đối tượng, về lập trường nghiên cứu (khi học thuyết khoa học chưa được hình thành một cách đầy đủ, thì hệ thống phương pháp của học thuyết ấy cũng chưa thể hình thành một cách hoàn chỉnh và người ta chỉ có thể nói tới lập trường tư tưởng của nhà khoa học lúc đó mà thôi) và về mục đích nghiên cứu (cái đích khái quát nhất mà nhà nghiên cứu hướng tới khi bước đầu tiếp cận đối tượng nghiên cứu) Ở đây, chúng tôi không có ý định hướng sự quan tâm của mình vào việc tìm hiểu cái gì quy định xuất phát điểm nghiên cứu này, bởi nó liên quan mật thiết với những vấn đề thuộc phạm vi khác, như hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh phát triển của
tư tưởng và văn hóa mà các nhà nghiên cứu sống và trưởng thành trong đó, những thiên hướng tự nhiên của họ, v.v Chúng tôi chỉ đề cập tới một khía cạnh khác – đó
là, để có thể diễn đạt một cách trực tiếp, rành mạch về xuất phát điểm nghiên cứu, đặc biệt là xuất phát điểm về đối tượng, thì nhà nghiên cứu phải trải qua giai đoạn xây dựng học thuyết và ít nhất cũng đã có được một sự hình dung tương đối rõ ràng
về hệ thống những quan điểm, lý luận của mình
Đối với triết học Mác - Lênin, chúng ta có thể nhận thấy điều này một cách dễ dàng
Rõ ràng là, trong thời kỳ đầu hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen, khi viết những
tác phẩm đầu tay, như Lời nói đầu Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Bản
thảo kinh tế – triết học năm 1844, Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Gia đình thần thánh và ngay cả trong Luận cương về Phoiơbắc, các ông chưa thể có được cách
diễn đạt trực tiếp về xuất phát điểm nghiên cứu của mình, dẫu lập trường nghiên cứu
của các ông đã dần được hình thành Có thể nói, phải đến Hệ tư tưởng Đức – tác
phẩm được coi là quan trọng nhất trong thời kỳ đầu hình thành triết học Mác – “xác lập hệ thống lý luận quan điểm duy vật lịch sử”(1), thì C.Mác và Ph.Ăngghen mới có thể tuyên bố: “Những tiền đề của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi”(2) Bởi lẽ, khi viết tác phẩm này, theo Ph.Ăngghen, bản thân các ông đã tự “làm sáng tỏ mọi vấn đề”(3) cho mình rồi
Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt sự quan tâm của mình vào xuất phát điểm nghiên cứu Điều này cũng có nguyên nhân lịch sử của nó Hệ tư
tưởng Đức có phụ đề là Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ và phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua các nhà tiên tri
Trang 14
khác nhau của nó Khi “phê phán triết học Đức hiện đại”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
đặc biệt chú ý tới xuất phát điểm nghiên cứu của mỗi đại biểu trên Các ông không chỉ vạch rõ tính chất duy tâm trong xuất phát điểm của họ, mà còn chỉ rõ từ xuất phát điểm ấy, họ đã phạm những sai lầm như thế nào khi xây dựng quan điểm lịch sử Để đối lập với những quan điểm ấy, các ông đã nêu lên xuất phát điểm cho triết học của mình và với xuất phát điểm này, quan niệm của các ông về lịch sử đã có những khác
biệt, có sự phát triển về cơ bản Vì nguyên nhân đó mà các tác giả của Lịch sử chủ
nghĩa Mác đã nhận xét: “Sự bàn bạc và phân tích lý luận quan điểm duy vật lịch sử
trong Hệ tư tưởng Đức, chủ yếu phân làm ba bộ phận: điểm xuất phát, quan điểm cơ
bản và kết luận rút ra từ đó”(4) Theo đó, điểm xuất phát mà các ông đã đưa ra được đánh giá là một trong ba thành phần làm nên “quan điểm duy vật về lịch sử”, tức là làm nên giá trị to lớn nhất của tác phẩm này Và, xuất phát điểm nghiên cứu
của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức cũng là đối tượng của bài viết
này
1 “Những cá nhân hiện thực” – xuất phát điểm nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen
Hệ tư tưởng Đức, xét theo tên gọi thuần túy, là một tác phẩm bút chiến, có mục đích
là phê phán các trào lưu tư tưởng đang có những tác hại đối với phong trào hiện thực của giai cấp công nhân Tuy nhiên, để đánh đổ lý luận của các nhà tư tưởng ấy bằng
lý luận, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cần phải phát biểu trực tiếp những quan điểm của riêng mình và tiến hành phê phán một cách thật sự cách mạng đối với lý luận của các nhà tư tưởng ấy, chứ không thể chỉ nói một cách đơn giản rằng “quan điểm của các ông Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ là sai lầm”
Nhìn lại lịch sử triết học, có thể thấy, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, “con người” đã là chủ đề được đặc biệt quan tâm Cùng với luận điểm của Xôcrát – “con người hãy nhận thức chính mình”, triết học đã thật sự thừa nhận “con người” là đối tượng của
sự nghiên cứu Từ đó về sau, mọi nền triết học, mọi nhà triết học, dù đặt mối quan tâm của mình vào bất cứ đối tượng nào, cuối cùng cũng phải kết thúc lập luận của mình ở những nghiên cứu về con người Nhưng, nếu chỉ nói về “con người” thì chưa
đủ Vấn đề là con người như thế nào, con người được quan niệm như thế nào ở mỗi trường phái, mỗi nhà triết học – khi đó, quan niệm về “con người” đã đứng trên một
Trang 15
lập trường thế giới quan nhất định và vì thế, qua những nghiên cứu về “con người” của các nhà triết học, người ta có thể nhận ra lập trường tư tưởng, quan niệm về thế giới của họ và nhận ra cuộc đấu tranh giữa những tư tưởng ấy trong suốt chiều dài lịch sử triết học
Khi xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử – quan niệm lấy lịch sử con người làm
đối tượng, trong Hệ tư tưởng Đức, lần đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày
một cách trực tiếp về xuất phát điểm, về đối tượng nghiên cứu của mình: con người
cá nhân, cụ thể hơn, “những cá nhân hiện thực” Các ông viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề trừu tượng, không phải là giáo điều;
đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện
do hoạt động của chính họ tạo ra Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy”(5)
“Những cá nhân hiện thực” này được C.Mác và Ph.Ăngghen đặt trên nền tảng duy vật triệt để (xuất phát điểm về lập trường thế giới quan): “hoàn toàn không giống với triết học Đức là thứ triết học đi từ trên trời xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới đất đi lên trời”(6) “Từ dưới đất”, tức là “chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực”(7), đúng như những con người đang hoạt động ngoài cuộc sống
(ngoài so với tư tưởng đang vận động trong đầu các nhà triết học), với hoạt động sản
xuất và những quan hệ của họ với nhau, con người “kinh nghiệm”, hoàn toàn có thể tìm hiểu bằng kinh nghiệm
Ở đây, chúng ta cần dừng lại để bàn thêm về một khía cạnh nhỏ nhưng tinh tế của
vấn đề Đó là: trong Hệ tư tưởng Đức, đặc biệt là ở chương 1, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã xây dựng quan điểm về lịch sử loài người – quan điểm về lịch sử được bắt đầu từ đâu? Cái gì quy định sự phân kỳ và phát triển của lịch sử? Lịch sử sẽ đi đến đâu? Không chủ đích đi tìm “bản chất con người” hay xem xét “con người” ở những khía cạnh phong phú của nó, các ông đã xem xét “con người” với tư cách “tiền đề đầu tiên của lịch sử” Con người “cá nhân hiện thực” ở đây được bàn đến như là xuất phát điểm cho lịch sử cũng như cho việc nghiên cứu về lịch sử, chứ không phải chỉ là đối tượng của sự nghiên cứu lý luận Và, bởi “con người cá nhân” được xem xét như là
Trang 16
xuất phát điểm, nên các ông chỉ hướng sự quan tâm của mình vào một phương diện của vấn đề con người – hoạt động của con người, cái làm nên lịch sử loài người
Quan tâm đến hoạt động của con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói về mối quan
hệ cá nhân – xã hội Đó không phải là mối quan hệ giữa cá nhân kiệt xuất với quần chúng nhân dân, mà là giữa những cá nhân bình thường, hoạt động của họ và những
điều kiện sinh hoạt của họ, với xã hội, với loài của mình Trước Hệ tư tưởng Đức, trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã đưa ra một kết luận quan trọng về vấn đề
này: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội” Đến Hệ tư tưởng Đức, con người hiện thực, “cá nhân hiện thực” và mối
quan hệ của nó với xã hội đã được C.Mác và Ph.Ăngghen làm rõ khi khẳng định rằng, chỉ có trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân mới hình thành được bản chất người; rằng, không thể có cá nhân riêng lẻ, tách biệt khỏi xã hội, bởi một khi bị tách khỏi xã hội, nó không bao giờ trở thành cá nhân được Nói về mối quan hệ giữa con người “cá nhân hiện thực” với xã hội của họ, với lịch sử hiện thực mà trong đó họ đang tồn tại, các ông cho rằng, “ngay từ đầu, đã có mối liên hệ vật chất giữa người với người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất
và cũng lâu đời như bản thân loài người, - một mối liên hệ không ngừng mang hình thức mới, và do đó, là “lịch sử””(8) Như vậy, theo các ông, bản thân lịch sử chính là mối quan hệ ấy, là mối quan hệ mang tính vật chất ấy giữa những con người “cá nhân hiện thực” và giữa họ với xã hội của họ
Khi nói “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”(9), C.Mác và Ph.Ăngghen đã gián tiếp khẳng định con người “cá nhân hiện thực” là chủ thể sáng tạo lịch sử – “cá nhân hiện thực” với hành động hiện thực của họ tạo nên lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử ấy Mặt khác, do coi “lịch sử” mới thật sự là đối tượng cần được xem xét, nên vấn đề lịch sử quyết định sự hình thành và phát triển của “cá nhân hiện thực” đã được các ông phát biểu một cách trực tiếp hơn: “Những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”; “những cá nhân nhất định, hoạt động sản xuất theo một phương thức nhất định, đều nằm trong những quan
hệ xã hội và chính trị nhất định”(10) Rằng, “những điều kiện vật chất của sự sản xuất” là cái mà những cá nhân thừa hưởng từ trước, “có sẵn” đối với họ, là cái mà họ
Trang 17
được tiếp nhận từ xã hội và lịch sử để từ nền tảng đó, họ tiến hành sản xuất, tham gia những quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội khác Những cá nhân như vậy luôn chịu sự quy định của xã hội và của lịch sử loài của mình Với quan niệm này, các ông đã đi đến kết luận: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”(11)
Với xuất phát điểm nghiên cứu là con người “cá nhân hiện thực” với tư cách tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử, tồn tại trong mối quan hệ với lịch sử, với xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến những quan điểm duy vật về lịch sử
2 Từ “cá nhân hiện thực” đến những quan điểm duy vật về lịch sử
Xuất phát từ “tiền đề đầu tiên của lịch sử” – con người “cá nhân hiện thực” đến việc phân tích mối quan hệ giữa con người và xã hội, mà khía cạnh quan trọng nhất của
nó là khía cạnh vật chất, rồi từ đó, trình bày những quan điểm duy vật về lịch sử với
tư cách một hệ thống cùng những khái niệm đặc thù của nó, có thể nói, là một nội
dung cốt lõi của Hệ tư tưởng Đức
Đương nhiên, Hệ tư tưởng Đức chỉ là tác phẩm ở thời kỳ đầu hình thành quan điểm
duy vật về lịch sử, dẫu đây là tác phẩm quan trọng nhất của thời kỳ này Trong tác phẩm này, cái mà chúng ta gọi là hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử chưa được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách rành mạch như trong các tác phẩm ở giai
đoạn sau (ví dụ, Lời tựa Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Chống Đuyrinh,
v.v.) Hệ thống ấy có thể rút lại trong hai nguyên lý quan trọng nhất, hai nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử: nguyên lý về sự phát triển biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa xã hội công dân và kiến trúc thượng tầng Khi trình bày những nguyên lý này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng những thuật ngữ cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật lịch sử: phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất (“hình thức giao tiếp”), cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, ý thức xã hội,… Những thuật ngữ này không được các ông định nghĩa một cách trực tiếp (theo lối A là B), nhưng thông qua quan hệ giữa chúng với nhau để tạo nên nội dung của những nguyên lý phản ánh lịch sử hiện thực, các ông
đã cho chúng ta thấy nội hàm của chúng
Hai nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử được C.Mác và Ph.Ăngghen
trình bày trong Hệ tư tưởng Đức có quan hệ như thế nào với xuất phát điểm nghiên
Trang 18
cứu của các ông – con người “cá nhân hiện thực”? Hay nói cách khác, từ xuất phát điểm đó, các ông đã đi đến hai nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử như thế nào?
Có thể nói, trong tất cả những yếu tố của lịch sử hiện thực, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tìm ra yếu tố đóng vai trò xuất phát, yếu tố mà có nó mới có những yếu tố còn lại:
“Những cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ” Những cá nhân hiện thực này thực hiện “hành vi lịch sử đầu tiên” của họ là sản xuất, cái mà “ngay lập tức” phân biệt con người với toàn bộ giới tự nhiên còn lại Hành vi này được tiến hành trong mối quan hệ giữa người và người Từ xuất phát điểm này, các ông đã đi đến quan niệm về lực lượng sản xuất với tư cách kết quả hoạt động sản xuất của con người ở mỗi thời điểm lịch sử nhất định và đến quan niệm về quan hệ sản xuất (“hình thức giao tiếp”) với tư cách những mối quan hệ trong quá trình sản xuất của những con người “cá nhân hiện thực” Mặc dù chưa đưa
ra định nghĩa chính xác về các khái niệm này, nhưng mỗi khi đề cập đến lực lượng sản xuất hay “hình thức giao tiếp”, các ông đều nhất quán khẳng định lực lượng sản xuất là cái quyết định: “Tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội”(12); “hình thức giao tiếp – cái mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước tới nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất”(13) Ngay trong tác phẩm này, các ông cũng đã đưa ra một phác thảo rõ nét về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất có một giai đoạn mà trong đó xuất hiện những lực lượng sản xuất và những phương tiện giao tiếp chỉ có thể gây tác hại trong khuôn khổ những quan hệ hiện có,
và đã không còn là những lực lượng sản xuất nữa mà lại là những lực lượng phá hoại”(14)
Coi “hình thức giao tiếp” là quan hệ sản xuất giữa những con người “cá nhân hiện thực”, là yếu tố cốt lõi tạo nên xã hội công dân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một định nghĩa về xã hội công dân: “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất”(15) Định nghĩa xã hội công dân như vậy, có thể nói, gần với nội hàm của khái
niệm “cơ sở hạ tầng” mà sau này, trong Lời tựa Góp phần phê phán khoa kinh tế
Trang 19
chính trị (1859), C.Mác đã đưa ra: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình,
con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”(16) Xã hội công dân với tư cách nền tảng của kiến trúc thượng tầng (những quan hệ khác ngoài quan hệ sản xuất – quan
hệ chính trị, pháp lý…) đã được C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích kỹ khi nói đến ý thức thống trị trong đời sống xã hội – ý thức của giai cấp thống trị về vật chất Ở đây, cái quyết định cuối cùng vẫn là vật chất và trong đời sống xã hội, đó là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của những con người “cá nhân hiện thực”
Như vậy, có thể nói, trong mọi vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử được đưa ra
trong Hệ tư tưởng Đức, chúng ta luôn tìm thấy dấu ấn của xuất phát điểm nghiên cứu
của C.Mác và Ph.Ăngghen – con người “cá nhân hiện thực” Kết luận sau đây của chính các ông đã cho thấy rõ điều đó:
“Quan niệm đó (quan niệm duy vật biện chứng – L.M.V) về lịch sử là: phải xuất phát
từ chính ngay sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và hiểu hình thức giao tiếp gắn liền với phương thức sản xuất ấy và
do phương thức sản xuất ấy sinh ra – tức là xã hội công dân ở những giai đoạn khác nhau của nó – là cơ sở của toàn bộ lịch sử; rồi sau đó phải miêu tả hoạt động của xã hội công dân trong lĩnh vực sinh hoạt nhà nước, cũng như xuất phát từ xã hội công dân mà giải thích toàn bộ những sản phẩm lý luận khác nhau và mọi hình thái ý thức, triết học, đạo đức, v.v., và theo dõi quá trình phát sinh của chúng trên cơ sở đó; nhờ vậy mà tất nhiên là có thể miêu tả được toàn bộ quá trình”(17)
3 Sự phê phán của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với các nhà “triết học Đức hiện đại” về xuất phát điểm nghiên cứu
Hệ tư tưởng Đức có nội dung chính, hoặc ít ra thì cũng là nội dung chiếm phần lớn
số lượng trang viết – phê phán “triết học Đức hiện đại” qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ Các nhà “tư tưởng Đức hiện đại” bị quy định bởi lịch
sử hiện thực và lịch sử phát triển tư tưởng lúc đó, nên đã đặt trọng tâm vào việc phê
Trang 20
phán tôn giáo, lấy phê phán tôn giáo làm tiền đề cho những nghiên cứu triết học của mình Điều này có thể thấy rõ nhất ở Phoiơbắc với tác phẩm đầu tay bàn về “cái chết
và sự bất tử” (1830) Tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông – Bản chất
đạo Cơ đốc (1841) cũng đã đặt tôn giáo trước con mắt phê phán nghiêm khắc
Nhưng, các nhà triết học thuộc “hệ tư tưởng Đức” đều bắt đầu từ triết học của Hêghen; nói cách khác, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hêghen, dù họ luôn tìm cách phê phán và cho rằng mình đã vượt bỏ được ông thầy tư tưởng của mình Họ phê phán Hêghen nhưng đều hoặc là gạt bỏ hạt nhân biện chứng của triết học Hêghen (như Phoiơbắc), hoặc chỉ diễn đạt bằng cách khác, rối rắm hơn, tầm thướng hơn chính những tư tưởng của Hêghen Tự cho mình là những nhà phê phán, cái họ phê phán đầu tiên là triết học Hêghen, sau đó là tôn giáo để rồi xây dựng hệ thống của mình Tất cả họ đều bắt đầu hệ thống của mình bằng “con người” Nhưng, đó là những “con người” như thế nào và có gì khác biệt so với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen?
C.Mác và Ph.Ăngghen đặt sự phân tích triết học Phoiơbắc lên vị trí đầu tiên trong tác phẩm bởi, Phoiơbắc là người đối lập mạnh mẽ nhất và có hiệu quả nhất đối với triết học Hêghen (trong số các nhà “triết học Đức hiện đại”) và do đó, có phần gần với quan điểm của các ông hơn cả Đồng thời, qua việc phê phán Phoiơbắc, các ông cũng
dễ dàng đưa ra tư tưởng của mình hơn Khi xây dựng hệ thống triết học nhân bản của mình, Phoiơbắc cũng bắt đầu từ con người, song, con người trong tư tưởng của ông khác hẳn con người với tư cách xuất phát điểm trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen Con người của Phoiơbắc là con người trừu tượng, phi lịch sử, đứng bên ngoài lịch sử hiện thực của chính nó: “Phoiơbắc… không bao giờ đi tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng: “Con người” và chỉ đóng khung ở chỗ thừa nhận con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan
hệ con người”, “giữa người với người” nào khác ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa lại là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hóa Ông không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại”(18) Từ con người trừu tượng như vậy, không có gì khó hiểu khi Phoiơbắc sa vào quan điểm duy tâm trong quan niệm về xã hội và lịch sử
Đối với Phoiơbắc – nhà duy vật duy nhất trong số những đại diện của “triết học Đức
Trang 21M.Stiếcnơ cũng là một nhà triết học thuộc phái Hêghen trẻ giống như B.Bauơ, nhưng không nhấn mạnh vào “sự phê phán có tính chất phê phán” hay hoàn toàn trừu tượng hóa “con người” thành “tự ý thức” M.Stiếcnơ bắt đầu bằng “con người duy nhất”, cá nhân vị kỷ, “cái Tôi duy nhất” và lấy đó làm xuất phát điểm “Cái Tôi duy nhất” của M.Stiếcnơ, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, là “cái, hoàn toàn cũng như Trời, là cái Không của tất cả cái khác, cái Tôi là tất cả của Tôi, cái Tôi là Kẻ duy nhất… Tôi là
cái Không, theo nghĩa là sự trống rỗng, nhưng tôi là cái Không có tính sáng tạo, là
cái Không mà từ đó bản thân cái Tôi, với tính cách là kẻ sáng tạo, sáng tạo ra tất cả”(20) Rằng, “cái Tôi duy nhất” được M.Stiếcnơ định nghĩa như một “thực thể”, tức là hoàn toàn tư biện, nối tiếp truyền thống tư biện của triết học Tây Âu, kể từ Đêcáctơ cho đến Hêghen Ở đó, như C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, mang rõ nét ảnh hưởng của Hêghen: “Kẻ duy nhất, xét theo quan điểm thực thể, đó là bước đầu của lôgíc “duy nhất” và với danh nghĩa như vậy, đó là sự đồng nhất chân chính giữa
“tồn tại” và cái “không” kiểu Hêghen”(21)
Như vậy, có thể nói, “Kẻ duy nhất” với tư cách xuất phát điểm nghiên cứu của M.Stiếcnơ không chỉ có những điểm khác biệt với “con người trừu tượng” của Phoiơbắc, mà còn đối lập với con người “cá nhân hiện thực” của C.Mác và Ph.Ăngghen Từ “Kẻ duy nhất”, M.Stiếcnơ đã xây dựng hệ thống quan điểm tư biện
về xã hội, về loài người mà theo đó, con người trong tiến trình phát triển lịch sử của
nó chỉ như là sự tự phát hiện ra mình (trải qua ba giai đoạn “tự phát hiện”: trẻ con,
Trang 22
thanh niên và người lớn), tự mình tồn tại và phát triển mà không cần đến yếu tố bên ngoài nào Do đồng nhất “con người” với “Kẻ duy nhất”, M.Stiếcnơ còn phân tích những vấn đề khác, như sở hữu, kinh tế, giai cấp và chủ nghĩa cộng sản, trong đó
“Kẻ duy nhất” không phải cái gì khác mà chính là “kẻ sở hữu”, còn đấu tranh giai cấp cùng với chủ nghĩa cộng sản thì được quan niệm một cách tư biện và ấu trĩ, gây hại cho phong trào hiện thực của giai cấp vô sản Điều này giải thích vì sao C.Mác và Ph.Ăngghen đã dành một dung lượng lớn để phân tích và phê phán quan điểm của M.Stiếcnơ
Từ đó, chúng ta thấy, sự khác biệt lớn nhất trong xuất phát điểm nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen và các nhà “triết học Đức hiện đại” là ở sự khác biệt trong quan niệm về con người Con người mà C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm là con người “cá nhân hiện thực”, với những quy định của lịch sử và đến lượt nó, con người lại quy định sự phát triển của lịch sử Còn con người ở các nhà “tư tưởng Đức hiện đại” là con người trừu tượng, phi lịch sử, hay cá nhân vị kỷ – “Kẻ duy nhất”, “cái Tôi duy nhất” được trừu tượng hóa thành “tự ý thức” và hơn nữa, còn được xem xét từ lập trường duy tâm, tư biện và trừu tượng, hoàn toàn xa rời hiện thực Từ xuất phát điểm này, họ tất phải đi đến những quan điểm duy tâm và trừu tượng về lịch sử và xã hội
Như vậy, có thể nói, trong Hệ tư tưởng Đức, con người được C.Mác và Ph.Ăngghen
lấy làm xuất phát điểm cho những nghiên cứu lịch sử là con người “hiện thực”,
“những cá nhân hiện thực” với tất cả các mối quan hệ, liên hệ phong phú và phức tạp của họ trong xã hội và lịch sử Không dừng lại ở đó, các ông còn phân tích và tìm ra hoạt động quan trọng nhất của “những cá nhân hiện thực” là hoạt động sản xuất ra đời sống vật chất và mối quan hệ quan trọng nhất giữa “những cá nhân hiện thực” đó
là quan hệ sản xuất (quan hệ vật chất) Từ đó, quan niệm của các ông về lịch sử và sự phát triển của lịch sử đã trở thành quan niệm duy vật về lịch sử, phản ánh đúng đắn lịch sử hiện thực.r
(*) Nghiên cứu viên, Phòng Triết học phương Tây, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 23Thế giới ngày càng khẳng định tính đa dạng của mỗi nền văn minh gắn liền với nhu cầu đối thoại trên phạm vi toàn thế giới và triết học có vai trò cốt lõi trong mỗi nền văn minh Thật là đặc biệt vui mừng khi vấn đề này lại được đề cập và trao đổi trên mảnh đất Việt Nam, nơi đã từng tiếp xúc với nhiều nền văn minh và trào lưu triết học trên thế giới
Nói tới vai trò chung của triết học không có nghĩa là phủ nhận sự khác nhau giữa các nền triết học Triết học Việt Nam tồn tại và phát triển trên cơ sở vừa khẳng định bản sắc dân tộc của mình, vừa mở rộng giao lưu để tiếp thu mọi giá trị tích cực của các dân tộc khác Có thừa nhận sự phong phú và tôn trọng những đặc điểm riêng của mọi nền triết học mới có thể đi tới một sự thống nhất về vai trò của triết học như một sự đóng góp chung vào cuộc sống của nhân loại ngày nay
Triết học không phải là một món quà đặc biệt mà Thượng đế đã ban riêng cho một số nước, cho một số vùng lãnh thổ để trở thành những nền văn minh khác nhau của
nhân loại
Mọi nền triết học đều ra đời trong mối tương tác giữa hoàn cảnh và con người với những nét đặc thù của thiên nhiên, kinh tế, xã hội
Trang 24
Chúng tôi cho rằng, sự tiếp biến văn hóa (acculturation) là một điều tất yếu đối với
sự phát triển của mọi nền văn minh Nhưng sự tiếp biến đó chỉ thành công khi dân tộc thâu nhận những giá trị của những nền văn minh khác mà vẫn giữ vững bản lĩnh dân tộc của mình và củng cố thêm bản lĩnh đó
Từ xa xưa, hoàn cảnh sinh hoạt của con người Việt Nam luôn bị đe dọa bởi những tai họa của thiên nhiên và sự xâm lược của nước ngoài Điều kiện để tồn tại và phát triển
là phải phát huy được những nhân tố tinh thần cao nhất do thực tế đòi hỏi Trước hết
là phải tăng cường sự cố kết của cả cộng đồng để cùng suy nghĩ và hành động
Thiên tai và địch họa từ xa xưa là sự thử thách quá lớn đối với một quốc gia quá nhỏ như Việt Nam Thường xuyên sống trước nguy cơ bị tiêu diệt, dân tộc Việt Nam sớm
nhận ra sức mạnh duy nhất có thể cứu mình là tính cộng đồng, là dựa vào nhau cùng
sản xuất và chiến đấu, là chia sẻ với nhau mọi nỗi vui mừng và đau khổ Đói rét
thìnhường cơm sẻ áo Trong hoạn nạn thì chị ngã em nâng Cá nhân tách khỏi cộng
đồng thì vô cùng yếu ớt, còn cộng đồng gắn kết được mọi thành viên thì tạo nên một sức mạnh vô địch
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây hợp lại nên hòn núi cao
Yêu thương là một tình cảm tự nhiên của con người, là một điều răn dạy của mọi đạo
đức và tôn giáo Nhưng ở Việt Nam, yêu thương lại là một điều kiện để tồn tại, là vũ khí để chiến đấu, là lẽ sống bền vững, là hạnh phúc lớn nhất của con người
Thương người như thể thương thân, câu nói hàng ngày này của mọi người Việt Nam
đã từ lâu được coi như một đạo lý trong quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, cộng
đồng với cá nhân Tình yêu thương ấy được xây dựng và củng cố trong cộng đồng
gia đình, tất yếu mở rộng thành tình yêu thương trong cộng đồng Tổ quốc rồi
đến cộng đồng nhân loại Bởi sự tồn tại của gia đình trước hết phụ thuộc vào sự tồn
tại của cả nước và hòa bình, hạnh phúc của mỗi quốc gia gắn liền với hòa bình, hạnh phúc của cả nhân loại
Nếu như ở Việt Nam, tính cộng đồng là biểu hiện mãnh liệt nhất trong tình cảm giữa
cá nhân với Tổ quốc thì tình cảm này không tách khỏi tình cảm gia đình, mà ngược lại, nó được nảy sinh và rèn đúc từ trong gia đình Mặt khác, tình cảm yêu nước của
Việt Nam không bao giờ trở thành chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và đối lập với tình cảm
Trang 25
quốc tế Khi có nước ngoài đến xâm lược thì mọi gia đình đều cho con em lên đường cứu nước nhưng trong chiến đấu, mọi người đều phân biệt rõ ràng giữa bọn thống trị
và nhân dân của nước ấy
Chúng tôi cho rằng, các dân tộc trên thế giới đã hiểu rõ tình cảm này của Việt Nam đối với cộng đồng nhân loại Hồ Chí Minh đã suốt đời giương cao ngọn cờ chiến đấu
và lãnh đạo nhân dân Việt Narn đi tới thắng lợi cuối cùng lại được thế giới tôn vinh
là con người của hòa bình Mảnh đất thủ đô Hà Nội đã từ bao đời thấm máu của bao
nhiêu thế hệ thanh niên trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc lại được thế giới phong tặng
danh hiệu thủ đô của hòa bình Trong kháng chiến chống quân đội Pháp, Hồ Chí
Minh đã từng nói rằng: Máu của người Pháp cũng là máu của con người Chiến
tranh chỉ là bất đắc dĩ Đối xử nhân đạo với tù binh, tha chết và tiễn đưa hàng chục
vạn quân xâm lược bại trận về nước, nhanh chóng lập lại tình hữu nghị sau mỗi trận chiến tranh Đó là đạo lý của con người Việt Nam trước cộng đồng nhân loại Đạo lý
này quán triệt cả trong triết học, tôn giáo và đạo đức
Nếu chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện rõ rệt nhất của tính cộng đồng Việt Nam thì nó cũng là cốt lõi của mọi tư duytriết học, là tiêu chuẩn cao nhất trong đạo đức, là điều thiêng liêng nhất trong mọi tôn giáo ở Việt Nam
Về mặt đạo đức, vinh dự cao nhất thuộc về những người có công với Tổ quốc và
đáng khinh bỉ nhất là những kẻ phản bội lại cộng đồng Lương tâm cắn rứt chúng và
dư luận xã hội lên án chúng
Về mặt tôn giáo, ý thức này còn sâu sắc hơn, mãnh liệt hơn và bền vững hơn nữa
Ở Việt Nam từ xa xưa, không có tôn giáo nào thờ trời mà chỉ có ở khắp nơi những
ngôi đền thờ những người anh hùng trong chiến đấu và sản xuất, thờ những người có
công với Tổ quốc và nhân dân:
Toàn quốc thờ vua Hùng, vị tổ đầu tiên của cả dân tộc
Mỗi làng thờ những người có đóng góp lớn đối với quê hương
Mỗi nhà thờ tổ tiên của mình
Việc thờ cúng nói trên không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đứcmà thực sự là tôn
giáo của Việt Nam Tôn giáo này là một bộ phận bền vững trong truyền thống văn
hóa của dân tộc, nền văn hóa thống nhất cả triết học, đạo đức và tôn giáotrên cùng
một cơ sở Đó là phương châm của dân tộc trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc
Trang 26
của văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
Nếu như Việt Nam chỉ đóng cửa để bảo vệ bản sắc dân tộc và không tiếp thu những thành tựu của thế giới thì không những không tiến bộ mà thậm chí không tồn tại nữa Mặt khác, không thể tiếp thu có hiệu quả những tinh hoa văn hóa từ nước ngoài nếu như Việt Nam không có tinh thần độc lập và tự chủ Mọi nhân tố từ bên ngoài vào đều phải được chắt lọc và cải biến cho phù hợp với tình hình và nhu cầu của dân tộc Qua hàng ngàn năm lịch sử, sống giữa hai nền vãn minh lớn của châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ, nhân dân Việt Nam đã tiếp thu nhiều giá trị của hai nền văn minh
ấy Có điều cần phải nói là, những giá trị ấy phải được sàng lọc cho thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam để trở thành những giá trị của bản thân văn hóa Việt Nam
Chúng tôi biết rằng, từ khi những người Ấn Độ đầu tiên đến Việt Nam để truyền bá Phật giáo và văn minh Ấn Độ, họ đã sống gần gụi nhân dân và giảng giải cho nhân
dân nghe những tư tưởng từ bi, bác ái và khuyên răn người dân làm điều thiện, tránh
điều ác Tuy nhiên, không thể nói rằng, tình yêu thương gắn bó giữa người và người trên đất nước Việt Nam là do Phật giáo đưa từ ngoài vào
Tình yêu thương ấy trước hết là những phẩm chất vốn nảy sinh từ hoàn cảnh xã hội Việt Nam, từ một triết lý về cuộc sống trước những thử thách ghê gớm trải dài qua lịch sử Không thể nghĩ một cách đơn giản rằng, Phật giáo đã đem lại cho nhân dân
Việt Nam lòng từ bi, bác ái mà chỉ có thể nói rằng, lòng từ bi, bác ái của nhân dân Việt Nam được nâng cao thêm từ giáo lý của nhà Phật và nhờ đó, đã tạo nên một chủ
nghĩa nhân đạo tích cực mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong văn
hóa Việt Nam
Đối với Nho giáo cũng như thế Nho giáo được du nhập vào Việt Nam không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa Nó đã được Việt Nam hóa như nó được Nhật Bản hóa ở Nhật Bản, Triều Tiên hóa ở Triều Tiên Nho sĩ Việt Nam vì lợi ích bảo vệ và xây dựng Tổ quốc đã khai thác những nhân tố tích cực của Nho giáo để khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc mình
Nho giáo được Việt Nam hóa đã đóng góp đáng kể vào việc củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc được nâng lên thành hệ tư tưởng ổn định, thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc lập và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược
Trang 27
Đó là mặt tích cực của Nho giáo, nhưng mặt tiêu cực của nó cũng rất trầm trọng và ngày càng tỏ rõ sự bất lực trước những thách thức mới của thời đại
Hồ Chí Minh hiểu rất rõ Nho giáo là một sức mạnh to lớn trong đời sống văn hóa của
một số nước châu Á, nhưng Người cũng nói rằng: Khổng giáo chỉ thích hợp với một
xã hội bình yên không thay đổi
Xã hội bình yên không thay đổi ấy, xã hội của phương thức sản xuất châu Á của nền văn hóa phương Đông đã đứng trước những thử thách lớn chưa từng có trong lịch sử
Đó là sự đương đầu với cuộc xâm lược của văn minh phương Tây
Nhật Bản đã sớm thức tỉnh trước nguy cơ của thời đại Với Minh Trị Thiên Hoàng,
họ đã nhanh chóng tiếp nhận nềnvăn hóa phương Tây với tính ưu việt của nó trên các
lĩnh vực công nghiệp, khoa học - kỹ thuật họ đã từ đó tạo nên sự hùng cường của Nhật Bản về cả kinh tế và quân sự
Trong khi đó thì Việt Nam cũng như một số nước ở Đông Á đã trở thành cực kỳ bảo thủ và lần lượt sa vào số phận nô lệ của những nước thuộc địa và nửa thuộc địa
Nhân dân Việt Nam sau thất bại đau xót của mình đã rút được bài học quý báu Từ
đó, họ đã có cách xử lý đúng đắn trong giao lưu văn hóa về sau với các nước tư bản phương Tây, rồi với các nước xã hội chủ nghĩa và gần đây, với tất cả các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa
Hồ Chí Minh qua thái độ và hành động của mình đã nêu lên một mẫu mực trong mối quan hệ giữa truyền thống văn hóa của dân tộc với các trào lưu văn minh trên thế giới
Từ mảnh đất của Việt Nam, từ những giá trị tinh thần của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã
tiếp thu ưu điểm của học thuyết Khổng Tử là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Nhưng sự tu
dưỡng này không còn đủ để chống lại sự thống trị của chủ nghĩa thực dân
Hồ Chí Minh đã rời bỏ phương Đông để đi tìm hiểu những giá trị phương Tây Vượt qua một số thành kiến phương Đông đối với đạo Thiên Chúa, Người đã nêu cao ưu
điểm của tôn giáo Giêsu là lòng nhân ái cao cả Nhưng lòngnhân ái này cũng không
đủ sức để giúp nhân loại thoát khỏi những đau khổ của áp bức bóc lột
Người gặp gỡ chủ nghĩa Mác và khẳng định ưu điểm của nó là phép biện chứng
Nhưng Người đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác không phải với thái độ giáo điều mà với tinh thần sáng tạo Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác là học
Trang 28
thuyết được hình thành trên cơ sở của xã hội truyền thống phương Tây nên đòi hỏi phải bổ sung cho chủ nghĩa Mác bằng những kiến thức của phương Đông nữa
Trở về Trung Quốc, Hồ Chí Minh thấy chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính
sách của nó thích hợp với điều kiện của châu Á, nhưng Người không sao chép những
chính sách và kinh nghiệm của Tôn Dật Tiên vì hoàn cảnh của Trung Quốc và Việt Nam có những điểm khác nhau
Thành công của Hồ Chí Minh là biết kết hợp giá trị dân tộc với giá trị nhân loại để xây dựng một bảng giá trị mới phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong thời đại ngày nay
Trước những vấn đề đang được đặt ra và đối với giá trị phương Đông và giá trị
phương Tây, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh:
Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam
Những quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh được trình bày cách đây hơn nửa thế kỷ đang tiếp tục là thái độ ứng xử của Việt Nam trong cuộc đối thoại rộng lớn giữa các nền văn minh và trào lưu triết học trên toàn thế giới
Thế giới đang có những đổi thay với một tốc độ chưa từng có Cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin và truyền thông đang nhanh chóng mở rộng và nâng cao sự hiểu biết của con người, ngày càng đòi hỏi sự đổi mới của tư duy triết học trước những vấn đề phức tạp đang được đặt ra trên mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại Toàn cầu hóa đang diễn ra với sự chênh lệch ngày càng tăng giữa giàu và nghèo, mạnh và yếu, giữa các xã hội khác nhau và trong nội bộ của mỗi xã hội Suy thoái về đạo đức và tệ nạn xã hội đang gây nhiều lo ngại cho những người thiện ý Thêm vào đó là những thiên tai liên tiếp phá hoại sinh mạng và tài sản Những bệnh tật mới nảy sinh luôn luôn đe dọa cuộc sống của con người Bệnh dịch ở động vật đang hủy hoại hàng tỉ
gà, lợn, trâu, bò…
Nhân loại trong khối cộng đồng của mình vẫn chưa hành động có hiệu quả để giải quyết những vấn đề nói trên và ngăn chặn được sự xung đột gay gắt giữa nhiều quốc gia dưới hình thức sắc tộc và tôn giáo
Trong tình hình nói trên, nhân dân Việt Nam đang tích cực phát triển đất nước của
Trang 29
mình theo tinh thần đổi mới, vừa đem lại phồn vinh cho Tổ quốc, vừa góp phần củng
cố hòa bình và hữu nghị trên toàn thế giới
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam là kết quả của sự đổi mới về tư duy Việc phát huy mọi tiềm năng của dân tộc gắn liền với tinh thần làm bạn với tất cả các nước
Với tinh thần trên, giới triết học Việt Nam cùng nhau nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề đang được đặt ra cho dân tộc và nhân loại Phát huy truyền thống của dân tộc, giới triết học Việt Nam sẽ làm hết mình để có những sự suy nghĩ mới về dân tộc và
thời đại và để cho sự thống nhất từ lâu đời giữa triết học, đạo đức và tôn giáo lại
phát huy mạnh mẽ tác dụng của nó trong xã hội ngày nay Theo đó, việc phấn đấu cho thế giới được sống trong hòa bình, hữu nghị, cho các dân tộc được phồn vinh và hạnh phúc đang là mục tiêu cao nhất của triết học và mang một ý nghĩa sâu sắc.r
(*) Giáo sư triết học
Trang 30Chủ đề Hội thảo của chúng ta là Nhận thức lại vai trò của triết học trong kỷ
nguyên toàn cầu Nói “nhận thức lại”, trong trường hợp này, có nghĩa là nhận thức
trước đây là phù hợp với thời kỳ trước đây, nhưng ngày nay, trong kỷ nguyên toàn cầu, nhận thức đó cần được bổ sung, hoàn thiện thêm cho phù hợp với bối cảnh mới
Muốn vậy, có lẽ cần xem lại xem vai trò của triết học đã được đánh giá như thế nào?
Triết học, như chúng ta biết, đã có lịch sử tồn tại suốt mấy ngàn năm với rất nhiều
hệ thống, trào lưu, trường phái khác nhau Mặc dầu vậy, theo nhận xét của Viện sĩ T.I.Ôiderman - nhà nghiên cứu lịch sử triết học nổi tiếng của Liên Xô trước đây và Cộng hoà Liên bang Nga ngày nay - thì cho đến nay, hầu như không có một định nghĩa nào về triết học được mọi người thừa nhận Sự thống nhất ý kiến giữa các nhà triết học vĩ đại về một định nghĩa triết học nào đó là hết sức hiếm hoi, gần như
là một ngoại lệ(1) Song, cũng giống như trong lĩnh vực văn hoá, với trên 300 định nghĩa khác nhau, nhưng không vì vậy mà văn hoá không phát triển Triết học cũng thế Tuy hiện chưa có định nghĩa nào được mọi người thừa nhận, nhưng triết học cũng không vì vậy mà không tiếp tục tồn tại và phát triển, không tiếp tục xuất hiện thêm các hệ thống, trào lưu, trường phái mới
Triết học, ngay từ khi mới nảy sinh và cho đến mãi tận nay, dù tồn tại ở phương Đông hay phương Tây, dù dưới dạng các hệ thống, trào lưu, trường phái rất khác
nhau, nhưng nội dung cốt lõi của triết học bao giờ cũng bao gồm những quan điểm
lý luận chung nhất, những lời giải đáp có luận chứng (dù được tán thành hay
không được tán thành) cho những câu hỏi của con người về thế giới xung quanh mình, về vị trí của con người trong thế giới đó, về quan hệ giữa con người với thiên nhiên và với bản thân con người Trong triết học, người ta luôn tìm thấy những biện luận, phán xét, suy tư, những băn khoăn, trăn trở cùng những lời giải đáp cho các câu hỏi về số phận của cá nhân con người trước thiên nhiên bao la, về nguồn gốc cùng những bí ẩn của thiên nhiên bao la ấy, những sức mạnh, những
Trang 31
lực lượng chi phối nó và chi phối cuộc sống của chính bản thân con người, về cuộc sống và cái chết của họ Những lời giải đáp ấy, dù là khác nhau trong các hệ
thống, trào lưu, trường phái triết học khác nhau nhưng đều là những cách lý giải
nhất định về thế giới mà trong đó, con người đang sống theo quan điểm của các hệ
thống, trào lưu, trường phái triết học đó
Song, bất cứ hệ thống lý luận nào cũng không bao giờ chỉ làm một nhiệm vụ là lý giải
về thế giới Triết học cũng vậy Trên cơ sở của sự lý giải ấy, triết học trở thành cái định hướng cho con người trong hành động Khi trở thành cái định hướng cho con người
trong hành động, triết học thực hiện một chức năng khác -chức năng phương pháp
luận
Về nguyên tắc, giá trị định hướng này của triết học không khác với giá trị định hướng của các nguyên lý, quy luật, hệ thống lý luận của các bộ môn khoa học chuyên ngành nào đấy về một lĩnh vực nhất định nào đó của hiện thực, chẳng hạn, không khác với giá trị định hướng của định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, của quy luật giá trị, v.v Cái khác chỉ là ở chỗ, vì các nguyên lý, các khẳng định của triết học là kết quả nhận thức những mặt, những thuộc tính, những mối
liên hệ chung nhất của cả tự nhiên, xã hội lẫn tư duy(2), cho nên chúng có tác
dụng định hướng không phải chỉ trong một phạm vi nhất định nào đấy như trong trường hợp các nguyên lý, quy luật do các khoa học chuyên ngành nêu lên, mà ở tất cả mọi lĩnh vực Các nguyên lý, các khẳng định triết học ấy giúp cho con người khi bắt tay vào nghiên cứu và hoạt động cải biến sự vật bao giờ cũng có được một lập trường xuất phát nhất định Lập trường xuất phát ấy giúp cho chủ thể hành động thấy trước được phương hướng vận động chung của đối tượng, xác định được sơ bộ các mốc cơ bản mà việc nghiên cứu hay hoạt động cải biến sự vật phải
trải qua, nghĩa là nó giúp cho con người xác định được về đại thể con đường cần
đi, có được phương hướng đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề, tránh được những mò mẫm giữa một khối những mối liên hệ chằng chịt hết sức phức tạp mà
không có tư tưởng dẫn đường Xuất phát từ một lập trường triết học nhất định, con người sẽ đi đến chỗ lựa chọn một phương hướng giải quyết vấn đề theo một cách thức nhất định; và xuất phát từ những lập trường triết học khác nhau, con người sẽ
đi đến chỗ lựa chọn những phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề một cách
Trang 32
khác nhau Điều đó có nghĩa là, việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập
trường triết học nào đấy sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận hay không chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn
là sự chấp nhận hay không chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định
chỉ đạo cho hành động
Khẳng định trên đây cho thấy triết học không phải là một cái gì quá xa xôi, viển vông; ngược lại, nó gắn bó hết sức mật thiết với cuộc sống, với thực tiễn Xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết đúng đắn các vấn đề do cuộc sống đặt ra Còn ngược lại, xuất phát từ một lập trường triết học sai lầm, con người khó có thể tránh khỏi hành động sai
lầm Chính ở đây thể hiện giá trị định hướng – một trong những biểu hiện cụ thể
chức năng phương pháp luận của triết học Tiếc rằng, giá trị định hướng này hiện nay chưa được khai thác triệt để Có lẽ chính vì vậy mà còn có những sự đánh giá chưa thoả đáng về vai trò của triết học trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống
Sự đánh giá chưa thoả đáng đó thể hiện trước hết ở thái độ coi thường vai trò của
triết học Những người giữ thái độ này cho rằng, vì triết học nghiên cứu và giải
quyết những vấn đề quá chung, nên những kết quả nghiên cứu của nó chẳng có tác dụng thiết thực gì hết!
Ý kiến trên đây, trong chừng mực nhất định, có căn cứ của nó, vì trong nhiều trường hợp, khi giải quyết những vấn đề cụ thể, những người làm công tác thực tiễn không thể tìm thấy ở những người làm công tác triết học một câu trả lời cụ thể Trong khi đó, trong hoạt động thực tiễn, con người lại bắt gặp và buộc phải giải quyết trước hết chính những vấn đề hết sức cụ thể này Vậy, phải chăng ở đây, tri thức triết học là vô ích?
Không! Mặc dầu những vấn đề bức bách do cuộc sống, do hoạt động thực tiễn đặt
ra bao giờ cũng là những vấn đề hết sức cụ thể, nhưng để giải quyết những vấn đề
cụ thể ấy một cách có hiệu quả, không một ai có thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung hay xuất phát từ lời giải đáp đã có về những vấn đề chung liên quan với các vấn đề cụ thể đó A.Anhxtanh đã từng nhận xét vào năm 1954:
“Những khó khăn mà nhà vật lý hiện nay đang vấp phải trong lĩnh vực của mình
Trang 33
đã buộc ông ta phải đề cập đến những vấn đề triết học nhiều hơn nhiều so với nhà vật lý của các thế hệ trước”(3) M.Plank cũng có nhận xét tương tự: “Một tập hợp những sự kiện mới càng rối rắm bao nhiêu, các tư tưởng mới càng nhiều hình nhiều vẻ bao nhiêu thì nhu cầu phải có một thế giới quan liên kết lại càng cảm thấy trở nên bức thiết bấy nhiêu Xu hướng tìm đến thế giới quan liên kết này có ý nghĩa lớn lao không chỉ đối với vật lý học, mà còn đối với toàn bộ khoa học tự nhiên”(4) Như vậy, khi đi vào giải quyết những vấn đề cụ thể của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, người nghiên cứu sớm muộn sẽ vấp phải những vấn đề chung, trong đó có những vấn đề triết học mà việc giải quyết chúng,
là cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề cụ thể Những lời giải đáp tìm được ở đây, trong lĩnh vực triết học, là sự đóng góp rất thiết thực vào việc giải quyết những vấn
đề hết sức cụ thể ấy chứ không phải nằm bên lề của việc giải quyết những vấn đề
đó
Tuy nhiên, không nên hiểu sự đóng góp này một cách giản đơn Không nên hiểu hiệu quả của nghiên cứu triết học như hiệu quả nghiên cứu của các bộ môn khoa học kỹ thuật, càng không nên hiểu nó như hiệu quả của hoạt động sản xuất trực tiếp Các kết luận mà nghiên cứu triết học đạt tới không phải là lời giải đáp trực tiếp, cụ thể cho từng vấn đề cụ thể vô cùng đa dạng của cuộc sống, mà, như đã nói trên, nó là cơ sở cho việc tìm kiếm những lời giải đáp trực tiếp, cụ thể ấy Chẳng hạn, kết luận mới của Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam: “Lực lượng sản xuất
bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan
hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” chính là cơ sở cho việc xác định hàngloạt chính sách mới, đúng đắn hơn trong nhiệm vụ cải tạo xã hội và phát triển kinh tế trong suốt quá trình đổi mới Trên đây chỉ là một trong rất nhiều thí dụ cho thấy hiệu quả
của nghiên cứu triết học chính là ở giá trị định hướng cho hoạt động thực tiễn vô
cùng phong phú và đa dạng của những kết luận chung, có tính khái quát cao mà nó đạt tới chứ không phải là những lời giải đáp cụ thể cho từng trường hợp cụ thể
Một lý do nữa đã góp phần làm xuất hiện thái độ coi thường vai trò của triết học -
đó là sự nghi ngờ về tính chân lý của các khẳng định triết học Người ta đặt câu hỏi: tri thức triết học có đáng tin cậy không khi nó đóng vai trò là cái định hướng
Trang 34
cho con người trong hoạt động thực tiễn? Vấn đề là ở chỗ, trong thời kỳ cổ đại, khi các khoa học chuyên ngành chưa phát triển, thậm chí chưa xuất hiện, con người có thể bằng lòng với lời giải đáp của triết học đối với các vấn đề mà con người quan tâm về thế giới xung quanh mình Nhưng, với sự xuất hiện và phát triển, thậm chí phát triển mạnh mẽ của các khoa học chuyên ngành, thì con người không còn thoả mãn với những câu trả lời của triết học được nữa Tại sao vậy?
Trước hết, vì các khẳng định của khoa học phải được kiểm tra bằng các tài liệu
thực nghiệm và về nguyên tắc, có thể bị thực nghiệm bác bỏ Trong khi đó, các khẳng định của triết học không thể kiểm tra được bằng thực nghiệm và cũng không bác bỏ được bằng thực nghiệm (chẳng hạn, không thể làm được như thế với các luận điểm như vật chất có trước, ý thức có sau, với quan điểm của Hêghen nói rằng cơ sở phát triển của giới tự nhiên là sự phát triển của ý niệm tuyệt đối, v.v.)
Thứ hai, triết học không có phương pháp nghiên cứu riêng của mình, trong khi đó
các khoa học tự nhiên dùng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại với sự trợ giúp của các phương tiện hiện đại nên tính chân lý của các kết quả nghiên cứu đạt được được bảo đảm
Những ý kiến nhận xét trên đây, trong chừng mực nhất định, cũng có căn cứ của
nó, vì đúng là triết học không có trong tay mình một phương tiện kỹ thuật nào, một thiết bị quan sát, thí nghiệm nào để tiến hành thu thập tài liệu, nghiên cứu và trên
cơ sở đó, tiến tới khám phá những bí ẩn của sự vật, hiện tượng mà mình nghiên cứu Vậy, triết học dựa vào đâu và làm cách nào để đi tới chân lý?
Trên cơ sở phân tích và khái quát hoá đặc điểm nhận thức của triết học trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nó, nhiều tác giả rút ra kết luận rằng, triết học tự bản thân nó không trực tiếp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, nhưng nó sử dụng các kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn đã được ghi lại trong các khái niệm, lý thuyết của các bộ môn khoa học chuyên ngành khác, được thể hiện trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, v.v Tất cả những cái đó tạo nên “nền tài liệu thực nghiệm” mà xuất phát từ đấy, triết học đi tới các phát hiện của mình
Triết học đi tới các phát hiện đó bằng cách nào? Có tác giả cho rằng bằng tư duy lý
luận, tác giả khác lại cho rằng bằng khái quát hoá lý luận, số thứ ba cho rằng
Trang 35
bằng luận giải (interprêtaxia), v.v Chính bằng cách đó, các kết luận triết học
được rút ra và lại quay trở lại phục vụ cho hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn
Từ kinh nghiệm nghiên cứu vật lý học của mình, M.Born cho rằng, “Vật lý học cần có triết học khái quát”(5), còn A.Anhxtanh và L.Inphenđơ thì khẳng định:
“Các khái quát hoá triết học cần phải dựa trên các kết quả khoa học Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện và được truyền bá rộng rãi, chúng thường rất ảnh hưởng đến
sự phát triển tiếp tục của tư tưởng khoa học khi chúng chỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triển có thể có”(6) Cùng một sự đánh giá như A.Anhxtanh và L.Inphenđơ về vai trò của triết học, Lui đơ Brơi đã nói về sai lầm triết học của H.Poanhcarê khiến ông bỏ lỡ mất cơ hội đi đến phát minh ra thuyết tương đối Lui
đơ Brơi viết: “Mấy năm trước đây, nhân nghiên cứu những công trình của H.Poanhcarê về toán lý, tôi còn đặc biệt chú ý đến trường hợp của một phát minh
đã không xảy ra Vì sao H.Poanhcarê, con người đã từng suy nghĩ rất nhiều về tính tương đối của các hiện tượng vật lý, con người đã từng nắm được một cách tuyệt diệu các biến đổi Lorenx và đã từng sử dụng những kết quả chủ yếu của tĩnh học
và động học tương đối vào năm 1905 mà lại bỏ qua mất khả năng thực hiện sự tổng hợp vĩ đại chúng lại, sự tổng hợp đã làm cho tên tuổi của A.Anhxtanh trở nên
bất tử? Tôi nghĩ rằng tôi đã trả lời câu hỏi này khi viết: “H.Poanhcarê đã giữ một
lập trường khá hoài nghi đối với các lý thuyết vật lý khi cho rằng nói chung có vô
số quan điểm và hình ảnh khác nhau nhưng tương đương nhau về phương diện lôgíc; nhà khoa học chỉ căn cứ vào sự thuận tiện để lựa chọn các quan điểm và hình ảnh đó Có lẽ chủ nghĩa duy danh này đôi khi đã cản trở H.Poanhcarê hiểu đúng được một sự thật là trong số các lý thuyết có thể có về mặt lôgíc, tuy vậy, vẫn
có những lý thuyết gần gũi với thực tại vật lý hơn cả; trong mọi trường hợp, những
lý thuyết ấy thích ứng tốt hơn với trực giác của nhà vật lý và tác động thích hợp
hơn tới những cố gắng của ông ta” Nếu như quan điểm này là đúng thì chính
khuynh hướng triết học thiên về phía “thuận tiện duy danh” này trong trí tuệ của H.Poanhcarê đã cản trở ông hiểu được ý nghĩa của tư tưởng tương đối với tất cả tầm vĩ đại của ông (chúng tôi nhấn mạnh – L.H.T.)”(7)
Những nhận xét trên đây của các nhà vật lý học lỗi lạc của thế kỷ XX cho thấy,
Trang 36đã và đang đi, phương thức chúng ta đã và đang dùng để tiến hành nghiên cứu triết học là đúng? Trong trường hợp đó, làm thế nào tránh khỏi sự suy diễn chủ quan, tư biện và lấy cái gì đảm bảo độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu ấy khi nó chưa hoàn toàn được thực tiễn xác nhận hay bác bỏ? Có cách nào nâng cao độ tin cậy, thuyết phục của các kết quả nghiên cứu triết học không? Liệu có thể tiến hành nghiên cứu triết học bằng một phương pháp nào khác – một phương pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu của nó thực sự là sự khái quát những tài liệu mới nhất của khoa học và của thực tiễn không? Đó là những vấn đề đặt ra rất cần được nghiên cứu, giải quyết
Song, dù thế nào chăng nữa, chúng tôi vẫn nghĩ rằng, có lẽ cùng với việc sử dụng các phương pháp tư duy lý luận hay khái quát hoá lý luận, v.v như đã kể trên, nên chăng, việc nghiên cứu triết học cần được kết hợp với các nghiên cứu khoa học chuyên ngành, sử dụng phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành ấy để đưa khách thể nghiên cứu vào tình huống nghiên cứu đã được lựa chọn một cách có chủ đích, để buộc khách thể phải trả lời câu hỏi của người nghiên cứu Hy vọng rằng bằng cách làm ấy, chúng ta có thể làm cho các kết quả nghiên cứu của chúng
ta có cơ sở hơn, đáng tin cậy hơn, thuyết phục hơn chăng! Điều này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên toàn cầu, kỷ nguyên của những vấn đề liên quan đến toàn cầu mà việc giải quyết chúng đòi hỏi con người phải vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp, cục bộ, địa phương, quốc gia để tiến tới tầm nhìn toàn cầu, một tầm nhìn không thể không đòi hỏi phải có sự tham gia của triết học
Bên cạnh thái độ coi thường vai trò của triết học - một thái độ rất tiếc rằng, hiện nay vẫn hiện diện ở nơi này, nơi kia, trong lĩnh vực hoạt động này hay khác - lại
có một thái độ khác: thái độ tuyệt đối hoá vai trò của triết học, nghĩ rằng chỉ cần
Trang 37sự nhạy cảm thực tiễn, một sự nhạy cảm chỉ có được qua quá trình đào luyện, lăn
lộn lâu năm trong nghề Thiếu những cái vừa nói, không một nhà triết học uyên
bác nào có thể tìm ra được một lời giải đáp đúng đắn nào cho bất cứ một vấn đề cụ
thể nào của cuộc sống, cho dù đó là một vấn đề đơn giản nhất đi nữa
Như vậy, để có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể hết sức
phức tạp và vô cùng đa dạng của cuộc sống, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm: hoặc là xem thường triết học và do đó sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tuỳ
tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể, nhất thời, đi đến chỗ mất phương
hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công việc; hoặc
là tuyệt đối hoá vai trò của triết học và do đó sẽ sa vào tình trạng áp dụng một
cách máy móc những nguyên lý, những quy luật, những tri thức triết học chung mà không tính đến tình hình cụ thể do không nắm được tình hình cụ thể đó trong từng trường hợp cụ thể, hậu quả là sẽ khó tránh khỏi bị thất bại
Kết hợp chặt chẽ cả hai loại tri thức trên đây – tri thức chung (trong đó có tri thức
triết học và tri thức khoa học chuyên ngành) và tri thức thực tiễn (trong đó có
sự hiểu biết tình hình thực tiễn và trình độ tay nghề được biểu hiện quasự nhạy
cảm thực tiễn) - đó là tiền đề cần thiết đảm bảo thành công của chúng ta trong
hoạt động cụ thể của mình./
(*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 38chúng lại trong tư tưởng về cái chỉnh thể C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin thì
cho rằng, phép biện chứng của Hêghen là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và
về sự phát triển dưới hình thức toàn diện nhất, phong phú nhất, sâu sắc nhất, là khoa học về các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
(3) A.Anhstanh Ideas and Opinions, N.Y, 1954, p.19 (trích theo cuốn Những nét
phác hoạ về Anhxtanh của B.G.Cuznhexôp Mátxcơva, 1965, tr.9)
(4) M.Plank Lược khảo vật lý học Mátxcơva, 1925, tr.35 (trích theo tuyển tậpNhững vấn đề triết học của vật lý học hiện đại Mátxcơva, 1959, tr 97)
(5) M.Born Philosophical Quarterly.1953 (trích theo cuốn Lênin và khoa học hiện
Trang 39
còn là một tư tưởng yếu đuối về quyền thăm thú như Cantơ đã quan niệm, mà là quyền và ý chí đoạt lấy sự sở hữu đối với tư liệu sản xuất, là sự xoá bỏ sở hữu tư bản chủ nghĩa Từ đó, tác giả bài viết cho rằng, nhiệm vụ của triết học hiện nay là giải thích việc chúng ta có thể phát triển và hiện thực hoá chủ nghĩa toàn thế giới như thế nào để giải quyết được những vấn đề lớn của toàn cầu
Với chủ đề chủ nghĩa toàn thế giới và chủ nghĩa Mác, bài viết này muốn chỉ ra một
tư tưởng vĩ đại - tư tưởng về tư cách công dân thế giới trong triết học khắc kỷ cổ đại
- đã được bảo tồn và cụ thể hoá nhờ trào lưu triết học mácxít trong suốt thế kỷ XIX
và thế kỷ XX như thế nào, qua đó mà ngày nay công dân thế giới – người theo chủ nghĩa toàn thế giới – đã trở thành hình mẫu chủ yếu trong việc nhận thức thế giới và những nhiệm vụ trong một kỷ nguyên toàn cầu ra sao
1 Khái niệm cổ xưa
Khái niệm về một người theo chủ nghĩa thế giới hay công dân của thế giới là một khái niệm rất cổ xưa trong lịch sử châu Âu, bắt nguồn từ triết học khắc kỷ và triết học hoài nghi của Hy Lạp cổ đại Triết gia đầu tiên tự gọi mình là “cosmopolitès” hay “công dân của thế giới” là Điơgien, nhà triết học hoài nghi vùng Xinôpơ, sống vào khoảng năm 412 – 323 TCN., tức là thời đại của Platôn và Arixtốt Nếu ai đó hỏi ông ta đến từ đâu, câu trả lời duy nhất của ông ta là: “Tôi là một công dân của thế giới”
Ba thế kỷ sau, Xixêrô (106 – 43 TCN.), triết gia La Mã, và muộn hơn một chút là
Xênêca (4 – 65), đã phát triển tư tưởng về một xã hội người phổ quát (societas
generis humani), tức là một xã hội của nhân loại với tính cách một cộng đồng rộng
lớn nhất mà con người thuộc về đó Vì vậy, mỗi người đều thuộc về hai xã hội: xã hội mà anh ta, cô ta sinh ra và xã hội thế giới Ngay cả người đứng đầu một nhà nước lớn cũng có thể tự coi mình là thành viên của một thực tại toàn diện hơn về mặt xã hội so với nhà nước của chính mình
Đây chính là trường hợp của Mácquyxơ Aurơliuyx (121-180), hoàng đế La Mã,
người đã viết trong Mặc tưởng như sau: “Tôi là một thành viên của một tổ chức
người to lớn” (VII) Tuy nhiên, tư cách thành viên này có một đặc điểm mang tính cá