1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vấn đề chuyển quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003" pdf

7 540 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 135,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta đều biết, ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân, các tổ chức, cá nhân trong xã hội chỉ có quyền sử dụng, vì vậy để sử dụng đất đạt hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu của

Trang 1

NguyÔn ThÞ Hång Nhung * huyển quyền sử dụng đất là nhu cầu tất

yếu của nền kinh tế thị trường, là hiện

tượng mang tính quy luật Sự vận động, phát

triển của chuyển quyền sử dụng đất phụ thuộc

vào sự hình thành, vận động và phát triển của

nền kinh tế thị trường Chúng ta đều biết, ở

Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân, các tổ

chức, cá nhân trong xã hội chỉ có quyền sử

dụng, vì vậy để sử dụng đất đạt hiệu quả kinh

tế cao, đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường

thì Nhà nước phải mở rộng quyền cho người

sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng

Quyền sử dụng đất phải trở thành loại hàng

hoá đặc biệt

1 Thực tế và yêu cầu khách quan phải

hoàn thiện pháp luật về chuyển quyền sử

dụng đất

Luật đất đai năm 1993 cho phép chuyển

quyền sử dụng đất là bước đột phá quan trọng

trong việc quy định về quyền của người sử

dụng đất, thoả mãn nhu cầu có tính quy luật là

phải kết hợp hài hoà giữa quản lí tập trung

thống nhất của Nhà nước về đất đai với việc

mở rộng quyền hạn cho người sử dụng đất

trong cơ chế thị trường Đất đai trước hết để

đáp ứng nhu cầu cho đời sống, sinh hoạt của

người dân, hơn nữa nó là tư liệu sản xuất quan

trọng không thể thiếu trong bất kì hoạt động

sản xuất kinh doanh nào Việc pháp luật cho

phép chuyển quyền sử dụng đất đã tạo điều

kiện cho những người có vốn, có kinh nghiệm,

có năng lực mở rộng sản xuất kinh doanh có

hiệu quả, phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hoá và kích thích tính năng động, sáng tạo trong việc sử dụng đất, góp phần phân công lại lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Người sử dụng đất có thể yên tâm đầu tư vốn, sức lao động sử dụng đất có hiệu quả, tránh tình trạng sử dụng đất theo kiểu

“tàn phá, bóc lột” hoặc “vô chủ” đối với đất Cũng chính việc quy định quyền chuyển quyền sử dụng đất đã góp phần cải cách thủ tục hành chính mà trong cơ chế thị trường Nhà nước sẽ không thể thực hiện nổi nếu chủ yếu dùng phương pháp quản lí hành chính để phân chia, điều chỉnh đất đai (giao đất, thu hồi đất) Trong khi các quan hệ đất đai vận động không ngừng Các giao dịch về đất đai diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở khắp mọi nơi, với mọi đối tượng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu sản xuất kinh doanh Để đáp ứng những hiện tượng có tính quy luật đó là các chức năng sử dụng đất mang lại giá trị kinh tế cao hơn sẽ

“đẩy” các chức năng sử dụng đất mang lại giá trị kinh tế thấp hơn ra khỏi miếng đất tại các vị

trí thuận lợi ở các đô thị, (ví dụ, sử dụng đất

cho mục đích thương mại, văn phòng sẽ đẩy việc sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp ra nơi khác) Việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất cũng tạo sự thống nhất trong các quy định pháp luật đất đai như quy định giá đất,

C

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa người sở

hữu với người sử dụng đất, quy định các

nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hạn chế

các vi phạm pháp luật đất đai do nhu cầu thực

tiễn bức xúc về chuyển quyền sử dụng đất

Nhưng bên cạnh những ý nghĩa tích cực

trên thì chuyển quyền sử dụng đất cũng có

những mặt trái nhất định Nếu không có biện

pháp quản lí hiệu quả, pháp luật đất đai không

đồng bộ thì dễ dẫn đến việc chuyển sử dụng

trái pháp luật, tạo nên thị trường “ngầm” ngoài

vòng kiểm soát của Nhà nước Một minh

chứng cho điều này là trong thời gian qua việc

chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật chiếm

80%: Tình trạng mua bán đất trao tay, không

làm thủ tục, trốn thuế, nhiều đối tượng lợi

dụng đầu cơ trục lợi, kiếm những khoản tiền

kếch xù nhanh chóng, gây rối loạn thị trường

làm mất cân bằng về cung cầu, thất thu cho

ngân sách nhà nước, tạo nên những cơn “sốt”

đất giả tạo; rồi nạn tham nhũng và hối lộ là

một trong những nguyên nhân gây bất công và

bất bình trong xã hội

Những vi phạm trên do nhiều nguyên nhân

như quản lí nhà nước về đất đai còn kém hiệu

quả, người dân không chấp hành pháp luật

nhưng một trong những nguyên nhân quan

trọng là pháp luật về chuyển quyền sử dụng

đất còn hạn chế, bất cập, cụ thể:

Pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất

thiếu tính đồng bộ: Các quy định về chuyển

quyền nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật

khác nhau như Luật đất đai năm 1993, Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai

năm 1998 và năm 2001, Bộ luật dân sự, Luật

thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của luật thuế chuyển

quyền sử dụng đất; Nghị định số

17/1999/NĐ-CP về thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; Nghị định số 79/2001/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 17; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai… Một số quy định trong các văn bản trên còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau (ví dụ như quy định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng trong các điều: Điều 31 Luật đất đai năm 1993; Điều 7, 11, 14 Nghị định số 17/1999; Điều 31 Luật đất đai năm 2001; Điều 14 Nghị định số 79/2001) Nhiều quy định trong Luật đất đai năm 1993 không cụ thể, không thể áp dụng ngay vào thực tiễn mà còn phải lệ thuộc vào quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành nhưng văn bản thi hành luật lại quá chậm như việc ban hành Nghị định số 17/1999/NĐ-CP

về thủ tục chuyển quyền sử dụng đất Vì vậy, trong khoảng thời gian dài thiếu luật, mỗi địa phương lại tự “đề ra ” các thủ tục khác nhau khi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

Có những quy định không phù hợp thực

tế như quy định người sử dụng khi thực hiện quyền chuyển quyền phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong khi phần lớn người

sử dụng đất không có giấy chứng nhận và tiến

độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất chậm Vì vậy, trong thực tế hầu hết các hình thức chuyển quyền sử dụng đất vẫn được thực hiện khi không có có giấy chứng nhận quyền

sử dụng Tuy nhiên, cũng có những quyền bị hạn chế như quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Nhiều quy định chưa phù hợp gây thất thu cho ngân sách nhà nước như vấn đề giá đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất và các khoản lệ phí

Trang 3

Quyền của các tổ chức, cá nhân nước

ngoài thuê đất tại Việt Nam bị hạn chế, có sự

phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước

với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

làm giảm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

nước ngoài (người nước ngoài không được

chuyển quyền sử dụng đất)

Ngoài ra việc không quy định cụ thể

quyền và nghĩa vụ của các bên khi chuyển

quyền, các hành vi chuyển quyền trái phép và

biện pháp chế tài tương ứng cũng là những

nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp

luật nghiêm trọng về chuyển quyền sử dụng

đất trong thời gian qua

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung

ương khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sánh

pháp luật đất đai trong thời kì đẩy mạnh công

ngiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định

rõ “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng

quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt là nguồn

nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước;

quyền sử dụng đất là hàng hoá đặc biệt Chính

sách đất đai phải chú ý đầy đủ tới các mặt

kinh tế, chính trị xã hội…” và phải “Hình

thành và phát triển thị trường bất động sản,

bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định

của pháp luật; từng bước mở thị trường bất

động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và

người nước ngoài tham gia đầu tư” Để xây

dựng thị trường quyền sử dụng đất phát triển

lành mạnh thì trước hết phải hoàn thiện các

quy định về chuyển quyền sử dụng đất của các

tổ chức, cá nhân và người nước ngoài sử dụng

đất Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của Đảng,

ngày 26/11/2003 Quốc hội đã thông qua Luật

đất đai (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004)

thay thế cho Luật đất đai năm 1993, Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm

1998 và năm 2001 So với những đạo luật trên thì Luật đất đai năm 2003 có rất nhiều điểm mới về vấn đề chuyển quyền sử dụng đất Chuyển quyền sử dụng đất thực chất là việc Nhà nước công nhận tính hợp pháp đối với hành vi tự điều chỉnh đất đai giữa những người sử dụng đất để xác lập quyền sử dụng cho chủ thể mới Nhà nước cho phép người sử dụng đất được quyền “định đoạt” về quyền sử dụng đất trong phạm vi khuôn khổ của pháp luật, người sử dụng đất phải tuân thủ trình tự thủ tục chuyển quyền, thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước khi chuyển quyền sử dụng Các hình thức chuyển quyền sử dụng đất

cụ thể gồm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, góp vốn và thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất - dạng đặc thù của chuyển quyền sử dụng

2 Quyền chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng và trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

Chuyển quyền sử dụng đất là phạm trù rất rộng, có thể xem xét ở nhiều khía cạnh như: Quyền chuyển quyền sử dụng đất; trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng; hợp đồng chuyển quyền; thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; các hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật và trách nhiệm pháp lí… Dưới đây, tác giả chỉ đề cập hai vấn đề mới trong Luật đất đai năm 2003 là quyền chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng và trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

2.1 Về quyền chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng

2.1.1 Quyền chuyển quyền sử dụng đất của các tổ chức

Trang 4

Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất

có thu tiền sử dụng, tổ chức nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất mà tiền đã trả

không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước

thì có quyền:

+ Chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho

quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

+ Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng

quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để hợp

tác kinh doanh với tổ chức, cá nhân trong

nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài

Các tổ chức kinh tế giao đất không thu

tiền để xây dựng các công trình không bằng

vốn ngân sách nhà nước và tổ chức thuê đất

của Nhà nước chỉ có quyền: Bán tài sản, thế

chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở

hữu của mình gắn liền với đất

Tuy nhiên, Luật đất đai mới cho phép các

tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật

được quyền lựa chọn hình thức giao đất có thu

tiền sử dụng hoặc thuê đất Khác với các quy

định trên, Luật đất đai hiện hành cho phép các

tổ chức được giao đất có thu tiền sử dụng, tổ

chức thuê đất mà trả tiền thuê một lần cho cả

thời gian thuê hoặc trả tiền thuê cho nhiều năm

thì có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thuê

lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử

dụng đất Hạn chế thấp nhất quyền chuyển

quyền sử dụng của tổ chức được giao đất

không thu tiền, tổ chức thuê đất mà trả tiền

thuê hàng năm

2.1.2 Quyền chuyển quyền sử dụng đất

của hộ gia đình, cá nhân

Hộ gia đình, các nhân sử dụng đất không

phải là đất thuê thì có các quyền sau:

+ Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông

nghiệp trong cùng một xã với hộ gia đình, cá

nhân khác;

+ Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo

quy định của Chính phủ;

+ Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê đất;

+ Cá nhân, thành viên trong hộ gia đình có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật Nếu người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc các trường hợp được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó; + Tặng cho quyền sử dụng đất cho nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục

vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất (như quy định đối với các tổ chức kinh tế…) Ngoài ra, còn có quyền tặng, cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định

cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; + Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân

để vay vốn;

+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh

Hộ gia đình, cá nhân thuê đất của Nhà nước (hoặc thuê lại đất trong khu công nghiệp) chỉ có quyền: Bán, thừa kế, tặng cho tài sản, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc

sở hữu của mình gắn liền với đất Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất mà thuê của tổ

Trang 5

chức, hộ gia đình, cá nhân thì có các quyền

theo quy định của pháp luật về dân sự Hộ gia

đình, cá nhân cũng có quyền lựa chọn hình

thức giao đất, hoặc thuê đất nếu sử dụng đất

làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh

doanh, sử dụng đất để xây dựng công trình

công cộng có mục đích kinh doanh

Quyền chuyển quyền sử dụng đất của hộ

gia đình, cá nhân được quy định tương đối chi

tiết và đầy đủ từ khi có Luật đất đai năm 1993

nhưng vẫn có hạn chế nhất định Luật đất đai

mới mở rộng hơn nhiều, đặc biệt quyền cho

thuê đất (mở rộng về loại đất và đối tượng

thuê): Được cho thuê các loại đất (có cả đất

nông nghiệp, lâm nghiệp, đất làm muối), đối

tượng thuê là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

và cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài

đầu tư vào Việt Nam Quyền để thừa kế cũng

được mở rộng, các thành viên trong hộ gia đình

sử dụng đất nông nghiệp hàng năm, nuôi trồng

thuỷ sản cũng được để lại thừa kế, người thừa

kế có cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Bổ sung thêm quyền tặng cho quyền sử dụng,

góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người Việt

Nam định cư ở nước ngoài để liên doanh

2.1.3 Quyền chuyển quyền sử dụng đất

của người nước ngoài (người nước ngoài sử

dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư tại

Việt Nam)

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ

chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam

được Nhà nước cho thuê đất và trả tiền thuê đất

một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền:

- Chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử

dụng đất thuê và tài sản thuộc sở hữu của mình

trên đất trong thời hạn thuê đất;

- Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền

sử dụng đất thuê và tài sản thuộc sở hữu của mình trên đất

Các đối tượng kể trên nếu trả tiền thuê đất hàng năm thì chỉ có quyền: Bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình trên đất thuê

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

về đầu tư được Nhà nước Việt Nam giao đất

có thu tiền sử dụng hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì ngoài những quyền chuyển quyền sử dụng đất trên còn có quyền tặng cho quyền sử dụng đất (tức là có các quyền như tổ chức kinh tế trong

nước được giao đất có thu tiền sử dụng);

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với đất ở có quyền: Bán; thế chấp; thừa kế; tặng cho nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật

Người nước ngoài (giống như các tổ chức,

cá nhân trong nuớc) cũng được quyền lựa chọn những hình thức trả tiền nhất định Cụ thể: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất Người nước ngoài đầu

tư tại Việt Nam được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê

Luật đất đai hiện hành rất hạn chế quyền chuyển quyền sử dụng đất của người nước ngoài, chỉ cho phép người nước ngoài thuê đất

để thực hiện các dự án đầu tư được quyền thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để vay vốn, được cho thuê lại đất đã xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử

Trang 6

dụng đất ở có quyền bán, thế chấp, thừa kế nhà

ở gắn liền với đất ở

Như vậy, Luật đất đai mới đã mở rộng cho

phần lớn các chủ thể sử dụng đất được thực

hiện quyền chuyển quyền gồm: Các tổ chức

sử dụng đất được giao, được nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng, (trừ các tổ chức được

giao đất không thu tiền hoặc tiền đã trả có

nguồn gốc từ ngân sách nhà nước); các hộ gia

đình, cá nhân sử dụng các loại đất không phải

là đất thuê; người nước ngoài đầu tư tại Việt

Nam trả tiền thuê một lần cho cả thời gian

thuê Những người sử dụng đất khác cũng có

cơ hội được thực hiện các quyền chuyển

quyền nếu căn cứ vào nhu cầu và khả năng tài

chính của mình để lựa chọn hình thức giao

đất có thu tiền sử dụng (nếu là người sử dụng

đất trong nước) hoặc thuê đất trả tiền thuê

một lần cho cả thời gian thuê (nếu là người

nước ngoài) theo quy định của pháp luật

Luật đất đai mới cũng quy định cụ thể

những đối tượng không có quyền chuyển

quyền sử dụng là: Tổ chức, hộ gia đình, cá

nhân trong nước thuê đất sử dụng; các tổ chức

được Nhà nước giao đất không thu tiền sử

dụng hoặc thu tiền mà tiền đã trả có nguồn gốc

từ ngân sách nhà nước; các tổ chức nước ngoài

có chức năng ngoại giao; và người nước ngoài

đầu tư tại Việt Nam mà trả tiền thuê đất hàng

năm Những đối tượng này chỉ có quyền

chuyển quyền sở hữu tài sản của mình gắn liền

với đất trong một số trường hợp theo luật định

Luật mới đã xây dựng một cơ chế rất cởi

mở cho các chủ thể sử dụng được chuyển

quyền sử dụng đất, tạo cơ sở, điều kiện cho

việc xây dựng thị trường bất động sản (trong

đó có thị trường quyền sử dụng đất) Bên cạnh những mặt tích cực của việc mở rộng các quyền năng đó thì đòi hỏi phải có các biện pháp quản lí nhà nước đồng bộ, hiệu quả, nếu không sẽ dễ dẫn đến việc các tổ chức, cá nhân lợi dụng các quy định về chuyển quyền để vi phạm pháp luật:

Thứ nhất, như trên đã nêu, Luật quy định

cụ thể những đối tượng không được chuyển quyền sử dụng đất nhưng trong đó có nhiều đối tượng lại được chuyển quyền tài sản thuộc

sở hữu của mình trên đất như được mua bán tài sản, cho thuê tài sản, thế chấp, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất… nhưng trong thực tế, các bên khi thoả thuận thực hiện các quyền chuyển quyền tài sản cho nhau thì giá của việc chuyển quyền đó bao giờ cũng gồm

cả giá của quyền sử dụng đất Ví dụ, A có một

nhà hàng trên một diện tích đất thuê của Nhà nước (trong 50 năm), A bán nhà hàng cho B

và tất yếu A và B thoả thuận bán cả quyền sử dụng đất cho nhau, có chăng giá đất chỉ thấp hơn giá đất được Nhà nước giao một chút và Nhà nước đã không kiểm soát được việc

“chuyển quyền” sử dụng mảnh đất đó (Nhà nước phải thu hồi đất của A để cho B thuê)

Do vậy, cần phải quy định cụ thể hơn về thủ tục và chính sách tài chính khi chuyển quyền tài sản gắn liền với đất

Thứ hai, Luật đã mở rộng mối quan hệ

pháp luật đất đai “theo chiều ngang” giữa các

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và người nước ngoài được chuyển quyền sử dụng đất cho nhau để đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và các tác động khác, sẽ

Trang 7

có nhiều đối tương lợi dụng đầu cơ đất Nếu

bằng các biện pháp đánh thuế thu nhập từ

chuyển quyền sử dụng đất và áp dụng thuế

suất luỹ tiến từng phần với người có thu nhập

cao khi chuyển quyền thì hạn chế được việc

mua đi bán lại nhưng lại xuất hiện những đối

tượng nhiều tiền đầu cơ lâu dài Họ mua thật

nhiều đất ở, đất nông nghiệp, đất làm mặt bằng

cho sản xuất kinh doanh… rồi họ cho thuê

kiếm lời, khi nào giá cao, thuận tiện thì họ mới

bán và trong xã hội sẽ xuất hiện các đối tượng

chuyên cho thuê các loại đất và có đối tượng

không có đất phải chuyên đi thuê để ở, để sản

xuất kinh doanh Vì vậy, để hạn chế đầu cơ và

để đảm bảo sử dụng đất đúng quy hoạch thì

phải kết hợp đồng bộ các biện pháp khác nữa

như vấn đề thuế sử dụng đất (đối với từng loại

đất, trong hạn mức, vượt hạn mức…), vấn đề

hạn mức đất, quy định những điều kiện nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất…

2.2 Về thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

Khi chuyển quyền, các bên phải lập hồ sơ

chuyển quyền sử dụng đất bao gồm: Hợp đồng,

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Người sử dụng đất khi thực hiện các quyền

chuyển quyền thì phải có giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất Chính phủ quy định về thời

hạn hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất

trong cả nước Trong thời hạn này người đang

sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận nhưng

có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng

quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai

năm 2003 thì cũng được thực hiện các quyền

của người sử dụng đất

Luật không quy định tách riêng thủ tục

chuyền quyền của tổ chức với của hộ gia đình,

cá nhân mà thủ tục gần như giống nhau (ở các điều từ Điều 126 đến Điều 131) Luật cũng quy định những điều kiện mới là hợp đồng phải có chứng nhận của công chứng nhà nước (hoặc đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì được lựa chọn, có thể lấy xác nhận của uỷ

ban nhân dân xã) và nộp hồ sơ tại văn phòng

đăng kí quyền sử dụng đất để đăng kí vào hồ

sơ và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng (đối với trường hợp thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đất) Nếu là chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn bằng quyền sử dụng (có phát sinh pháp nhân mới) thì văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất thẩm tra hồ

sơ rồi chuyển hồ sơ cho cơ quan quản lí đất đai thuộc uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận (UBND huyện hoặc tỉnh), để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo như quy định trên thì thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng thị trường bất động sản Văn phòng đăng kí quyền

sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công có chức năng quản lí hồ sơ địa chính gốc và chỉnh lí hồ

sơ, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Điều đó thể hiện sự cải cách thủ tục chuyển quyền sử dụng theo cơ chế “một cửa” rõ ràng minh bạch

Tóm lại, pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất phải ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn, tạo cơ

sở pháp lí để xây dựng thị trường quyền sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu của cải cách kinh

tế, của hội nhập kinh tế quốc tế./

Ngày đăng: 08/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w