Chúng tôi cho rằng để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, trên cơ sở các quy định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép thẩm phán trong trường
Trang 1ThS TrÇn Anh TuÊn *
rong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục
tố tụng hiện nay, việc xây dựng các quy
định về biện pháp khẩn cấp tạm thời, phải đáp
ứng được hai đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải
quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo
đảm an toàn pháp lí cho các bên đương sự
trong việc bảo vệ quyền lợi của họ Để hoàn
thiện các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự,
chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến sau:
1 Về phạm vi áp dụng
- Điểm tiến bộ của Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời Cụ thể là các biện
pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng
trước khi khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình
giải quyết vụ án (khoản 2 Điều 98 Dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự) Tuy nhiên, nếu so sánh với
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự của
một số nước trên thế giới như Bộ luật tố tụng
dân sự Pháp năm 1807 thì các quy định về biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự Việt Nam còn có những hạn chế
Hiện nay, các biện pháp khẩn cấp tạm thời
được quy định trong Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự thì hầu hết là những biện pháp nhằm
đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong
vụ kiện chính Trong khi đó, theo Bộ luật tố
tụng dân sự Pháp năm 1807 biện pháp khẩn
cấp tạm thời có thể áp dụng một cách độc lập
mà không phụ thuộc vào vụ kiện chính Chúng
tôi cho rằng để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, trên cơ sở các quy định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự ngay cả khi giữa các đương
sự không có tranh chấp về vụ kiện chính hoặc
có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng các bên không có yêu cầu khởi kiện giải quyết tranh chấp này
Trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra, đương sự chỉ yêu cầu tòa án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc
có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên
đã tự giải quyết được Chẳng hạn:
+ Chủ sở hữu căn nhà yêu cầu toà án ra quyết định buộc bị đơn phải tháo gỡ biển quảng cáo được gắn vào nhà mình một cách bất hợp pháp;
+ Yêu cầu cưỡng chế người thuê nhà ra khỏi ngôi nhà đã xuống cấp có nguy cơ bị sụp
đổ, buộc người thuê nhà phải chấm dứt hành vi
T
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2xây dựng trái phép khi không có sự đồng ý của
chủ nhà;
+ Yêu cầu toà án ra quyết định cấm phát
hành các ấn phẩm xâm phạm đến đời tư của
cá nhân;
+ Yêu cầu buộc chủ sở hữu bất động sản
liền kề tạm thời cho mở đường thoát nước;
+ Yêu cầu buộc chủ sở hữu cây cối, công
trình xây dựng có nguy cơ sụp đổ phải chặt
cây, phá dỡ;
+ Yêu cầu buộc những người đình công
chiếm giữ công sở phải giải tán;
+ Yêu cầu trục xuất những người chiếm
hữu nhà một cách rõ ràng bất hợp pháp…
Đối với những loại việc nêu trên, nếu giải
quyết theo thủ tục xét xử sơ thẩm thông thường
là không phù hợp vì bản chất của loại việc đòi
hỏi phải giải quyết khẩn cấp Mặt khác, cũng
không thể coi đây là loại việc yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo
cho vụ kiện chính Thiết nghĩ đối với những
loại việc này cần phải xây dựng thủ tục tố tụng
riêng cho phù hợp
Theo điểm a khoản 1 Điều 120 Dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự, nếu biện pháp khẩn cấp tạm
thời được áp dụng trước khi người yêu cầu
khởi kiện vụ án mà hết thời hạn 10 ngày làm
việc, kể từ ngày toà án ra quyết định áp dụng
người yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại toà
án thì biện pháp khẩn cấp tạm thời này bị huỷ
bỏ Quy định này rõ ràng đã hạn chế phạm vi
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng cách
buộc người yêu cầu phải khởi kiện vụ kiện
chính và như vậy không thể đáp ứng được
những đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh
chấp hiện nay Từ những lập luận trên chúng
tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 98
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự như sau: ''Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo
vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn ảnh hưởng xấu đến đời sống, hoạt động kinh doanh hoặc bảo đảm việc thi hành án thì cá nhân, tổ chức có liên quan có thể yêu cầu toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tương ứng quy định tại Điều 101 của Bộ luật này trước khi khởi kiện vụ án tại toà án Các đương sự cũng
có quyền yêu cầu toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp độc lập với vụ tranh chấp" Nếu như chấp nhận việc sửa đổi khoản 2 Điều 98 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng trên thì vấn đề đặt ra là phải xây dựng
cơ chế để người bị áp dụng các biện pháp này
có thể tự bảo vệ mình, tránh những bất lợi do việc áp dụng không đúng các biện pháp khẩn cấp, gây phương hại cho lợi ích chính đáng của
họ Theo chúng tôi, các quy định về việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các điều Điều 123, Điều 124 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp Tuy nhiên, các quy định này sẽ không hợp lí khi áp dụng đối với các quyết định khẩn cấp tạm thời được áp dụng một cách độc lập mà các bên không khởi kiện
vụ kiện chính Do vậy, cần thiết phải bổ sung quy định về quyền kháng cáo của các đương sự đối với các quyết định khẩn cấp tạm thời được
áp dụng độc lập và cơ chế để giải quyết các quyết định này ở toà án cấp phúc thẩm Có thể vận dụng các quy định về thủ tục phúc thẩm các quyết định của toà án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong Điều 281 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết kháng cáo quyết định khẩn cấp tạm thời này Rất tiếc, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự không có quy định
Trang 3riêng về thời hạn giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm đối với bản án và quyếtđịnh của toà án
cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Việc
quy định một thời hạn chung cho việc giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án và
quyết định của toà án cấp sơ thẩm như Điều
259 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là không
phù hợp với bản chất của từng loại việc Cần
phải sửa đổi Điều 259 Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự theo hướng: "Việc giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm các quyết định khẩn cấp tạm
thời của toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị phúc thẩm sẽ được tiến hành trong
một thời hạn tối đa là 1 tháng kể từ ngày toà án
cấp phúc thẩm thụ lí vụ việc".
- Theo khoản 13 Điều 101Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự thì toà án có quyền áp dụng “các
biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật
có quy định” Song vấn đề đặt ra trong thực
tiễn giải quyết là nếu trong trường hợp toà án
đang giải quyết vụ án mà thấy rằng cần phải áp
dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo
cho việc giải quyết vụ án và thi hành án nhưng
pháp luật chưa có quy định về loại biện pháp
này thì toà án có thể ra quyết định áp dụng hay
không? Do vậy chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ
sung quy định tại khoản 13 Điều 101 Dự thảo
theo hướng: "Toà án có quyền áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luậtcó
quy định Để đảm bảo việc xét xử và thi hành
án, nếu xét thấy cần thiết phải áp dụng ngay
các biện pháp khẩn cấp mà pháp luật chưa có
quy định về biện pháp này thì toà án có quyền
áp dụng nếu không trái với các quy định của
Bộ luật này"
- Hiện nay, khoản 1 Điều 101 và Điều 102
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chỉ đề cập các
biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng với những người chưa thành niên mà không đề cập tới biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình Để đáp ứng những đòi hỏi từ thực tiễn giải quyết tranh chấp, chúng tôi cho rằng cần thiết phải mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với
cả người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình Từ những nhận định trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 101 và Điều 102 Dự thảo theo hướng: "Giao người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến họ mà chưa
có người giám hộ"
- Theo quy định tại Điều 108 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, toà án có thể áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch nếu tài sản đang tranh chấp là bất động sản hoặc các tài sản phải đăng
kí tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người đang giữ tài sản bị cấm chuyển dịch có thể được tiếp tục giữ những tài sản này Tuy nhiên, trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự lại thiếu các quy định về việc khai thác công dụng của tài sản bị cấm chuyển dịch và quản lí các lợi ích thu được từ việc khai thác tài sản này đem lại Người đang chiếm giữ tài sản có thể lợi dụng để thu lợi gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng của người có yêu cầu Chúng tôi kiến nghị bổ sung vào Điều 108 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: "Trong trường hợp cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp,
Trang 4tuỳ trường hợp toà án có thể quyết định giao tài
sản đó cho một bên đương sự hoặc người thứ
ba quản lí và tiếp tục khai thác lợi ích của tài
sản Khoản tiền thu được từ việc khai thác tài
sản ấy sau khi đã trừ đi các chi phí cần thiết,
người được giao quản lí, khai thác lợi ích của
tài sản phải giao nộp cho toà án Toà án sẽ gửi
số tiền này vào tài khoản phong toả tại ngân
hàng cho đến khi có quyết định mới của toà
án"
2 Về các quy định liên quan đến tính
khẩn cấp của các biện pháp khẩn cấp tạm
thời
Tính khẩn cấp của việc áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong nhiều trường hợp
đòi hỏi toà án phải áp dụng ngay lập tức các
biện pháp cần thiết Tuy nhiên, nhiều quy định
trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã không
đáp ứng được đòi hỏi về tính khẩn cấp của các
biện pháp cần áp dụng và việc vận dụng trên
thực tế nhiều trường hợp sẽ quá muộn, tiềm ẩn
nguy cơ gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của
đương sự
- Theo khoản 2 Điều 116 Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự, nếu yêu cầu áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện trước
khi người yêu cầu khởi kiện vụ án thì thẩm
phán phải xem xét để quyết định áp dụng trong
thời hạn tối đa là 3 ngày làm việc kể từ ngày
thụ lí đơn yêu cầu Theo chúng tôi, quy định
này là không phù hợp, nhất là đối với những
yêu cầu áp dụng biện pháp phong toả tài khoản
tại ngân hàng (Điều 111), phong toả tài sản ở
nơi gửi giữ (Điều 112), phong toả tài sản của
người có nghĩa vụ (Điều 113) hoặc kê biên tài
sản đang tranh chấp (Điều 107) Việc chậm trễ
trong việc áp dụng các biện pháp này dù chỉ là
trong một thời gian hết sức ngắn cũng đủ để bên bị yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời “làm động tác” rút toàn bộ tiền từ tài khoản hoặc tẩu tán tài sản Với những nhận định trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 116 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự theo hướng: "Trong trường hợp cấp bách kể
cả ngày lễ, ngày nghỉ đương sự có thể yêu cầu toà án áp dụng ngay các biện pháp khẩn cấp cần thiết Nếu xét thấy yêu cầu của đương sự là thật sự cấp bách, thẩm phán có thể ngay lập tức quyết định các biện pháp cần thiết"
Tuy nhiên, để thực hiện được điều này không thể không tính đến tính thực tế của nó vì đôi khi phải thay đổi cả lề lối làm việc Do vậy, nếu như bổ sung quy định này vào Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì trong thực tiễn chúng ta phải xây dựng được cơ chế đảm bảo Có nghĩa
là phải có những thẩm phán trực vào các ngày nghỉ, ngày lễ Cơ chế làm việc này của toà án
đã được nhiều nước áp dụng
- Theo quy định tại các Điều 107, Điều
108, Điều 109 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp chỉ được áp dụng khi người bị yêu cầu áp dụng đã “… có hành vi tẩu tán tài sản”, “… có hành vi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản” hoặc “… có hành vi tháo gỡ, lắp ghép…” Chúng tôi cho rằng việc quy định toà
án chỉ có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi người bị yêu cầu có những hành vi nói trên là không hợp lí nếu không muốn nói là quá muộn trong việc bảo vệ lợi ích của đương sự hoặc đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án Do vậy, chúng tôi kiến nghị sửa
Trang 5đổi các điều luật này theo hướng sau đây:
+ Điều 107 "Kê biên tài sản đang tranh
chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải
quyết vụ án có căn cứ cho thấy cần phải ngăn
chặn người giữ tài sản đang tranh chấp có hành
vi tẩu tán tài sản"
+ Điều 108 "Cấm chuyển dịch tài sản đang
tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình
giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy cần phải
ngăn chặn người đang chiếm hữu hoặc giữ tài
sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch
quyền sở hữu tài sản cho người khác"
+ Điều 109 "Cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
cần phải ngăn chặn người đang chiếm hữu
hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi
tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành
vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó"
- Đối với Điều 114 Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự, chúng tôi cho rằng sẽ là hợp lí hơn nếu
như cho phép toà án có thể áp dụng các biện
pháp cấm hoặc buộc đương sự phải thực hiện
những hành vi nhất định nhằm ngăn chặn
những hậu quả xấu sẽ xảy ra trong tương lai
Do vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi điều luật
này theo hướng: "Việc cấm hoặc buộc đương
sự phải thực hiện những hành vi nhất định sẽ
được áp dụng trong trường hợp việc thực hiện
hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định
đã hoặc sẽ làm ảnh hưởng đến việc giải quyết
vụ án hoặc lợi ích hợp pháp của những người
có liên quan trong vụ án"
3 Về căn cứ huỷ bỏ quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Cần phải thấy rằng đối với các biện pháp
khẩn cấp tạm thời được quy định tại các khoản
2, 3, 4 Điều 101 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự ngay cả khi chỉ được áp dụng nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ kiện chính thì việc người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không khởi kiện vụ án cũng không thể dẫn tới hậu quả huỷ bỏ quyết định này nếu như người
bị áp dụng đã thi hành xong quyết định Trong trường hợp này, nếu người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không có khiếu nại và nguyên đơn không khởi kiện vụ án thì có thể coi rằng vụ việc tranh chấp giữa các bên đã được giải quyết xong Đối với các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét
xử và thi hành án được quy định tại các khoản
5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 101 Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự, nếu người yêu cầu áp dụng các biện pháp này không khởi kiện vụ án thì việc huỷ bỏ quyết định áp dụng các biện pháp này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị áp dụng Từ những lập luận trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 120
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng sau:
"Toà án ra ngay quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trước khi khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
1 Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trước khi người yêu cầu khởi kiện vụ án theo quy định tại các khoản 1, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Điều 101 Bộ luật này hết thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày toà án ra quyết định áp dụng
mà người yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại toà án, trừ những trường hợp toà án quyết định các biện pháp khẩn cấp tạm thời độc lập;
2 Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trước khi người yêu cầu khởi kiện vụ án theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 101 Bộ luật này hết thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ
Trang 6ngày toà án ra quyết định áp dụng người yêu
cầu đã không khởi kiện vụ án tại toà án và
người bị áp dụng cũng chưa thi hành quyết
định, trừ những trường hợp toà án quyết định
các biện pháp khẩn cấp tạm thời độc lập"
- Xét về mặt thực tế, sau khi ra quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu quyết
định của thẩm phán có sai lầm hoặc không
đúng pháp luật mà không cần thiết phải thay
thế bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì
để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, toà án
phải huỷ bỏ quyết định đã áp dụng Tuy nhiên,
Điều 120 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự hiện
nay lại không đề cập trường hợp này Do vậy,
chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm vào Điều 120
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự căn cứ huỷ bỏ
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong trường hợp quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời có sai lầm hoặc không
đúng pháp luật
4 Về các quy định nhằm bảo vệ lợi ích
hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời
Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời này
và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có
quyền yêu cầu trong Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự đã có những quy định về biện pháp bảo
đảm buộc người yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền hoặc
kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá
bằng tiền vào tài khoản phong toả tại ngân
hàng Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu toà án áp
dụng biện pháp phong toả tài sản của người có
nghĩa vụ (Điều 113) thì đương nhiên người có
nghĩa vụ sẽ không thể chuyển dịch những tài
sản bị phong toả mặc dù đây không phải là những tài sản đang tranh chấp Nếu tài sản bị phong toả là bất động sản như nhà đất mà giá nhà đất biến động theo chiều hướng giảm thì về nguyên tắc theo quy định tại Điều 99 Dự thảo
Bộ luật tố tụng dân sự, người yêu cầu áp dụng biện pháp này sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Xét về mặt thực tế, người bị áp dụng biện pháp phong toả này sẽ khó có thể nhận được khoản tiền bồi thường nếu người yêu cầu
áp dụng biện pháp này không có tài sản để thi hành khi thi hành án Vậy phải tìm ra giải pháp nào đó để có thể xử lí được vấn đề này? Theo chúng tôi để tránh những thiệt hại không đáng
có và không làm phức tạp thêm việc giải quyết tranh chấp nên mở cho người bị áp dụng biện pháp này con đường để tự cứu lấy mình, tạo ra sân chơi bình đẳng giữa họ và người yêu cầu
áp dụng biện pháp phong toả tài sản của họ Cụ thể là cho phép người bị áp dụng biện pháp phong toả này có thể gửi khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá bằng tiền tương đương với nghĩa vụ họ phải thực hiện vào tài khoản phong toả tại ngân hàng để thay thế cho biện pháp phong toả bất động sản nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán Do vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 121 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng: "Người
bị áp dụng biện pháp phong toả tài sản theo quy định tại khoản 11 Điều 101 thuộc Bộ luật này, có thể gửi khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền tương ứng với nghĩa vụ họ phải thực hiện để thay thế cho biện pháp khẩn cấp mà toà án đã
áp dụng"
- Ngoài ra, Điều 99 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chỉ đề cập trách nhiệm của người yêu
Trang 7cầu, kiến nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, trách nhiệm của toà án trong trường hợp
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba
mà không quy định về trách nhiệm của toà án
trong trường hợp toà án có lỗi trong việc không
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời hoặc chậm trễ trong việc quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, gây thiệt hại
cho quyền lợi của người yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời Sự thiếu vắng những
quy định về vấn đề này sẽ dẫn tới sự tuỳ tiện
của toà án trong việc không quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc chậm trễ
trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, gây thiệt hại cho quyền lợi của
người yêu cầu áp dụng biện pháp này Do đó,
chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 99 Dự thảo
Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng sau: "Toà án
phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có lỗi
trong việc không ra quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc chậm trễ trong
việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời gây thiệt hại cho quyền lợi của họ"
5 Về các quy định có liên quan đến việc
thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Khoản 2 Điều 122 Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự có quy định việc gửi quyết định
cho cá nhân, tổ chức có liên quan nhưng không
quy định việc gửi quyết định khẩn cấp tạm thời
cho cơ quan thi hành án, trong khi đó đây lại là
vấn đề rất quan trọng bởi cơ quan thi hành án
tổ chức thi hành quyết định này Do đó, chúng
tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều
122 như sau: "Toà án cấp hoặc gửi ngay quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án và viện kiểm sát cùng cấp Người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, tổ chức có liên quan phải lập tức thi hành khi nhận được quyết định này"
- Việc thi hành ngay lập tức các quyết định khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của đương sự Khoản 1 Điều 122 Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự mới chỉ dừng lại ở việc quy định hiệu lực thi hành ngay của biện pháp khẩn cấp tạm thời mà chưa quy định cơ chế cụ thể để thực hiện Sự chậm trễ trong việc thi hành các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường
Do vậy, việc quy định về vai trò chủ động của người yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như sự phối hợp kịp thời giữa toà án và cơ quan thi hành án là hết sức cần thiết Vì lẽ đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 122 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự như sau: "Khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan thi hành
án ra quyết định thi hành Khi nhận được yêu cầu thi hành của người yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo bản quyết định của toà án hoặc nhận được quyết định áp dụngbiện pháp khẩn cấp tạm thời do toà án chuyển giao, thủ trưởng cơ quan thi hành án phải lập tức ra quyết định thi hành"./