hương VIII Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 từ Điều 92 đến Điều 95 quy định về hệ thống chính quyền địa phương và khẳng định: “Quyền tự trị địa phương là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
Trang 1
hương VIII Hiến pháp Nhật Bản năm
1947 (từ Điều 92 đến Điều 95) quy định
về hệ thống chính quyền địa phương và
khẳng định: “Quyền tự trị địa phương là một
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
của chính quyền hành pháp của Nhật Bản”.(1)
Chính quyền địa phương ở Nhật Bản
được định nghĩa là “các tổ chức được thành
lập ở các khu vực đặc biệt trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia, số lượng các thành viên được
quyết định bởi cư dân ở trong vùng và có
chức năng cơ bản là điều hành hoạt động
hành chính trong phạm vi lãnh thổ mình quản
lí, phù hợp với lợi ích của cư dân, dựa trên cơ
sở quyền tự trị địa phương được thừa nhận
bởi chính phủ trung ương”.(2)
1 Sự phân loại chính quyền địa phương ở
Nhật Bản
Theo Luật tự trị địa phương,(3) chính
quyền địa phương ở Nhật Bản được chia
thành hai loại: Cơ quan thi hành quyền lực
công phân chia theo địa giới hành chính và cơ
quan quyền lực công đặc biệt
* Cơ quan thi hành quyền lực công phân
chia theo địa giới hành chính
Hệ thống chính quyền địa phương hiện tại
duy trì hai cấp: Cấp tỉnh, thành phố thuộc
trung ương (To, Do, Fu, Ken - gọi chung là
cấp tỉnh) và cấp quận huyện, thành phố thuộc
tỉnh, thị trấn, làng xã (Shi, Cho, Son - gọi
chung là cấp cơ sở )
Cả nước được chia thành 47 tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (prefectures), bao gồm 4
loại như sau: Thủ đô (To): Tokyo To (1); Do:
Hokkaido (1); Fu: Osaka fu; Kyoto fu (2);
Ken: (43); đồng thời cả nước được chia thành 3.232 các thành phố thuộc tỉnh, quận huyện,
làng (municipalities), trong đó có 669 thành
phố thuộc tỉnh (có 12 thành phố lớn); 1.993 quận, huyện, thị trấn và 570 làng
a Cấp tỉnh, thành phố
To, do, fu, ken là cấp quản lí hành chính ở địa phương cao nhất bao gồm các cấp cơ sở
Sự khác nhau về 4 tên gọi To, Do, Fu, Ken chỉ là do yếu tố lịch sử, không có sự khác nhau về chức năng Thủ đô Tokyo (To) có một hệ thống cơ quan đặc biệt để tiến hành hoạt động quản lí hành chính
Chức năng của cơ quan thi hành quyền lực công cấp tỉnh được quy định như sau:
- Quyết định những vấn đề liên quan đến địa phương, chuẩn bị kế hoạch phát triển đối với các vùng dân cư, vùng rừng núi, sông hồ
- Quyết định những vấn đề đảm bảo tính thống nhất trong cả nước như duy trì công tác giáo dục đào tạo, giáo dục bắt buộc trong nhà trường bảo đảm mức chuẩn quốc gia; quản lí
và điều hành lực lượng an ninh cảnh sát
- Quyết định những vấn đề liên quan đến việc liên kết và hợp tác giữa các cấp cơ sở, là cầu nối trong mối quan hệ giữa chính phủ
C
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2trung ương với cấp cơ sở
- Quyết định những vấn đề vượt quá mức
khả năng của cấp cơ sở hoặc cấp cơ sở không
thể đưa ra cách giải quyết chính xác được như
việc thành lập và duy trì các trường đại học,
trung học, phòng thí nghiệm cao cấp, các bảo
tàng quốc gia
b Cấp cơ sở
Cấp cơ sở là cấp quản lí cơ bản nằm trong
các vùng dân cư địa phương, có nhiệm vụ quản
lí hành chính ở địa phương trừ những vấn đề
thuộc quyền của cấp tỉnh Cấp cơ sở bao gồm:
- Thành phố thuộc tỉnh: Để trở thành thành
phố thuộc tỉnh (Shi ) phải có những điều kiện:
(1) Dân số nhiều hơn 50.000 người; (2) hơn 60
% tổng số cư dân sống ở khu vực thành thị; (3)
hơn 60 % dân số hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, công nghiệp hoặc những hoạt
động dịch vụ khác ở thành thị
So sánh với cấp quận, thị trấn và làng về
chức năng và tổ chức, không có sự khác nhau
chủ yếu mặc dù số lượng thành viên hội đồng
nhiều hơn Tuy nhiên, sự phân bổ ngân sách,
sự bắt buộc thành lập các cơ quan phúc lợi xã
hội là những đặc điểm đặc biệt của thành phố
thuộc tỉnh Ngoài ra, điểm khác nhau nổi bật
giữa thành phố thuộc tỉnh với cấp quận, thị
trấn, làng đó là số lượng dân cư đông hơn và
đặc điểm đô thị hoá
- Quận (thị trấn ) và làng (Cho và Son )
Thị trấn là cấp cơ quan công quyền địa
phương thoả mãn điều kiện được quy định
bởi luật của từng tỉnh, thành phố Không có
sự khác nhau giữa chức năng của cấp quận
(thị trấn ) và làng
- Thành phố chỉ định loại I (Shitei-toshi )
Thành phố loại này có dân số lớn hơn
500.000 người, diện tích trên 300 km2 và được thành lập bởi nghị định của chính phủ
Tổ chức và chức năng của loại thành phố này khác với thành phố thuộc tỉnh đề cập ở trên Chức năng, nhiệm vụ được quy định bởi nghị định chính phủ đồng thời được quy định bởi các chính quyền cấp tỉnh Hiện nay, có 12 thành phố loại này trong cả nước như: Osaka, Nagoya, Kyoto, Yokohama, Kobe, Kita Kyushu, Sapporo, Kawasaki, Fukuoka, Hiroshima, Sendai, Chiba
- Thành phố chỉ định loại II (Chukaku Shi) Thành phố loại này được thành lập bởi nghị định chính phủ, dân số trên 300.000 người và có diện tích trên 100 km2
Cũng giống như thành phố chỉ định loại I, các thành phố này giải quyết những công việc thường nhật mà chính quyền cấp tỉnh làm nhưng giới hạn bởi số lượng công việc ít hơn
Hệ thống các thành phố này mới được thành lập
từ tháng 6 năm 1994, bao gồm 17 thành phố: Utsunomiya, Niigata, Toyama, Kanazawa, Gifu, Shizuoka, Hamamatsu, Sakai, Himeji, Okayama, Kumamoto, Kagoshima, Akita, Koriyama, Wakayama, Nagasaki, Oita
* Cơ quan quyền lực công đặc biệt Các cơ quan quyền lực công đặc biệt bao
gồm: Các phường đặc biệt (special wards);
các cơ quan quản lí tài sản công và các cơ quan hợp tác của chính quyền địa phương Các cơ quan này được thành lập vì mục đích đặc biệt, vì vậy chức năng và tổ chức hoạt động giới hạn hơn so với các cơ quan quyền lực công phân chia theo địa giới hành chính và không mang tính quốc gia
a Các phường đặc biệt
Các phường đặc biệt tồn tại trong các đơn
Trang 3vị hành chính ở Tokyo (số lượng là 23) Tổ
chức và chức năng giống như các thành phố
thuộc tỉnh và người quản lí ở đơn vị này
được bầu ra trực tiếp bởi các cư dân Cách
thức bầu giống như là bầu thị trưởng của
thành phố thuộc tỉnh
b Các cơ quan hợp tác của chính quyền
địa phương
Các cơ quan hợp tác của chính quyền địa
phương được thành lập nhằm phối hợp thực
hiện nhiệm vụ của cấp tỉnh và cấp cơ sở Có 4
loại cơ quan hợp tác, thứ nhất là cơ quan hợp
tác từng bộ phận, chức năng được giới hạn
bởi việc thi hành một số loại dịch vụ đặc biệt
ví dụ như: Xử lí rác thải, phòng cháy và giáo
dục bắt buộc Loại cơ quan thứ hai được gọi
là: "koikirengo" giải quyết các công việc
mang tính hợp tác của các quan chức địa
phương theo kế hoạch đã định ra Loại thứ ba
là các cơ quan phối hợp thực hiện hoạt động
quản lí hành chính Loại thứ tư là loại cơ
quan hợp tác đầy đủ được thành lập để phối
hợp giải quyết tất cả các công việc liên quan
đến công quyền
c Cơ quan quản lí tài sản công
Cơ quan quản lí tài sản là cơ quan công
quyền ở địa phương được thành lập để quản lí
các tài sản đặc biệt, thường do cấp cơ sở quản
lí Một vài các cơ quan này có nguồn gốc từ
chế độ phong kiến, còn những cơ quan khác
mới được thành lập có nhiệm vụ quản lí các
loại tài sản nhà nước như rừng núi, sông ngòi,
các kênh tưới nước, suối nước khoáng…
2 Tổ chức hoạt động của chính quyền
địa phương
Một chính quyền địa phương bao gồm: 1
Hội đồng chính quyền địa phương; người
đứng đầu cơ quan hành pháp (ví dụ như chủ tịch tỉnh, chủ tịch cấp cơ sở như chủ tịch quận huyện, thành phố, thị trấn, làng) và 1 uỷ ban quản lí hành chính địa phương
Hội đồng chính quyền địa phương được thành lập với tư cách là cơ quan lập pháp có quyền ban hành Luật ở từng địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, vấn đề ngân sách Uỷ ban quản lí hành chính địa phương là cơ quan hành pháp
có nhiệm vụ thi hành những vấn đề quản lí hành chính ở địa phương phù hợp với quyết định của cơ quan lập pháp
Đặc điểm của tổ chức chính quyền địa phương như sau:
- Áp dụng hệ thống bầu cử trực tiếp: Theo hệ thống bầu cử này, cả người đứng đầu cơ quan hành pháp và các thành viên của hội đồng đều được bầu cử trực tiếp bởi cư dân, cả hai đều có quyền lực riêng và được bảo đảm sự bình đẳng trong việc sử dụng quyền lực này
- Uỷ ban quản lí hành chính được thành lập độc lập với người đứng đầu cơ quan hành pháp Sự tồn tại của những uỷ ban này nhằm chống lại sự vượt trội quyền lực của người đứng đầu cơ quan hành pháp và đảm bảo việc quản lí hành chính ở địa phương được thực hiện một cách khách quan, công bằng
a Hội đồng chính quyền địa phương
- Tổ chức của hội đồng: Hội đồng bao gồm các thành viên được bầu cử trực tiếp bởi
cư dân Số lượng tối đa là 130 người (đối với cấp To); từ 40 đến 120 người (đối với cấp Do,
Fu, Ken); từ 30 đến 100 người trong trường
hợp ở thành phố thuộc tỉnh (Shi) và từ 12 đến
30 người trong trường hợp ở quận, thị trấn,
Trang 4làng Số lượng các thành viên trong thực tế
không được vượt quá mức tối đa nhưng có
thể giảm xuống theo quy định của luật từng
địa phương Nhiệm kì của hội đồng là 4 năm
Một thành viên của hội đồng không thể vừa là
thành viên của hạ nghị viện, thượng nghị viện
hoặc là một thành viên hội đồng của bất kì
địa phương nào khác và không là cán bộ làm
việc thường xuyên trong bất kì cơ quan, địa
phương nào khác Thành viên của hội đồng
cũng bị cấm tham gia vào các mối quan hệ
hợp đồng với cơ quan công quyền địa
phương, là giám đốc của công ti có mối quan
hệ hợp đồng với chính quyền địa phương
Hội đồng gồm người đứng đầu, cấp phó
và các uỷ viên Những quyết định của hội
đồng được ban hành trong các kì họp
thường kì Hội đồng được chia làm 3 ban để
giải quyết các công việc ở giữa các kì họp:
Uỷ ban thường trực, uỷ ban điều hành và uỷ
ban đặc biệt
- Quyền lực của hội đồng bao gồm:
Quyền lực giải quyết vụ việc và những quyền
lực khác
Quyền lực giải quyết vụ việc là những
quyền lực được trao cho hội đồng để quyết
định những vấn đề quan trọng liên quan đến
địa phương như:
- Ban hành, sửa đổi và huỷ các luật địa phương
- Thiết lập ngân sách
- Quy định các vấn đề về tài chính
- Quy định các vấn đề về thu thuế và mức
định giá thuế, các phí hành chính… (trừ
những quy định được quy định bởi luật và
nghị định của Chính phủ)
- Quy định các vấn đề về hợp đồng hành chính
- Các vấn đề liên quan đến đầu tư, các
phương tiện thanh toán, chuyển nhượng hoặc cho thuê tài sản công
Các quyền lực khác của hội đồng như các quyền điều tra Hội đồng có thể điều tra bất kì
vụ việc, tài liệu nào liên quan đến các công việc của cơ quan quyền lực địa phương; quyền yêu cầu sự có mặt và tuyên thệ của nhân chứng và việc đưa ra các bản ghi nhớ; quyền yêu cầu báo cáo công tác thu chi tài chính hoặc về lĩnh vực quản lí nào đó đối với
cơ quan hành pháp…
- Hoạt động của hội đồng Hội đồng có những phiên họp thường kì
và đặc biệt Các phiên họp thường kì được tổ chức 4 lần (mỗi năm một lần) được quy định bởi địa phương, các phiên họp bất kì được tiến hành bất kể khi nào thấy cần thiết Quyền triệu tập hội đồng thuộc về người đứng đầu, tuy nhiên, nếu ít nhất 1/4 tổng số thành viên có yêu cầu triệu tập hội đồng vì
lí do đặc biệt thì người đứng đầu phải triệu tập phiên họp bất thường Quyền trình dự án luật
về nguyên tắc thuộc về cả người đứng đầu cơ quan và các thành viên của hội đồng, tuy nhiên, trong một vài trường hợp, quyền này thuộc về hoặc là người đứng đầu hoặc là các thành viên của hội đồng tuỳ theo tính chất của các dự luật
b Cơ quan hành pháp của chính quyền
địa phương
Cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương bao gồm người đứng đầu cơ quan (chủ tịch cấp tỉnh; chủ tịch cấp cơ sở) và uỷ ban quản lí hành chính
- Người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương
Người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương là người đại diện cho
Trang 5địa phương và được bầu cử trực tiếp bởi cư
dân địa phương Nhiệm kì hoạt động là 4
năm Người đứng đầu cơ quan hành pháp có
thể bị bãi nhiệm trước thời hạn nếu như
không đủ tư cách để bầu cử hoặc bị hội đồng
bỏ phiếu không tín nhiệm hoặc bị phản hồi
bởi cư dân Người đứng đầu bị cấm không
được là thành viên của hạ nghị viện hoặc
thượng nghị viện, thành viên của một hội
đồng địa phương khác, hoặc đang là cán bộ
thường xuyên ở một cơ quan địa phương
Đồng thời, người đứng đầu cơ quan hành
pháp bị cấm tham gia vào các mối quan hệ
hợp đồng với các cơ quan địa phương hoặc là
giám đốc của công ti (trừ những công ti được
thành lập bởi Chính phủ)
Người đứng đầu cơ quan hành pháp ở
địa phương có quyền điều hành, thay đổi
cho phù hợp tất cả những hoạt động của
địa phương nhằm đảm bảo tính liên tục và
có hiệu quả của hoạt động quản lí hành
chính Quyền chủ yếu của người đứng đầu
cơ quan hành pháp là:
+ Ban hành ra các quy định để giải quyết
các vấn đề của địa phương
+ Chuẩn bị kế hoạch và thực hiện ngân sách
+ Quy định về các mức thuế và việc thu thuế
+ Quy định các vấn đề về phí và lệ phí,
quy định mức xử phạt hành chính
+ Kiểm kê, quản lí và hủy bỏ các vấn đề
về tài sản
+ Thành lập, tổ chức hoạt động và hủy bỏ
việc sử dụng các phương tiện công cộng
+ Đệ trình các vấn đề liên quan đến
tài khoản, thống kê, xin chứng nhận của
hội đồng
- Với tư cách là cơ quan bổ trợ của người
điều hành, có một cấp phó, một kế toán trưởng (trong trường hợp ở cấp tỉnh) hoặc người quản lí kho bạc (trong trường hợp ở cấp cơ sở) và những quan chức khác Số lượng của cấp phó có thể tăng lên theo quy định của luật địa phương
- Uỷ ban hành chính Đối với cấp tỉnh, các uỷ ban quản lí hành chính trong các lĩnh vực được thành lập như:
Uỷ ban giáo dục, uỷ ban bầu cử, uỷ ban nhân
sự, kiểm toán, uỷ ban an toàn công cộng, uỷ ban lao động, uỷ ban thăm dò và khai thác,
uỷ ban hàng hải, uỷ ban quản lí các vấn đề nông, lâm, ngư nghiệp…
Đối với cấp quận, thị trấn, các uỷ ban được thành lập như: Uỷ ban giáo dục, uỷ ban bầu cử; uỷ ban nhân sự, kiểm toán, uỷ ban nông nghiệp và uỷ ban kiểm tra đánh giá chất lượng…
c Mối quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan hành pháp và hội đồng địa phương Người đứng đầu cơ quan hành pháp và hội đồng độc lập với nhau và thực hiện nhiệm vụ một cách bình đẳng Nếu có sự khác nhau về mặt quan điểm giữa các bên thì sẽ áp dụng các biện pháp thương lượng được gọi là “xem xét lại nghị quyết của hội đồng” và “nghị quyết về bất tín nhiệm và giải thể hội đồng”
Xem xét lại nghị quyết của hội đồng là thủ tục trong đó người đứng đầu cơ quan hành pháp trả lại nghị quyết của hội đồng do
có sự phản đối về vấn đề liên quan đến việc ban hành, sửa đổi và huỷ bỏ luật địa phương, hoặc liên quan đến ngân sách, yêu cầu phải xem xét lại
Nghị quyết về bãi nhiệm hội đồng yêu
Trang 6cầu phải được 3/4 các thành viên tham gia bỏ
phiếu tán thành (với điều kiện phải có 2/3
tổng số thành viên tham gia) Nếu Nghị
quyết này được thông qua, người đứng đầu
cơ quan hành pháp sẽ giải tán hội đồng
nhưng nếu người đứng đầu cơ quan hành
pháp trong vòng 10 ngày không giải tán hội
đồng sẽ mất đi quyền này
3 Nhiệm vụ quản lí hành chính của cơ
quan địa phương trong một số lĩnh vực
Hành chính ở Nhật Bản được hiểu bao
gồm: Hành chính quốc gia được đặt dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của chính quyền trung ương
và hành chính địa phương được đặt dưới sự
chỉ đạo của chính quyền địa phương Trong
một vài lĩnh vực như quan hệ ngoại giao, lĩnh
vực hình sự và tố tụng được đặt dưới sự chỉ
đạo của chính quyền trung ương xét về bản
chất Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, dịch
vụ xã hội, vệ sinh môi trường và sức khoẻ,
lao động công ích, công nghiệp, phòng chữa
cháy và cảnh sát… liên quan chặt chẽ với đời
sống hàng ngày được chia sẻ với chính quyền
địa phương cấp tỉnh và cấp cơ sở
- Một số lĩnh vực quản lí của chính quyền
địa phương như sau:
- Giáo dục
Giáo dục là một trong những nhiệm vụ
quan trọng nhất của chính quyền địa
phương Hệ thống giáo dục hiện tại là hệ
thống 6 - 3 - 3 - 4 (trong đó 6 năm giáo dục
tiểu học, 3 năm trung học cơ sở, 3 năm phổ
thông trung học và 4 năm đại học), 9 năm
đầu là giáo dục bắt buộc Tổng chi phí của
chính quyền địa phương cho việc giáo dục
hàng năm khoảng hơn 40%
- Lao động công ích Việc chi tiêu cho lao động công ích ở địa phương hàng năm khoảng 22.616 tỉ yên trong
đó chi tiêu cho việc xây dựng đường xá, cầu cống chiếm xấp xỉ 1/3 tổng số, ngoài ra chi tiêu cho việc nạo vét sông, bờ biển Chiều dài tổng cộng của các con đường xuyên quốc gia khoảng 53.000km, các con đường của tỉnh là 123.000km và con đường của quận huyện là 934.000km Hơn 90% dân số của Nhật Bản sống ở trong các khu vực mà Luật về kế hoạch phát triển thành thị được thực hiện, do
đó những hoạt động xây dựng kế hoạch phát triển thành phố, thị trấn là nhiệm vụ chủ yếu của cấp cơ sở của Nhật Bản
- Phúc lợi xã hội Quản lí và phát triển phúc lợi xã hội là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm nâng cao sự quan tâm của cộng đồng tới người già, nâng cao mức sống và sức khoẻ của họ, phát triển tâm hồn và thể chất của thế hệ trẻ, giúp đỡ những người tàn tật và những người không có nơi nương tựa Việc chi phí cho phúc lợi xã hội hàng năm là 10.612 tỉ yên trong đó chiếm 6% là tổng chi phí là của cấp tỉnh, 17% là cấp
cơ sở Việc chi phí cho sức khoẻ của trẻ em chiếm 30% tổng quỹ phúc lợi xã hội, 28,1% phúc lợi cho người già và còn lại chi tiêu cho các việc trợ giúp công cộng, khắc phục thiệt hại do cháy nổ, động đất…
- Sức khoẻ và vệ sinh Trong lĩnh vực sức khoẻ và vệ sinh, chính phủ trung ương đảm đương nhiệm vụ tiến hành các cuộc kiểm tra chất lượng quốc gia đối với bác sĩ, y tá; cấp giấy phép cho việc sản xuất thuốc tân dược, các kế hoạch chung
Trang 7và hướng dẫn thực hiện Còn lại phần lớn các
việc quản lí nhà nước về lĩnh vực y tế, sức
khoẻ vệ sinh đều liên quan chặt chẽ với cư
dân và được quản lí bởi chính quyền cấp tỉnh
và cấp quận huyện Các trung tâm sức khỏe
cộng đồng được thành lập ở các tỉnh, các
thành phố chỉ định loại I và II, các phường
đặc biệt ở Tokyo và số lượng hiện nay là
848 đơn vị Việc xử lí rác thải sinh hoạt là
nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, chi phí cho
việc xử lí này chiếm hơn một nửa tổng chi
tiêu của các cấp cơ sở đối với vấn đề sức
khoẻ và vệ sinh Cấp cơ sở có trách nhiệm
xử lí rác thải không phải rác thải công
nghiệp còn rác thải công nghiệp thuộc trách
nhiệm của các nhà sản xuất
- Công nghiệp
Thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông
nghiệp, thương mại bảo đảm công ăn việc
làm, phát triển thu nhập và mức sống của
người dân là những nhiệm vụ sống còn của
cơ quan địa phương Các chi phí này được
chia làm hai lĩnh vực chủ yếu:
Chi tiêu cho phát triển nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp chiếm khoảng 6.213 tỉ
yên hàng năm, trong đó cấp tỉnh chi tiêu
gấp đôi so với cấp cơ sở
Chi tiêu cho công nghiệp và thương mại
chiếm 5.047 tỉ yên, trong đó xấp xỉ 2/3 là
các khoản cho vay và 7% là các khoản trợ
giúp Chính quyền địa phương trông đợi
vào việc thi hành các biện pháp đặc biệt để
hiện đại hoá các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
thu thuế từ các hoạt động này và thu phí từ
các dịch vụ tư vấn và nghiên cứu dự án
- Phòng cháy và cảnh sát
Trước chiến tranh thế giới II, Chính phủ chịu trách nhiệm về phòng cháy chữa cháy Sau chiến tranh trách nhiệm này chuyển cho chính quyền địa phương Trong trường hợp
có thảm họa tự nhiên và các dịch vụ cứu hoả đối với các thảm hoạ có quy mô lớn được gây ra bởi động đất, núi lửa và những tai nạn trong khu vực công nghiệp dầu mỏ nơi mà cấp cơ sở không có khả năng giải quyết thì có một mạng lưới hợp tác giữa các chính quyền địa phương
Trong lĩnh vực duy trì lực lượng cảnh sát, ở cấp trung ương, Chính phủ thành lập:
Uỷ ban an toàn công cộng quốc gia, người đứng đầu ủy ban này là bộ trưởng Dưới ủy ban này Cục cảnh sát quốc gia được thành lập có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch của hệ thống cảnh sát, tổ chức và cung cấp các hoạt động hợp tác giữa các tỉnh Mỗi tỉnh có một uỷ ban an toàn cộng đồng và một trụ sở cảnh sát, dưới đó có các đơn vị cảnh sát và các đồn cảnh sát (Koban) Trách nhiệm của phòng cảnh sát liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như: Điều tra tội phạm, ngăn ngừa việc phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên, đạo đức của cảnh sát, điều khiển giao thông
và hoạt động chống khủng bố
4 Mối quan hệ giữa chính phủ và chính quyền địa phương
Mặc dù chính quyền địa phương được thành lập bởi chính phủ nhưng chúng là những cơ quan tự trị và không phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền trung ương Vì vậy, mối quan hệ giữa chính phủ và chính quyền địa phương được xây dựng trên nguyên tắc hợp tác và đảm bảo mức can
Trang 8thiệp tối thiểu của chính phủ đối với việc
quản lí ở địa phương, như đảm bảo duy trì
sự hoạt động thống nhất của nền hành chính
công và đảm bảo không vượt quá giới hạn
lập pháp Về cách thức can thiệp như thông
qua các văn bản pháp lí chính thức, sự chấp
thuận của chính quyền trung ương đối với
một vấn đề nào đó và việc đưa ra các tư
vấn, hướng dẫn, các trợ giúp về chuyên gia
và kĩ thuật
Nguyên tắc cơ bản là hoạt động quản lí
liên quan chặt chẽ tới đời sống hàng ngày
của cuộc sống cộng đồng thì đặt dưới sự chỉ
đạo của chính quyền địa phương Chính
quyền trung ương tập trung vào giải quyết
những lĩnh vực mà vượt ra khỏi khả năng
của chính quyền địa phương
Chính phủ hỗ trợ về mặt tài chính, đảm
bảo sự phát triển cân bằng giữa các vùng
trong quốc gia và duy trì mức chuẩn quốc
gia của dịch vụ hành chính Chính phủ chủ
động trong việc chỉ đạo và giám sát hoạt
động của chính quyền địa phương nhưng
cũng đảm bảo tính chủ động của địa
phương Người đứng đầu cơ quan hành
pháp và uỷ ban hành chính đóng vai trò
quan trọng trong các cơ quan của chính
phủ, trong việc xây dựng các chức năng
được nhà nước uỷ nhiệm và điều khiển hoạt
động theo định hướng của chính phủ
Đối với các vấn đề ở cấp cơ sở, quyền
lực và trách nhiệm giúp đỡ, chỉ đạo của
chính phủ, về nguyên tắc, được uỷ quyền
cho người đứng đầu cấp tỉnh
Sự giúp đỡ và tư vấn của chính phủ bao
gồm: Trợ giúp về mặt kĩ thuật: Cung cấp
các kĩ thuật hiện đại, các chuyên gia tư vấn, các lời khuyên; yêu cầu việc đệ trình số liệu
và thông tin; điều tra các lĩnh vực của quản
lí hành chính; báo cáo ngân sách và ban hành luật địa phương
Chính phủ thực hiện các quyền giám sát
về mặt tài chính như: Giám sát các lĩnh vực kinh doanh tài chính; chấp thuận các khoản
nợ của địa phương; chứng nhận việc đặt ra mức thuế mới
Chính phủ hỗ trợ về mặt tài chính như cấp phát các khoản viện trợ giúp đỡ; tính toán các khoản thuế thu nhập địa phương Chính phủ thực hiện quyền giám sát và huỷ bỏ các văn bản quản lí hành chính ở địa phương trái pháp luật
Chủ tịch cấp tỉnh trong quá trình thực thi nhiệm vụ với tư cách là đại diện của chính phủ trong mối liên hệ với việc thực hiện chức năng uỷ quyền nhà nước để tiến hành thực hiện hoạt động quản lí hành chính ở địa phương và đặt dưới sự giám sát của bộ trưởng
Cũng vậy, chủ tịch cấp cơ sở trong khi thực hiện nhiệm vụ là đại diện của chính phủ chịu sự giám sát chỉ đạo của bộ trưởng và các chủ tịch cấp tỉnh Chủ tịch tỉnh có thể đình chỉ bất kì văn bản nào của chủ tịch cấp
cơ sở liên quan đến các công việc của chính phủ hoặc của cấp tỉnh nếu như các văn bản
đó vi phạm các điều luật đã quy định./
(1).Xem: Điều 92 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 (2).Xem: Muroi Tsutomu, Giới thiệu Luật Hành chính Nhật Bản, (An introduction to administrative law), 28 (1999)
(3).Local Autonomy Law (Chiho Zichi ho), ban hành năm
Showa 22 (17/04/1947), được sửa đổi tháng 03/2000