1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Mô hình cơ quan bảo hiến của các nước trên thế giới " pptx

8 801 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Cơ Quan Bảo Hiến Của Các Nước Trên Thế Giới
Tác giả ThS. Phạm Hồng Quang
Người hướng dẫn Giảng Viên Khoa Hành Chính - Nhà Nước
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Nhà Nước Và Pháp Luật Nước Ngoài
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 171,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hương VIII Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 từ Điều 92 đến Điều 95 quy định về hệ thống chính quyền địa phương và khẳng định: “Quyền tự trị địa phương là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức

Trang 1

hương VIII Hiến pháp Nhật Bản năm

1947 (từ Điều 92 đến Điều 95) quy định

về hệ thống chính quyền địa phương và

khẳng định: “Quyền tự trị địa phương là một

nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động

của chính quyền hành pháp của Nhật Bản”.(1)

Chính quyền địa phương ở Nhật Bản

được định nghĩa là “các tổ chức được thành

lập ở các khu vực đặc biệt trong phạm vi lãnh

thổ quốc gia, số lượng các thành viên được

quyết định bởi cư dân ở trong vùng và có

chức năng cơ bản là điều hành hoạt động

hành chính trong phạm vi lãnh thổ mình quản

lí, phù hợp với lợi ích của cư dân, dựa trên cơ

sở quyền tự trị địa phương được thừa nhận

bởi chính phủ trung ương”.(2)

1 Sự phân loại chính quyền địa phương ở

Nhật Bản

Theo Luật tự trị địa phương,(3) chính

quyền địa phương ở Nhật Bản được chia

thành hai loại: Cơ quan thi hành quyền lực

công phân chia theo địa giới hành chính và cơ

quan quyền lực công đặc biệt

* Cơ quan thi hành quyền lực công phân

chia theo địa giới hành chính

Hệ thống chính quyền địa phương hiện tại

duy trì hai cấp: Cấp tỉnh, thành phố thuộc

trung ương (To, Do, Fu, Ken - gọi chung là

cấp tỉnh) và cấp quận huyện, thành phố thuộc

tỉnh, thị trấn, làng xã (Shi, Cho, Son - gọi

chung là cấp cơ sở )

Cả nước được chia thành 47 tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương (prefectures), bao gồm 4

loại như sau: Thủ đô (To): Tokyo To (1); Do:

Hokkaido (1); Fu: Osaka fu; Kyoto fu (2);

Ken: (43); đồng thời cả nước được chia thành 3.232 các thành phố thuộc tỉnh, quận huyện,

làng (municipalities), trong đó có 669 thành

phố thuộc tỉnh (có 12 thành phố lớn); 1.993 quận, huyện, thị trấn và 570 làng

a Cấp tỉnh, thành phố

To, do, fu, ken là cấp quản lí hành chính ở địa phương cao nhất bao gồm các cấp cơ sở

Sự khác nhau về 4 tên gọi To, Do, Fu, Ken chỉ là do yếu tố lịch sử, không có sự khác nhau về chức năng Thủ đô Tokyo (To) có một hệ thống cơ quan đặc biệt để tiến hành hoạt động quản lí hành chính

Chức năng của cơ quan thi hành quyền lực công cấp tỉnh được quy định như sau:

- Quyết định những vấn đề liên quan đến địa phương, chuẩn bị kế hoạch phát triển đối với các vùng dân cư, vùng rừng núi, sông hồ

- Quyết định những vấn đề đảm bảo tính thống nhất trong cả nước như duy trì công tác giáo dục đào tạo, giáo dục bắt buộc trong nhà trường bảo đảm mức chuẩn quốc gia; quản lí

và điều hành lực lượng an ninh cảnh sát

- Quyết định những vấn đề liên quan đến việc liên kết và hợp tác giữa các cấp cơ sở, là cầu nối trong mối quan hệ giữa chính phủ

C

* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

trung ương với cấp cơ sở

- Quyết định những vấn đề vượt quá mức

khả năng của cấp cơ sở hoặc cấp cơ sở không

thể đưa ra cách giải quyết chính xác được như

việc thành lập và duy trì các trường đại học,

trung học, phòng thí nghiệm cao cấp, các bảo

tàng quốc gia

b Cấp cơ sở

Cấp cơ sở là cấp quản lí cơ bản nằm trong

các vùng dân cư địa phương, có nhiệm vụ quản

lí hành chính ở địa phương trừ những vấn đề

thuộc quyền của cấp tỉnh Cấp cơ sở bao gồm:

- Thành phố thuộc tỉnh: Để trở thành thành

phố thuộc tỉnh (Shi ) phải có những điều kiện:

(1) Dân số nhiều hơn 50.000 người; (2) hơn 60

% tổng số cư dân sống ở khu vực thành thị; (3)

hơn 60 % dân số hoạt động trong lĩnh vực

thương mại, công nghiệp hoặc những hoạt

động dịch vụ khác ở thành thị

So sánh với cấp quận, thị trấn và làng về

chức năng và tổ chức, không có sự khác nhau

chủ yếu mặc dù số lượng thành viên hội đồng

nhiều hơn Tuy nhiên, sự phân bổ ngân sách,

sự bắt buộc thành lập các cơ quan phúc lợi xã

hội là những đặc điểm đặc biệt của thành phố

thuộc tỉnh Ngoài ra, điểm khác nhau nổi bật

giữa thành phố thuộc tỉnh với cấp quận, thị

trấn, làng đó là số lượng dân cư đông hơn và

đặc điểm đô thị hoá

- Quận (thị trấn ) và làng (Cho và Son )

Thị trấn là cấp cơ quan công quyền địa

phương thoả mãn điều kiện được quy định

bởi luật của từng tỉnh, thành phố Không có

sự khác nhau giữa chức năng của cấp quận

(thị trấn ) và làng

- Thành phố chỉ định loại I (Shitei-toshi )

Thành phố loại này có dân số lớn hơn

500.000 người, diện tích trên 300 km2 và được thành lập bởi nghị định của chính phủ

Tổ chức và chức năng của loại thành phố này khác với thành phố thuộc tỉnh đề cập ở trên Chức năng, nhiệm vụ được quy định bởi nghị định chính phủ đồng thời được quy định bởi các chính quyền cấp tỉnh Hiện nay, có 12 thành phố loại này trong cả nước như: Osaka, Nagoya, Kyoto, Yokohama, Kobe, Kita Kyushu, Sapporo, Kawasaki, Fukuoka, Hiroshima, Sendai, Chiba

- Thành phố chỉ định loại II (Chukaku Shi) Thành phố loại này được thành lập bởi nghị định chính phủ, dân số trên 300.000 người và có diện tích trên 100 km2

Cũng giống như thành phố chỉ định loại I, các thành phố này giải quyết những công việc thường nhật mà chính quyền cấp tỉnh làm nhưng giới hạn bởi số lượng công việc ít hơn

Hệ thống các thành phố này mới được thành lập

từ tháng 6 năm 1994, bao gồm 17 thành phố: Utsunomiya, Niigata, Toyama, Kanazawa, Gifu, Shizuoka, Hamamatsu, Sakai, Himeji, Okayama, Kumamoto, Kagoshima, Akita, Koriyama, Wakayama, Nagasaki, Oita

* Cơ quan quyền lực công đặc biệt Các cơ quan quyền lực công đặc biệt bao

gồm: Các phường đặc biệt (special wards);

các cơ quan quản lí tài sản công và các cơ quan hợp tác của chính quyền địa phương Các cơ quan này được thành lập vì mục đích đặc biệt, vì vậy chức năng và tổ chức hoạt động giới hạn hơn so với các cơ quan quyền lực công phân chia theo địa giới hành chính và không mang tính quốc gia

a Các phường đặc biệt

Các phường đặc biệt tồn tại trong các đơn

Trang 3

vị hành chính ở Tokyo (số lượng là 23) Tổ

chức và chức năng giống như các thành phố

thuộc tỉnh và người quản lí ở đơn vị này

được bầu ra trực tiếp bởi các cư dân Cách

thức bầu giống như là bầu thị trưởng của

thành phố thuộc tỉnh

b Các cơ quan hợp tác của chính quyền

địa phương

Các cơ quan hợp tác của chính quyền địa

phương được thành lập nhằm phối hợp thực

hiện nhiệm vụ của cấp tỉnh và cấp cơ sở Có 4

loại cơ quan hợp tác, thứ nhất là cơ quan hợp

tác từng bộ phận, chức năng được giới hạn

bởi việc thi hành một số loại dịch vụ đặc biệt

ví dụ như: Xử lí rác thải, phòng cháy và giáo

dục bắt buộc Loại cơ quan thứ hai được gọi

là: "koikirengo" giải quyết các công việc

mang tính hợp tác của các quan chức địa

phương theo kế hoạch đã định ra Loại thứ ba

là các cơ quan phối hợp thực hiện hoạt động

quản lí hành chính Loại thứ tư là loại cơ

quan hợp tác đầy đủ được thành lập để phối

hợp giải quyết tất cả các công việc liên quan

đến công quyền

c Cơ quan quản lí tài sản công

Cơ quan quản lí tài sản là cơ quan công

quyền ở địa phương được thành lập để quản lí

các tài sản đặc biệt, thường do cấp cơ sở quản

lí Một vài các cơ quan này có nguồn gốc từ

chế độ phong kiến, còn những cơ quan khác

mới được thành lập có nhiệm vụ quản lí các

loại tài sản nhà nước như rừng núi, sông ngòi,

các kênh tưới nước, suối nước khoáng…

2 Tổ chức hoạt động của chính quyền

địa phương

Một chính quyền địa phương bao gồm: 1

Hội đồng chính quyền địa phương; người

đứng đầu cơ quan hành pháp (ví dụ như chủ tịch tỉnh, chủ tịch cấp cơ sở như chủ tịch quận huyện, thành phố, thị trấn, làng) và 1 uỷ ban quản lí hành chính địa phương

Hội đồng chính quyền địa phương được thành lập với tư cách là cơ quan lập pháp có quyền ban hành Luật ở từng địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, vấn đề ngân sách Uỷ ban quản lí hành chính địa phương là cơ quan hành pháp

có nhiệm vụ thi hành những vấn đề quản lí hành chính ở địa phương phù hợp với quyết định của cơ quan lập pháp

Đặc điểm của tổ chức chính quyền địa phương như sau:

- Áp dụng hệ thống bầu cử trực tiếp: Theo hệ thống bầu cử này, cả người đứng đầu cơ quan hành pháp và các thành viên của hội đồng đều được bầu cử trực tiếp bởi cư dân, cả hai đều có quyền lực riêng và được bảo đảm sự bình đẳng trong việc sử dụng quyền lực này

- Uỷ ban quản lí hành chính được thành lập độc lập với người đứng đầu cơ quan hành pháp Sự tồn tại của những uỷ ban này nhằm chống lại sự vượt trội quyền lực của người đứng đầu cơ quan hành pháp và đảm bảo việc quản lí hành chính ở địa phương được thực hiện một cách khách quan, công bằng

a Hội đồng chính quyền địa phương

- Tổ chức của hội đồng: Hội đồng bao gồm các thành viên được bầu cử trực tiếp bởi

cư dân Số lượng tối đa là 130 người (đối với cấp To); từ 40 đến 120 người (đối với cấp Do,

Fu, Ken); từ 30 đến 100 người trong trường

hợp ở thành phố thuộc tỉnh (Shi) và từ 12 đến

30 người trong trường hợp ở quận, thị trấn,

Trang 4

làng Số lượng các thành viên trong thực tế

không được vượt quá mức tối đa nhưng có

thể giảm xuống theo quy định của luật từng

địa phương Nhiệm kì của hội đồng là 4 năm

Một thành viên của hội đồng không thể vừa là

thành viên của hạ nghị viện, thượng nghị viện

hoặc là một thành viên hội đồng của bất kì

địa phương nào khác và không là cán bộ làm

việc thường xuyên trong bất kì cơ quan, địa

phương nào khác Thành viên của hội đồng

cũng bị cấm tham gia vào các mối quan hệ

hợp đồng với cơ quan công quyền địa

phương, là giám đốc của công ti có mối quan

hệ hợp đồng với chính quyền địa phương

Hội đồng gồm người đứng đầu, cấp phó

và các uỷ viên Những quyết định của hội

đồng được ban hành trong các kì họp

thường kì Hội đồng được chia làm 3 ban để

giải quyết các công việc ở giữa các kì họp:

Uỷ ban thường trực, uỷ ban điều hành và uỷ

ban đặc biệt

- Quyền lực của hội đồng bao gồm:

Quyền lực giải quyết vụ việc và những quyền

lực khác

Quyền lực giải quyết vụ việc là những

quyền lực được trao cho hội đồng để quyết

định những vấn đề quan trọng liên quan đến

địa phương như:

- Ban hành, sửa đổi và huỷ các luật địa phương

- Thiết lập ngân sách

- Quy định các vấn đề về tài chính

- Quy định các vấn đề về thu thuế và mức

định giá thuế, các phí hành chính… (trừ

những quy định được quy định bởi luật và

nghị định của Chính phủ)

- Quy định các vấn đề về hợp đồng hành chính

- Các vấn đề liên quan đến đầu tư, các

phương tiện thanh toán, chuyển nhượng hoặc cho thuê tài sản công

Các quyền lực khác của hội đồng như các quyền điều tra Hội đồng có thể điều tra bất kì

vụ việc, tài liệu nào liên quan đến các công việc của cơ quan quyền lực địa phương; quyền yêu cầu sự có mặt và tuyên thệ của nhân chứng và việc đưa ra các bản ghi nhớ; quyền yêu cầu báo cáo công tác thu chi tài chính hoặc về lĩnh vực quản lí nào đó đối với

cơ quan hành pháp…

- Hoạt động của hội đồng Hội đồng có những phiên họp thường kì

và đặc biệt Các phiên họp thường kì được tổ chức 4 lần (mỗi năm một lần) được quy định bởi địa phương, các phiên họp bất kì được tiến hành bất kể khi nào thấy cần thiết Quyền triệu tập hội đồng thuộc về người đứng đầu, tuy nhiên, nếu ít nhất 1/4 tổng số thành viên có yêu cầu triệu tập hội đồng vì

lí do đặc biệt thì người đứng đầu phải triệu tập phiên họp bất thường Quyền trình dự án luật

về nguyên tắc thuộc về cả người đứng đầu cơ quan và các thành viên của hội đồng, tuy nhiên, trong một vài trường hợp, quyền này thuộc về hoặc là người đứng đầu hoặc là các thành viên của hội đồng tuỳ theo tính chất của các dự luật

b Cơ quan hành pháp của chính quyền

địa phương

Cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương bao gồm người đứng đầu cơ quan (chủ tịch cấp tỉnh; chủ tịch cấp cơ sở) và uỷ ban quản lí hành chính

- Người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương

Người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương là người đại diện cho

Trang 5

địa phương và được bầu cử trực tiếp bởi cư

dân địa phương Nhiệm kì hoạt động là 4

năm Người đứng đầu cơ quan hành pháp có

thể bị bãi nhiệm trước thời hạn nếu như

không đủ tư cách để bầu cử hoặc bị hội đồng

bỏ phiếu không tín nhiệm hoặc bị phản hồi

bởi cư dân Người đứng đầu bị cấm không

được là thành viên của hạ nghị viện hoặc

thượng nghị viện, thành viên của một hội

đồng địa phương khác, hoặc đang là cán bộ

thường xuyên ở một cơ quan địa phương

Đồng thời, người đứng đầu cơ quan hành

pháp bị cấm tham gia vào các mối quan hệ

hợp đồng với các cơ quan địa phương hoặc là

giám đốc của công ti (trừ những công ti được

thành lập bởi Chính phủ)

Người đứng đầu cơ quan hành pháp ở

địa phương có quyền điều hành, thay đổi

cho phù hợp tất cả những hoạt động của

địa phương nhằm đảm bảo tính liên tục và

có hiệu quả của hoạt động quản lí hành

chính Quyền chủ yếu của người đứng đầu

cơ quan hành pháp là:

+ Ban hành ra các quy định để giải quyết

các vấn đề của địa phương

+ Chuẩn bị kế hoạch và thực hiện ngân sách

+ Quy định về các mức thuế và việc thu thuế

+ Quy định các vấn đề về phí và lệ phí,

quy định mức xử phạt hành chính

+ Kiểm kê, quản lí và hủy bỏ các vấn đề

về tài sản

+ Thành lập, tổ chức hoạt động và hủy bỏ

việc sử dụng các phương tiện công cộng

+ Đệ trình các vấn đề liên quan đến

tài khoản, thống kê, xin chứng nhận của

hội đồng

- Với tư cách là cơ quan bổ trợ của người

điều hành, có một cấp phó, một kế toán trưởng (trong trường hợp ở cấp tỉnh) hoặc người quản lí kho bạc (trong trường hợp ở cấp cơ sở) và những quan chức khác Số lượng của cấp phó có thể tăng lên theo quy định của luật địa phương

- Uỷ ban hành chính Đối với cấp tỉnh, các uỷ ban quản lí hành chính trong các lĩnh vực được thành lập như:

Uỷ ban giáo dục, uỷ ban bầu cử, uỷ ban nhân

sự, kiểm toán, uỷ ban an toàn công cộng, uỷ ban lao động, uỷ ban thăm dò và khai thác,

uỷ ban hàng hải, uỷ ban quản lí các vấn đề nông, lâm, ngư nghiệp…

Đối với cấp quận, thị trấn, các uỷ ban được thành lập như: Uỷ ban giáo dục, uỷ ban bầu cử; uỷ ban nhân sự, kiểm toán, uỷ ban nông nghiệp và uỷ ban kiểm tra đánh giá chất lượng…

c Mối quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan hành pháp và hội đồng địa phương Người đứng đầu cơ quan hành pháp và hội đồng độc lập với nhau và thực hiện nhiệm vụ một cách bình đẳng Nếu có sự khác nhau về mặt quan điểm giữa các bên thì sẽ áp dụng các biện pháp thương lượng được gọi là “xem xét lại nghị quyết của hội đồng” và “nghị quyết về bất tín nhiệm và giải thể hội đồng”

Xem xét lại nghị quyết của hội đồng là thủ tục trong đó người đứng đầu cơ quan hành pháp trả lại nghị quyết của hội đồng do

có sự phản đối về vấn đề liên quan đến việc ban hành, sửa đổi và huỷ bỏ luật địa phương, hoặc liên quan đến ngân sách, yêu cầu phải xem xét lại

Nghị quyết về bãi nhiệm hội đồng yêu

Trang 6

cầu phải được 3/4 các thành viên tham gia bỏ

phiếu tán thành (với điều kiện phải có 2/3

tổng số thành viên tham gia) Nếu Nghị

quyết này được thông qua, người đứng đầu

cơ quan hành pháp sẽ giải tán hội đồng

nhưng nếu người đứng đầu cơ quan hành

pháp trong vòng 10 ngày không giải tán hội

đồng sẽ mất đi quyền này

3 Nhiệm vụ quản lí hành chính của cơ

quan địa phương trong một số lĩnh vực

Hành chính ở Nhật Bản được hiểu bao

gồm: Hành chính quốc gia được đặt dưới sự

chỉ đạo trực tiếp của chính quyền trung ương

và hành chính địa phương được đặt dưới sự

chỉ đạo của chính quyền địa phương Trong

một vài lĩnh vực như quan hệ ngoại giao, lĩnh

vực hình sự và tố tụng được đặt dưới sự chỉ

đạo của chính quyền trung ương xét về bản

chất Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, dịch

vụ xã hội, vệ sinh môi trường và sức khoẻ,

lao động công ích, công nghiệp, phòng chữa

cháy và cảnh sát… liên quan chặt chẽ với đời

sống hàng ngày được chia sẻ với chính quyền

địa phương cấp tỉnh và cấp cơ sở

- Một số lĩnh vực quản lí của chính quyền

địa phương như sau:

- Giáo dục

Giáo dục là một trong những nhiệm vụ

quan trọng nhất của chính quyền địa

phương Hệ thống giáo dục hiện tại là hệ

thống 6 - 3 - 3 - 4 (trong đó 6 năm giáo dục

tiểu học, 3 năm trung học cơ sở, 3 năm phổ

thông trung học và 4 năm đại học), 9 năm

đầu là giáo dục bắt buộc Tổng chi phí của

chính quyền địa phương cho việc giáo dục

hàng năm khoảng hơn 40%

- Lao động công ích Việc chi tiêu cho lao động công ích ở địa phương hàng năm khoảng 22.616 tỉ yên trong

đó chi tiêu cho việc xây dựng đường xá, cầu cống chiếm xấp xỉ 1/3 tổng số, ngoài ra chi tiêu cho việc nạo vét sông, bờ biển Chiều dài tổng cộng của các con đường xuyên quốc gia khoảng 53.000km, các con đường của tỉnh là 123.000km và con đường của quận huyện là 934.000km Hơn 90% dân số của Nhật Bản sống ở trong các khu vực mà Luật về kế hoạch phát triển thành thị được thực hiện, do

đó những hoạt động xây dựng kế hoạch phát triển thành phố, thị trấn là nhiệm vụ chủ yếu của cấp cơ sở của Nhật Bản

- Phúc lợi xã hội Quản lí và phát triển phúc lợi xã hội là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm nâng cao sự quan tâm của cộng đồng tới người già, nâng cao mức sống và sức khoẻ của họ, phát triển tâm hồn và thể chất của thế hệ trẻ, giúp đỡ những người tàn tật và những người không có nơi nương tựa Việc chi phí cho phúc lợi xã hội hàng năm là 10.612 tỉ yên trong đó chiếm 6% là tổng chi phí là của cấp tỉnh, 17% là cấp

cơ sở Việc chi phí cho sức khoẻ của trẻ em chiếm 30% tổng quỹ phúc lợi xã hội, 28,1% phúc lợi cho người già và còn lại chi tiêu cho các việc trợ giúp công cộng, khắc phục thiệt hại do cháy nổ, động đất…

- Sức khoẻ và vệ sinh Trong lĩnh vực sức khoẻ và vệ sinh, chính phủ trung ương đảm đương nhiệm vụ tiến hành các cuộc kiểm tra chất lượng quốc gia đối với bác sĩ, y tá; cấp giấy phép cho việc sản xuất thuốc tân dược, các kế hoạch chung

Trang 7

và hướng dẫn thực hiện Còn lại phần lớn các

việc quản lí nhà nước về lĩnh vực y tế, sức

khoẻ vệ sinh đều liên quan chặt chẽ với cư

dân và được quản lí bởi chính quyền cấp tỉnh

và cấp quận huyện Các trung tâm sức khỏe

cộng đồng được thành lập ở các tỉnh, các

thành phố chỉ định loại I và II, các phường

đặc biệt ở Tokyo và số lượng hiện nay là

848 đơn vị Việc xử lí rác thải sinh hoạt là

nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, chi phí cho

việc xử lí này chiếm hơn một nửa tổng chi

tiêu của các cấp cơ sở đối với vấn đề sức

khoẻ và vệ sinh Cấp cơ sở có trách nhiệm

xử lí rác thải không phải rác thải công

nghiệp còn rác thải công nghiệp thuộc trách

nhiệm của các nhà sản xuất

- Công nghiệp

Thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông

nghiệp, thương mại bảo đảm công ăn việc

làm, phát triển thu nhập và mức sống của

người dân là những nhiệm vụ sống còn của

cơ quan địa phương Các chi phí này được

chia làm hai lĩnh vực chủ yếu:

Chi tiêu cho phát triển nông nghiệp, lâm

nghiệp, ngư nghiệp chiếm khoảng 6.213 tỉ

yên hàng năm, trong đó cấp tỉnh chi tiêu

gấp đôi so với cấp cơ sở

Chi tiêu cho công nghiệp và thương mại

chiếm 5.047 tỉ yên, trong đó xấp xỉ 2/3 là

các khoản cho vay và 7% là các khoản trợ

giúp Chính quyền địa phương trông đợi

vào việc thi hành các biện pháp đặc biệt để

hiện đại hoá các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

thu thuế từ các hoạt động này và thu phí từ

các dịch vụ tư vấn và nghiên cứu dự án

- Phòng cháy và cảnh sát

Trước chiến tranh thế giới II, Chính phủ chịu trách nhiệm về phòng cháy chữa cháy Sau chiến tranh trách nhiệm này chuyển cho chính quyền địa phương Trong trường hợp

có thảm họa tự nhiên và các dịch vụ cứu hoả đối với các thảm hoạ có quy mô lớn được gây ra bởi động đất, núi lửa và những tai nạn trong khu vực công nghiệp dầu mỏ nơi mà cấp cơ sở không có khả năng giải quyết thì có một mạng lưới hợp tác giữa các chính quyền địa phương

Trong lĩnh vực duy trì lực lượng cảnh sát, ở cấp trung ương, Chính phủ thành lập:

Uỷ ban an toàn công cộng quốc gia, người đứng đầu ủy ban này là bộ trưởng Dưới ủy ban này Cục cảnh sát quốc gia được thành lập có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch của hệ thống cảnh sát, tổ chức và cung cấp các hoạt động hợp tác giữa các tỉnh Mỗi tỉnh có một uỷ ban an toàn cộng đồng và một trụ sở cảnh sát, dưới đó có các đơn vị cảnh sát và các đồn cảnh sát (Koban) Trách nhiệm của phòng cảnh sát liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như: Điều tra tội phạm, ngăn ngừa việc phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên, đạo đức của cảnh sát, điều khiển giao thông

và hoạt động chống khủng bố

4 Mối quan hệ giữa chính phủ và chính quyền địa phương

Mặc dù chính quyền địa phương được thành lập bởi chính phủ nhưng chúng là những cơ quan tự trị và không phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền trung ương Vì vậy, mối quan hệ giữa chính phủ và chính quyền địa phương được xây dựng trên nguyên tắc hợp tác và đảm bảo mức can

Trang 8

thiệp tối thiểu của chính phủ đối với việc

quản lí ở địa phương, như đảm bảo duy trì

sự hoạt động thống nhất của nền hành chính

công và đảm bảo không vượt quá giới hạn

lập pháp Về cách thức can thiệp như thông

qua các văn bản pháp lí chính thức, sự chấp

thuận của chính quyền trung ương đối với

một vấn đề nào đó và việc đưa ra các tư

vấn, hướng dẫn, các trợ giúp về chuyên gia

và kĩ thuật

Nguyên tắc cơ bản là hoạt động quản lí

liên quan chặt chẽ tới đời sống hàng ngày

của cuộc sống cộng đồng thì đặt dưới sự chỉ

đạo của chính quyền địa phương Chính

quyền trung ương tập trung vào giải quyết

những lĩnh vực mà vượt ra khỏi khả năng

của chính quyền địa phương

Chính phủ hỗ trợ về mặt tài chính, đảm

bảo sự phát triển cân bằng giữa các vùng

trong quốc gia và duy trì mức chuẩn quốc

gia của dịch vụ hành chính Chính phủ chủ

động trong việc chỉ đạo và giám sát hoạt

động của chính quyền địa phương nhưng

cũng đảm bảo tính chủ động của địa

phương Người đứng đầu cơ quan hành

pháp và uỷ ban hành chính đóng vai trò

quan trọng trong các cơ quan của chính

phủ, trong việc xây dựng các chức năng

được nhà nước uỷ nhiệm và điều khiển hoạt

động theo định hướng của chính phủ

Đối với các vấn đề ở cấp cơ sở, quyền

lực và trách nhiệm giúp đỡ, chỉ đạo của

chính phủ, về nguyên tắc, được uỷ quyền

cho người đứng đầu cấp tỉnh

Sự giúp đỡ và tư vấn của chính phủ bao

gồm: Trợ giúp về mặt kĩ thuật: Cung cấp

các kĩ thuật hiện đại, các chuyên gia tư vấn, các lời khuyên; yêu cầu việc đệ trình số liệu

và thông tin; điều tra các lĩnh vực của quản

lí hành chính; báo cáo ngân sách và ban hành luật địa phương

Chính phủ thực hiện các quyền giám sát

về mặt tài chính như: Giám sát các lĩnh vực kinh doanh tài chính; chấp thuận các khoản

nợ của địa phương; chứng nhận việc đặt ra mức thuế mới

Chính phủ hỗ trợ về mặt tài chính như cấp phát các khoản viện trợ giúp đỡ; tính toán các khoản thuế thu nhập địa phương Chính phủ thực hiện quyền giám sát và huỷ bỏ các văn bản quản lí hành chính ở địa phương trái pháp luật

Chủ tịch cấp tỉnh trong quá trình thực thi nhiệm vụ với tư cách là đại diện của chính phủ trong mối liên hệ với việc thực hiện chức năng uỷ quyền nhà nước để tiến hành thực hiện hoạt động quản lí hành chính ở địa phương và đặt dưới sự giám sát của bộ trưởng

Cũng vậy, chủ tịch cấp cơ sở trong khi thực hiện nhiệm vụ là đại diện của chính phủ chịu sự giám sát chỉ đạo của bộ trưởng và các chủ tịch cấp tỉnh Chủ tịch tỉnh có thể đình chỉ bất kì văn bản nào của chủ tịch cấp

cơ sở liên quan đến các công việc của chính phủ hoặc của cấp tỉnh nếu như các văn bản

đó vi phạm các điều luật đã quy định./

(1).Xem: Điều 92 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 (2).Xem: Muroi Tsutomu, Giới thiệu Luật Hành chính Nhật Bản, (An introduction to administrative law), 28 (1999)

(3).Local Autonomy Law (Chiho Zichi ho), ban hành năm

Showa 22 (17/04/1947), được sửa đổi tháng 03/2000

Ngày đăng: 08/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w