1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Một số ý kiến trao đổi nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thương nhân " ppt

6 501 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 135,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu căn cứ vào dấu hiệu thương nhân quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật thương mại thì không phải mọi doanh nghiệp đều là thương nhân, bởi vì theo quy định của các đạo luật về doanh nghiệp

Trang 1

ThS NGuyÔn ThÞ V©n Anh * uật thương mại được Quốc hội nước ta

thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu

lực thi hành từ 1/1/1998 Sự ra đời của Luật

thương mại đã góp phần tạo nên sự đồng bộ

của các thể chế kinh tế thị trường ở Việt

Nam đồng thời mở rộng và thúc đẩy giao

lưu thương mại trong nước cũng như quốc

tế vì mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, sau hơn 6 năm thi hành, Luật

thương mại đã bộc lộ không ít những hạn

chế, bất cập như phạm vi điều chỉnh hẹp,

các quy định về thương nhân, về các hành

vi thương mại, về chế tài thương mại và

tranh chấp thương mại chưa đầy đủ còn

mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy

phạm pháp luật khác làm ảnh hưởng tới quy

mô phát triển và phạm vi các hoạt động

thương mại ở nước ta

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề

cập những hạn chế và đưa ra một số kiến

nghị có tính chất trao đổi nhằm góp phần

nghiên cứu hoàn thiện chế định rất quan

trọng của Luật thương mại hiện hành - chế

định thương nhân

1 Tương tự như pháp luật thương mại

của các nước trên thế giới, Luật thương mại

năm 1997 của Việt Nam xác định chủ thể

của các quan hệ thương mại là thương nhân

Điều 2 Luật thương mại hiện hành quy định

đối tượng áp dụng của luật là thương nhân

hoạt động thương mại tại Việt Nam; đối với những người buôn bán rong, quà vặt có vốn kinh doanh, doanh thu, thu nhập thấp thì Chính phủ ban hành quy chế riêng theo những nguyên tắc cơ bản của Luật này

Khoản 6 Điều 5 Luật thương mại quy định:

"Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng kí kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên"

Theo quy định trên, thương nhân phải

có đầy đủ 5 dấu hiệu cơ bản sau:

- Thương nhân phải tồn tại dưới dạng:

Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình;

- Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại;(1)

- Thương nhân phải hoạt động thương mại một cách độc lập;

- Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên;

- Thương nhân phải có đăng kí kinh doanh

Theo cách liệt kê các loại chủ thể và các dấu hiệu pháp lí kèm theo, Luật thương mại hiện hành đã xác định tương đối cụ thể về cơ cấu cũng như đặc điểm của thương nhân

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các quy định trên đã bộc lộ một số hạn chế sau:

Thứ nhất, Luật thương mại chưa bao

L

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

quát hết được những chủ thể mà trên thực tế

có thể coi là thương nhân

Theo quy định của Luật doanh nghiệp

năm 1999, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế

có đăng kí kinh doanh, được thành lập

nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, tiêu

thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ

trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Nếu

căn cứ vào dấu hiệu thương nhân quy định

tại khoản 6 Điều 5 Luật thương mại thì

không phải mọi doanh nghiệp đều là thương

nhân, bởi vì theo quy định của các đạo luật

về doanh nghiệp thì mọi doanh nghiệp đều

có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh

nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp

đều có đăng kí kinh doanh hoạt động

thương mại theo quy định của Luật thương

mại Ví dụ, một doanh nghiệp được cấp giấy

chứng nhận đăng kí kinh doanh hoạt động

trong lĩnh vực xây dựng thì sẽ không phải là

thương nhân bởi vì hoạt động này không

phải là hoạt động thương mại theo quy định

của Luật thương mại năm 1997 nên các giao

dịch kinh doanh của họ sẽ nằm ngoài phạm

vi điều chỉnh của Luật thương mại Do đó,

có thể nói các quy định về thương nhân

trong Luật thương mại không tương thích

và không gắn kết được với các quy định về

doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp,

Luật doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai, quy định về điều kiện trở thành

thương nhân và những trường hợp không

được công nhận là thương nhân (tại Điều

17, 18 Luật thương mại năm 1997) là chưa

phù hợp và mâu thuẫn với văn bản pháp

luật khác Điều 17 mới chỉ quy định điều

kiện về chủ thể để trở thành thương nhân

chứ chưa quy định các điều kiện khác Theo Luật thương mại, thương nhân phải là chủ thể có đăng kí hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên nhưng lại không giải thích rõ thế nào là hoạt động độc lập, thế nào là hoạt động thường xuyên? Vì vậy, nếu căn cứ vào quy định của Luật thương mại khó có thể xác định chính xác

và đầy đủ các chủ thể được coi là thương nhân Điều 18 chỉ quy định 3 trường hợp không được công nhận là thương nhân, bao gồm: Người không có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân

sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình

sự, người đang phải chấp hành hình phạt tù; người đang trong thời gian bị toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật Như vậy, Điều 18 mới chỉ quy định các trường hợp không thể trở thành thương nhân đối với cá nhân mà chưa quy định vấn đề đó đối với các loại hình thương nhân khác Mặt khác, ngay cả trong trường hợp thương nhân là cá nhân kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân thì quy định này cũng mâu thuẫn với quy định về quyền thành lập doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp tư nhân) Theo Điều 9 Luật doanh nghiệp năm

1999, ngoài các trường hợp không thể trở thành thương nhân quy định trong Luật thương mại thì 4 trường hợp sau cá nhân không được thành lập doanh nghiệp tư nhân tức là cũng không thể trở thành thương

Trang 3

nhân nếu muốn kinh doanh dưới hình thức

doanh nghiệp tư nhân Đó là:

- Cán bộ công chức theo quy định của

pháp luật về cán bộ, công chức;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên

nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ

quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ

quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các

cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

- Cán bộ lãnh đạo, quản lí nghiệp vụ

trong các doanh nghiệp nhà nước, trừ

những người được cử làm đại diện để quản

lí phần vốn góp của Nhà nước tại doanh

nghiệp khác;

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên

hợp danh của công ti hợp danh, giám đốc

(tổng giám đốc), chủ tịch và các thành viên

hội đồng quản trị, hội đồng thành viên của

doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không

được quyền thành lập doanh nghiệp trong

thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày

doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Thứ ba, một số chủ thể có đăng kí kinh

doanh thực hiện hoạt động thương mại

nhưng lại không thể trở thành thương nhân

theo Luật thương mại hiện hành

Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định 4

loại doanh nghiệp là đối tượng áp dụng của

Luật này, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân,

công ti hợp danh, công ti trách nhiệm hữu

hạn, công ti cổ phần Căn cứ vào các dấu

hiệu của thương nhân quy định tại khoản 5

Điều 6 Luật thương mại thì có ý kiến cho

rằng công ti hợp danh không phải là thương

nhân vì chúng không phải là cá nhân hay tổ

hợp tác, hộ gia đình, cũng không phải là

pháp nhân Từ đó, theo ý kiến này, kể từ

ngày 1/1/2000 các công ti hợp danh có đăng

kí kinh doanh thực hiện một hoặc một số hành vi thương mại quy định tại Điều 45 Luật thương mại cũng không được coi là thương nhân, không được hưởng các quy chế thương nhân theo quy định của Luật thương mại

Như vậy, nếu căn cứ vào Luật thương mại thì công ti hợp danh sẽ không thể là chủ thể tham gia các hoạt động trung gian thương mại như: Đại diện cho thương nhân, đại lí mua bán hàng hoá… vì Luật thương mại quy định chủ thể tham gia các hoạt động thương mại này bắt buộc cả hai bên đều phải là thương nhân.(2) Với lập luận như trên thì nếu công ti hợp danh là một bên tham gia hợp đồng đại diện cho thương nhân hoặc hợp đồng đại lí mua bán hàng hoá (trên thực tế là có) thì quan hệ hợp đồng đó không chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại mà chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự (nếu bên kia không phải là pháp nhân) hoặc Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (nếu bên kia là pháp nhân).(3) Do đó, có thể nói trong trường hợp này quy định của Luật thương mại đã không bắt kịp với sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Thứ tư, tổ hợp tác cũng không thể trở thành thương nhân theo pháp luật hiện hành Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật thương mại, tổ hợp tác là một trong những chủ thể có thể trở thành thương nhân tức là trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật thương mại Nhưng cũng tại điều này quy định tổ hợp tác phải đăng kí kinh doanh hoạt động thương mại thì mới có thể trở

Trang 4

thành thương nhân Điều 17 Luật thương

mại quy định: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên,

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp

nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều

kiện để kinh doanh thương mại theo quy

định, nếu có yêu cầu hoạt động thương mại

thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền

cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và

trở thành thương nhân Luật thương mại

không quy định các chủ thể này phải đăng

kí hoạt động thương mại ở đâu Tuy nhiên,

theo quy định của các văn bản pháp luật

khác thì các cá nhân là chủ doanh nghiệp tư

nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể và pháp

nhân là các loại hình doanh nghiệp như

công ti nhà nước, công ti trách nhiệm hữu

hạn, công ti cổ phần, hợp tác xã đăng kí

kinh doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh

có thẩm quyền, còn tổ hợp tác thì pháp luật

chưa quy định đăng kí kinh doanh ở đâu

Trong thực tế, tổ hợp tác không thực hiện

việc đăng kí kinh doanh để hoạt động

Như vậy, theo quy định tại khoản 6

Điều 5 Luật thương mại thì tổ hợp tác là

một trong các loại hình thương nhân

Nhưng nếu theo Điều 17 thì chủ thể này

không đủ các điều kiện để trở thành thương

nhân, mặc dù trên thực tế tổ hợp tác vẫn có

thể thực hiện các hành vi thương mại và trở

thành chủ thể của Luật thương mại Ngay

chính những quy định này trong Luật

thương mại đã tự phủ định lẫn nhau

Thứ năm, những vấn đề liên quan đến

đăng kí kinh doanh của thương nhân quy

định trong Luật thương mại là không cần

thiết, chồng chéo với các văn bản pháp luật

khác Cụ thể là Điều 20 quy định các nội

dung đăng kí kinh doanh, Điều 21 quy định việc cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, Điều 22 quy định công bố nội dung đăng kí kinh doanh, Điều 23 quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin về nội dung đăng kí kinh doanh Những quy định này trong thực tế đều không được áp dụng, bởi vì việc đăng kí kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được quy định rất cụ thể trong các văn bản pháp luật khác như: Luật hợp tác xã (đối với việc đăng kí thành lập HTX), Luật doanh nghiệp (đối với việc đăng kí thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh), Luật doanh nghiệp nhà nước (đối với việc thành lập công ti nhà nước) (4) Hiện nay, sau khi các chủ thể kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh theo quy định của các đạo luật về doanh nghiệp và thực hiện một hoặc một số hành vi thương mại quy định tại Điều 45 Luật thương mại thì họ nghiễm nhiên trở thành thương nhân mà chẳng cần phải đăng kí kinh doanh thương mại như quy định của Luật thương mại Như vậy, những quy định liên quan đến đăng kí kinh doanh cho thương nhân được quy định trong Luật thương mại là thừa và gây mâu thuẫn nếu coi đăng kí kinh doanh này cũng

là đăng kí kinh doanh (thành lập doanh nghiệp) theo quy định của các đạo luật về doanh nghiệp Hoặc sẽ là sự gây phiền hà

và phi thực tế nếu coi đây là loại đăng kí kinh doanh để trở thành thương nhân khác với đăng kí kinh doanh theo các đạo luật về doanh nghiệp, vì không thể cùng một lúc có hai loại đăng kí kinh doanh, một để thành

Trang 5

lập doanh nghiệp, một để trở thành thương

nhân Và trên thực tế thì việc đăng kí kinh

doanh theo quy định của Luật thương mại

đã không tồn tại

2 Quy định về thương nhân nước ngoài

hoạt động thương mại tại Việt Nam (từ

Điều 37 đến Điều 44 Luật thương mại)

cũng có một số điểm đáng lưu ý như sau:

Theo Luật thương mại hiện hành,

thương nhân nước ngoài chỉ được phép đặt

văn phòng đại diện hoặc mở chi nhánh tại

Việt Nam để kinh doanh những loại hàng

hoá mà Chính phủ Việt Nam cho phép trong

từng thời kì Theo danh mục hàng hoá, dịch

vụ được quy định kèm theo Nghị định số

45/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày

6/9/2000 thương nhân nước ngoài chỉ được

kinh doanh một số hàng hoá để xuất khẩu

và một số hàng hoá nhập khẩu để bán ở thị

trường Việt Nam Điều này mâu thuẫn với

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo

Luật đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước

ngoài (thương nhân nước ngoài) có thể đầu

tư kinh doanh tại Việt Nam dưới 3 hình

thức: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp

đồng hợp tác kinh doanh, thành lập doanh

nghiệp liên doanh, thành lập doanh nghiệp

100% vốn đầu tư nước ngoài Trong trường

hợp thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc

thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư

nước ngoài thì sau khi được cấp giấy phép

đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đó có tư cách pháp nhân Việt Nam và

là doanh nghiệp của Việt Nam Nhưng nếu

thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt

Nam theo hình thức hợp tác kinh doanh trên

cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh thì họ

vẫn kinh doanh độc lập với tư cách thương nhân nước ngoài Luật đầu tư nước ngoài rất ít hạn chế những lĩnh vực mà các nhà đầu tư bị cấm kinh doanh Như vậy, hiện tại trong quan hệ thương mại thì có nhiều ngành nghề, mặt hàng thương nhân nước ngoài được kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài nhưng sẽ không được kinh doanh theo Luật thương mại và Nghị định

số 45/2000/NĐ-CP Ví dụ như kinh doanh mua bán hàng công nghiệp để phục vụ sản xuất hoặc mua hàng hoá tại Việt Nam để bán tại thị trường Việt Nam

3 Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi nên xem xét, sửa đổi những vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xác định lại khái niệm thương nhân, tránh việc liệt kê các chủ thể

cụ thể Việc liệt kê này đã làm cho quy định thiếu tính bao quát, cứng nhắc, không tạo sự linh hoạt cho việc áp dụng và đón bắt các đối tượng hay tình huống mới xuất hiện trong kinh doanh trên thị trường Cụm từ

“độc lập, thường xuyên” cũng tạo nên sự phức tạp vì lại phải định nghĩa các khái niệm này, hơn nữa chính các khái niệm này

sẽ hạn chế phạm vi áp dụng của Luật thương mại Bởi vì trong thực tế có người kinh doanh do tính chất lĩnh vực hoạt động hay tính chất của hàng hoá mà chỉ hoạt động theo mùa, vụ thì có gọi là thương nhân không? Mặt khác, quy định thương nhân phải có đăng kí kinh doanh thương mại là chưa hợp lí như đã phân tích ở trên Vì vậy,

để tránh gây tranh cãi và tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng luật, pháp luật nên đưa ra định nghĩa về thương nhân vừa mang tính khái quát cao vừa thể hiện đặc tính

Trang 6

riêng của thương nhân là những đối tượng

có thực hiện hành vi thương mại

Thứ hai, cần xác định lại khái niệm

hành vi thương mại Theo Luật thương mại

hiện hành, hành vi thương mại chỉ là bao

gồm hành vi mua bán hàng hoá và các dịch

vụ liên quan đến mua bán hàng hoá Cách

hiểu hành vi thương mại như vậy là quá hẹp

không phù hợp với pháp luật thương mại

quốc tế, làm hạn chế các chủ thể kinh doanh

có thể trở thành thương nhân

Thứ ba, nếu hiểu thương mại theo

nghĩa rộng, bao gồm không chỉ thương mại

hàng hoá, thương mại dịch vụ mà cả thương

mại trong đầu tư và sở hữu trí tuệ thì tất cả

các chủ thể kinh doanh hợp pháp (có đăng

kí kinh doanh) đều là thương nhân Do đó,

nên bỏ quy định tại Điều 17 (về điều kiện

trở thành thương nhân) và bỏ quy định tại

Điều 18 (về các trường hợp không được

công nhận là thương nhân) vì những đối

tượng không thể thành lập các loại hình

doanh nghiệp hay các chủ thể kinh doanh

khác thì cũng không thể trở thành thương

nhân mà các đối tượng này đã được quy

định trong các đạo luật về doanh nghiệp

Thứ tư, bỏ các quy định liên quan đến

đăng kí kinh doanh cho thương nhân như

quy định về nội dung đăng kí kinh doanh,

về cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh,

về công bố nội dung đăng kí kinh doanh, về

cung cấp thông tin về nội dung đăng kí kinh

doanh (từ Điều 19 đến Điều 23 Luật thương

mại) vì các quy định này không có giá trị

thực thi Trong thực tiễn các thương nhân

đều là các chủ thể kinh doanh và đã có văn

bản pháp luật khác quy định về việc đăng kí

kinh doanh của từng loại chủ thể như đã phân tích ở phần trên

Thứ năm, cần mở rộng các hình thức

hiện diện thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cho phù hợp với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cụ thể, thương nhân (nhà đầu tư) nước ngoài có thể thực hiện các hoạt động thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức: Công ti 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh; chi nhánh; văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài; hoặc hoạt động theo hợp đồng

vụ việc

Thứ sáu, cần thống nhất các quy định về danh mục hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh cho tương thích với pháp luật đầu tư nước ngoài, tránh

sự mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật như đã phân tích ở phần trên để tạo điều kiện khuyến khích thương nhân nước ngoài đầu tư kinh doanh tại Việt Nam./

(1).Xem: Khoản 2 Điều 5 Luật thương mại

(2).Xem: Điều 83, Điều 112 Luật thương mại (3) Hiện nay pháp luật thực định vẫn có sự phân biệt 2 chủng loại hợp đồng: Hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự

(4) - Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thì công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, công ti nhà nước đăng kí kinh doanh tại phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

- Theo Điều 14 Luật hợp tác xã năm 2003, hợp tác

xã có thể đăng kí kinh doanh tại phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh hoặc phòng đăng kí kinh doanh cấp huyện tuỳ theo sự lựa chọn của hợp tác xã

Ngày đăng: 08/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w