nghiên cứu - trao đổi hoản 2 Điều 27 Luật hụn nhõn và gia đỡnh HN&GĐ năm 2000 cú quy định: "Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà phỏp luật quy định phải đăng kớ
Trang 1nghiên cứu - trao đổi
hoản 2 Điều 27 Luật hụn nhõn và gia
đỡnh (HN&GĐ) năm 2000 cú quy định:
"Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng mà phỏp luật quy định phải
đăng kớ quyền sở hữu thỡ trong giấy chứng
nhận quyền sở hữu phải ghi tờn của cả vợ
Luật HN&GĐ trước đõy, thể hiện một bước
tiến trong việc bảo vệ quyền lợi hợp phỏp của
cỏc thành viờn trong gia đỡnh Tuy nhiờn, trong
quỏ trỡnh nghiờn cứu và ỏp dụng quy định này
và những quy định hướng dẫn thi hành đó nảy
sinh một số vấn đề mà theo chỳng tụi cần phải
cú sự bàn luận để cú nhận thức đỳng đắn,
thống nhất
1 í nghĩa của việc quy định
Vợ chồng bỡnh đẳng là một trong những
nguyờn tắc cơ bản của Luật HN&GĐ Việt
Nam Vợ chồng khụng chỉ bỡnh đẳng với nhau
về cỏc quyền và nghĩa vụ nhõn thõn mà cũn cả
về cỏc quyền và nghĩa vụ tài sản
Xỏc định tài sản chung, tài sản riờng của
vợ chồng là một việc làm rất phức tạp Trong
thực tiễn giải quyết những ỏn kiện về hụn nhõn
và gia đỡnh đó chỉ ra cho chỳng ta thấy cú
những vụ việc phải kộo dài qua nhiều cấp xột
xử nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại do
xỏc định tài sản chung, riờng chưa thoả đỏng
Sự khú khăn phức tạp này do nhiều nguyờn
nhõn, trong đú cú nguyờn nhõn từ chớnh tớnh
chất thực tế của cỏc quan hệ hụn nhõn và gia
đỡnh Khỏc với những quan loại quan hệ xó hội
khỏc, việc thực hiện cỏc quan hệ hụn nhõn và gia đỡnh chịu sự chi phối bởi yếu tố tỡnh cảm Vấn đề tài sản của vợ và chồng cũng vậy Luật HN&GĐ đó quy định cỏc căn cứ xỏc định tài sản chung và tài sản riờng của vợ chồng nhưng khụng phải khi nào chỳng ta cũng dễ ràng xỏc định được đõu là tài sản chung, đõu là tài sản riờng của vợ, của chồng Khi vợ chồng chung sống với nhau bỡnh thường, họ thường khụng
cú sự phõn biệt rạch rũi giữa tài sản chung và tài sản riờng Trong thời kỡ hụn nhõn, vợ, chồng cú được những tài sản từ nhiều nguồn, trong đú cú những tài sản riờng nhưng vợ,
chồng khụng tạo ra sự rừ ràng về tài sản Vớ dụ: Sau khi được người anh ruột của mỡnh cho riờng một khoản tiền, người chồng đó đi mua một chiếc xe mỏy để thuận tiện cho việc
đi lại Khi đú, người chồng khụng lập văn bản thể hiện rừ nguồn gốc của chiếc xe Khi li hụn, người vợ khụng thừa nhận đú là tài sản
mà người chồng cú được do được cho riờng
và núi đú là tài sản chung của vợ chồng đồng thời người chồng cũng khụng thể chứng minh được chiếc xe mỏy cú nguồn gốc từ tài sản được cho riờng nờn toà ỏn vẫn coi đú là tài sản chung của vợ chồng Trờn thực tế, những trường hợp tương tự như thế này xảy ra khỏ phổ biến Đõy là trường hợp mà người chồng bị thiệt thũi về tài sản do khụng chứng minh được
K
* Giảng viờn Khoa luật dõn sự Trường đại học luật Hà Nội
ThS Bùi Minh Hồng *
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
về tài sản riờng
Do vậy, trong những trường hợp cú thể,
việc tạo ra những chứng cứ để xỏc định tài sản
chung, riờng của vợ chồng là cần thiết Sự rừ
ràng về tài sản được hiểu và thực hiện đỳng
khụng làm tổn hại đến tỡnh cảm vợ chồng mà
ngược lại nú củng cố hơn mối quan hệ vợ
chồng trờn cơ sở bỡnh đẳng, tụn trọng lẫn
nhau Quy định cần ghi tờn của cả vợ và chồng
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
chung là nhằm mục đớch đú
Việc ghi tờn cả hai vợ chồng trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu tài sản cũn cú ý
nghĩa đảm bảo tớnh hợp phỏp của những giao
dịch dõn sự giữa vợ chồng với người thứ ba
Sự rừ ràng về chủ sở hữu tài sản giỳp cho
người thứ ba biết được giao dịch mà mỡnh
thực hiện với một bờn vợ hoặc chồng hay cả
hai bờn vợ chồng từ đú xỏc định được trỏch
nhiệm tài sản thuộc về ai
Ngoài ra, việc ghi tờn của cả hai vợ chồng
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu cũn cú ý
nghĩa thể hiện sự bỡnh đẳng giữa vợ và chồng
trong quỏ trỡnh chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung Vợ chồng cảm thấy được tụn
trọng khụng chỉ ở thực tế chi phối tài sản mà
cũn ngay cả trờn chứng thư phỏp lớ do cơ quan
nhà nước cú thẩm quyền cấp
2 Những vấn đề cần trao đổi
Luật HN&GĐ năm 2000 được thi hành đó
gần 3 năm Nhiều quy định của Luật đó đi vào
thực tế cuộc sống Tuy nhiờn, qua tỡm hiểu
thực tế cũng như nghiờn cứu thực tiễn xột xử ở
cỏc toà ỏn, chỳng tụi nhận thấy quy định về
vấn đề ghi tờn của cả hai vợ chồng trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung ớt
được thực hiện Ngay cả đối với những tài sản
cú giỏ trị rất lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất,
khụng phải khi nào vợ chồng cũng đều yờu cầu cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản ghi tờn cả hai vợ chồng, thậm chớ
cú khụng ớt trường hợp vợ chồng cũng chẳng cần làm cỏc thủ tục để đăng kớ quyền sở hữu tài sản Đối với những tài sản khỏc (xe mỏy, ụ tụ…) thỡ trong hầu hết cỏc trường hợp đăng kớ quyền sở hữu tài sản chỉ ghi tờn một bờn vợ hoặc chồng Bản chất của quan hệ vợ chồng là quan hệ tỡnh cảm, yếu tố này chi phối quỏ trỡnh vợ, chồng thực hiện cỏc hành vi về tài sản Thờm vào đú, với nếp sống duy tỡnh đó làm cho vợ chồng gặp khú khăn khi muốn xử
sự theo lớ trớ để rừ ràng về tài sản Những việc làm để giỏm sỏt hành vi của vợ (chồng) mỡnh hoặc đề nghị họ kớ vào văn bản để trỏnh những rắc rối giữa hai bờn thường là khụng phự hợp với tỡnh cảm vợ chồng nờn họ khú cú thể thực hiện được Đõy chớnh là nguyờn nhõn căn bản dẫn đến tỡnh trạng cũn nhiều trường hợp, vợ chồng khụng cựng được ghi tờn trong giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản Thụng thường khi vợ chồng cũn "xuụi chốo, mỏt mỏi", điều đú là hết sức bỡnh thường nhưng khi cú mõu thuẫn liờn quan đến tài sản, thậm chớ yờu cầu li hụn thỡ vợ chồng mới thấy hết được sự cần thiết của sự minh bạch về tài sản Việc yờu cầu vợ và chồng ghi tờn trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung
cú ý nghĩa trỏnh được những khú khăn khụng đỏng cú trong quỏ trỡnh giải quyết cỏc ỏn kiện
về hụn nhõn và gia đỡnh, điều đú cũng cú nghĩa là để xỏc định tài sản là chung hay riờng chỉ cần căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do cơ quan cú thẩm quyền cấp (đối với những tài sản mà phỏp luật quy định phải đăng kớ quyền sở hữu) Nếu trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tờn một bờn vợ
Trang 3nghiên cứu - trao đổi
hoặc chồng thỡ vợ hoặc chồng đú là chủ sở
hữu tài sản Tuy nhiờn, trong Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000, Hội
đồng thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn tối cao lại cú
hướng dẫn: "…trong giấy chứng nhận quyền
sở hữu chỉ ghi tờn vợ hoặc chồng nếu cú tranh
chấp là tài sản riờng thỡ người cú tờn trong
giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng
minh được tài sản này do được thừa kế riờng,
được tặng cho riờng trong thời kỡ hụn nhõn
hoặc tài sản này cú được từ nguồn tài sản riờng
rằng hướng dẫn của Hội đồng thẩm phỏn Tũa
ỏn nhõn dõn tối cao đó hạn chế ý nghĩa của quy
định tại khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ Bởi vỡ,
giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản là chứng
thư phỏp lớ xỏc định tư cỏch sở hữu chủ, người
được ghi trong giấy tờ đú khụng cú nghĩa vụ
phải chứng minh mỡnh là chủ sở hữu tài sản
nữa Người vợ (chồng) cho rằng chồng (vợ)
mỡnh được ghi trong giấy chứng nhận quyền sở
hữu tài sản khụng phải là chủ sở hữu riờng tài
sản thỡ phải chứng minh về điều đú
Theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày
03/10/2001 của Chớnh phủ quy định chi tiết thi
hành Luật HN&GĐ năm 2000 thỡ việc đăng kớ
cỏc tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng phải ghi tờn của cả vợ và chồng
theo Luật HN&GĐ năm 2000 được thực hiện
từ ngày 18/10/2001 Đối với những trường
hợp việc đăng kớ tài sản đó thực hiện trước
ngày 18/10/2001 mà chỉ ghi tờn một bờn vợ
hoặc chồng thỡ vợ chồng cú thể yờu cầu cơ
quan nhà nước cú thẩm quyền cấp lại giấy tờ
đăng kớ quyền sở hữu tài sản đú để ghi tờn của
cả vợ và chồng; nếu vợ chồng khụng yờu cầu
cấp lại giấy tờ đăng kớ quyền sở hữu tài sản thỡ
tài sản đú vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng; nếu cú tranh chấp, bờn nào cho rằng đú
là tài sản riờng của mỡnh thỡ phải chứng minh Nghị định số 70 của Chớnh phủ đó cú những quy định cụ thể, hợp lớ và phự hợp với tinh thần của khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 Theo chỳng tụi, đõy chớnh là nội dung bổ khuyết cho Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn tối cao và cần được cỏc toà ỏn ỏp dụng trong quỏ trỡnh giải quyết cỏc ỏn kiện liờn quan Điều này cú nghĩa là vợ chồng cần phải biết quy định của Luật HN&GĐ, cần tụn trọng nhau và thực hiện việc ghi tờn của cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung Đõy là cơ sở để toà ỏn xỏc định tài sản chung hay tài sản riờng của vợ chồng khi cú tranh chấp xảy ra Người vợ hoặc chồng được ghi tờn trong giấy tờ đăng kớ quyền sở hữu tài sản chỉ phải đưa ra chứng cứ chứng minh về tài sản riờng của mỡnh trong trường hợp việc đăng
kớ tài sản được thực hiện trước ngày Nghị định
số 70 của Chớnh phủ cú hiệu lực (từ ngày 18/10/2001) Tuy nhiờn, khi quy định về vấn
đề này, Nghị định số 70 lại cú nội dung chưa phự hợp với khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 là quy định việc ghi tờn của cả hai
vợ chồng trong giấy tờ đăng kớ quyền sở hữu tài sản chung được thực hiện từ ngày Nghị định cú hiệu lực, trong khi đú Luật HN&GĐ
đó cú hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 Theo chỳng tụi, quy định tại khoản 2, khoản
3 Điều 5 Nghị định số 70 của Chớnh phủ về thời điểm thực hiện việc ghi tờn cả hai vợ chồng trong giấy tờ đăng kớ tài sản chung của
họ cần được sửa lại theo ngày Luật HN&GĐ năm 2000 cú hiệu lực./