nguyÔn ngäc hoµ *ặc dù dấu hiệu lỗi có ý nghĩa rất quan trọng nhưng trong Bộ luật hình sự BLHS, dấu hiệu này hầu như không được phản ánh trong các cấu thành tội phạm CTTP.1 Trong tổng số
Trang 1pgs.ts nguyÔn ngäc hoµ *
ặc dù dấu hiệu lỗi có ý nghĩa rất quan
trọng nhưng trong Bộ luật hình sự
(BLHS), dấu hiệu này hầu như không được
phản ánh trong các cấu thành tội phạm
(CTTP).(1) Trong tổng số 270 CTTP được
quy định trong BLHS chỉ có 20 CTTP thể
hiện rõ dấu hiệu lỗi là cố ý hoặc vô ý(2) và 6
CTTP khác có nội dung thể hiện gián tiếp
dấu hiệu lỗi là cố ý trực tiếp.(3) Trong tất cả
các CTTP còn lại đều không có sự mô tả loại
lỗi là cố ý hay vô ý Việc xác định này hoàn
toàn thuộc về cơ quan giải thích, cơ quan áp
dụng cũng như người nghiên cứu luật hình
sự Trong thực tế, việc xác định của các cơ
quan cũng như cá nhân về dấu hiệu lỗi trong
CTTP không xuất phát từ nguyên tắc chung,
không dựa vào nội dung mô tả của CTTP mà
hoàn toàn phụ thuộc vào cách hiểu tội phạm
theo thực tiễn xét xử Điều này cũng có lí do
là bản thân cơ quan lập pháp khi xây dựng
CTTP cũng đã không theo nguyên tắc chung
Nếu dựa vào CTTP để xác định dấu hiệu lỗi
thì có thể lại không đúng với ý định của nhà
làm luật cũng như với thực tiễn
Như vậy, trong việc mô tả và hiểu dấu
hiệu lỗi trong CTTP có sự không thống nhất
giữa ý định của nhà làm luật với cách thức
thể hiện, giữa sự mô tả trong luật với cách
hiểu của các cơ quan và cá nhân trong thực
tiễn áp dụng cũng như nghiên cứu luật
Luật hình sự quy định hai loại tội là tội
cố ý và tội vô ý Nhưng đối tượng chủ yếu
và trước hết của luật hình sự là các tội phạm
cố ý Trong BLHS Việt Nam nói riêng cũng như các bộ luật hình sự các nước nói chung,
số tội cố ý được quy định luôn chiếm đa số Nhiều hành vi của các tội phạm cố ý đã tự thể hiện dấu hiệu lỗi cố ý như hành vi dùng
vũ lực, hành vi lừa dối, hành vi đe doạ v.v Hơn nữa, khi dấu hiệu lỗi không được mô tả trong CTTP thì phải hiểu lỗi của tội được mô
tả trong CTTP đó là lỗi cố ý Với những lí do như vậy, dấu hiệu lỗi cố ý có thể không được
mô tả trong các CTTP nhưng các CTTP bắt buộc phải mô tả dấu hiệu lỗi vô ý vì theo
nguyên tắc “ những hành vi do lỗi vô ý chỉ được coi là tội phạm khi điều luật quy định về
một cấu thành cụ thể có nói rõ điều đó”.(4)
Do tính quan trọng nên nguyên tắc này được quy định trực tiếp trong nhiều BLHS như BLHS CHLB Đức, BLHS Thuỵ Điển.(5) Như vậy, khi mô tả dấu hiệu lỗi trong CTTP cũng như khi giải thích, áp dụng dấu hiệu này của CTTP phải tuân thủ nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc lỗi vô ý phải được mô
tả rõ trong CTTP và khi dấu hiệu lỗi không được mô tả thì phải hiểu lỗi trong trường hợp đó là lỗi cố ý
M
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Khi CTTP không mô tả dấu hiệu lỗi thì
có các khả năng sau được đặt ra:
- Lỗi có thể là cố ý;
- Lỗi có thể là cố ý và vô ý;
- Lỗi có thể là vô ý
Trong các khả năng trên, chúng ta được
phép chọn khả năng nào?
Theo nguyên tắc “Mọi nghi ngờ về điều
luật đều phải được giải thích theo hướng có
lợi cho người phạm tội ”(6) thì chỉ có thể
giải thích dấu hiệu lỗi trong trường hợp
không được mô tả là lỗi cố ý Đây là lí do
giải thích tại sao luật hình sự phải thừa nhận
nguyên tắc “lỗi vô ý phải được mô tả rõ
trong CTTP và khi dấu hiệu lỗi không được
mô tả thì phải hiểu lỗi trong trường hợp đó là
lỗi cố ý”
Nghiên cứu thực trạng xây dựng, giải
thích và áp dụng luật hình sự ở Việt Nam
cho thấy các hoạt động này đều không xuất
phát từ nguyên tắc trên đây
Trong số 20 CTTP có mô tả dấu hiệu lỗi
có 12 CTTP mô tả lỗi cố ý và 8 CTTP mô tả
lỗi vô ý Tất cả các CTTP mô tả dấu hiệu lỗi
vô ý đều là các CTTP có quan hệ cặp với các
CTTP có dấu hiệu lỗi cố ý tương ứng Cụ
thể: CTTP tội vô ý làm chết người có quan
hệ cặp với CTTP tội giết người; CTTP tội vô
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác có quan hệ cặp với
CTTP tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác; CTTP tội
vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
có quan hệ cặp với CTTP tội huỷ hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản; CTTP tội vô ý làm
lộ bí mật nhà nước có quan hệ cặp với CTTP
tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; CTTP tội vô
ý làm lộ bí mật công tác có quan hệ cặp với CTTP tội cố ý làm lộ bí mật công tác; CTTP tội vô ý làm lộ bí mật quân sự có quan hệ cặp với CTTP tội cố ý làm lộ bí mật quân sự; CTTP tội vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự có quan
hệ cặp với tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự v.v Như vậy, nhà làm luật của chúng ta chỉ mô tả dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP có quan hệ cặp với CTTP cố ý, điều mà nhà làm luật không thể làm khác được Còn tất cả các CTTP vô ý khác đều không mô tả dấu hiệu lỗi - điều mà đáng lẽ nhà làm luật phải làm Nếu theo đúng nguyên tắc chung thì trong BLHS chỉ
có 8 CTTP vô ý và tất cả các CTTP không
mô tả dấu hiệu lỗi phải được hiểu là CTTP
cố ý Tất nhiên, việc giải thích, việc áp dụng luật không thể theo nguyên tắc chung đó khi xác định dấu hiệu lỗi trong CTTP Chính việc không theo nguyên tắc chung khi xây dựng các CTTP đã buộc cơ quan giải thích,
cơ quan áp dụng cũng như người áp dụng không theo nguyên tắc chung khi xác định dấu hiệu lỗi trong CTTP Việc xác định dấu hiệu lỗi trong hầu hết các CTTP của BLHS chỉ dựa trên quan niệm của thực tiễn xét xử
về lỗi của từng loại tội Đối với những tội phạm “quen biết” của thực tiễn xét xử như tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ v.v thì vấn đề xác định dấu hiệu lỗi không có khó khăn Trái lại, đối với những tội “mới” như tội gây ô nhiễm không khí v.v thì các ý kiến về dấu hiệu lỗi trong CTTP không phải luôn luôn thống nhất với nhau Trong nhiều trường hợp, do không có cơ sở xác định lỗi nên
Trang 3khung hình phạt đã được sử dụng để suy
đoán dấu hiệu lỗi trong CTTP tương ứng là
vô ý hay cố ý
Với phân tích trên chúng tôi cho rằng
việc hoàn thiện BLHS trong việc xây dựng
CTTP phải bắt đầu bằng việc mô tả dấu hiệu
lỗi trong tất cả các CTTP vô ý và trong các
CTTP cố ý có quan hệ cặp với CTTP vô ý
tương ứng (nếu không muốn mô tả dấu hiệu
này trong tất cả các CTTP) Khi BLHS đã
được hoàn thiện theo hướng này thì việc giải
thích, áp dụng luật sẽ không gặp khó khăn
trong nhận thức dấu hiệu lỗi của CTTP
Ngoài hạn chế có tính tổng thể đã nêu,
BLHS cũng còn nhiều hạn chế cụ thể khác
liên quan đến dấu hiệu lỗi trong CTTP
Hạn chế cần được nêu ra đầu tiên ở đây
là hạn chế trong việc đặt tội danh Việc đặt
tội danh đòi hỏi trước hết phải rõ ràng về
loại tội - cố ý hay vô ý Thực tế trong BLHS
còn nhiều tội danh thể hiện tính đa nghĩa về
tính chất lỗi - cố ý và vô ý Ví dụ: Tội gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác trong khi thi hành công vụ;
tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho
động vật, thực vật Ở hai tội danh này có thể
hiểu là cố ý gây thương tích cũng như cố ý
làm lây lan nhưng cũng có thể hiểu là vô ý
gây thương tích cũng như vô ý làm lây lan
Đối với những tội danh đa nghĩa về lỗi, nhà
làm luật cần sửa đổi để thể hiện rõ tội danh
đó thuộc tội cố ý hay vô ý Nhưng cũng cần
chú ý phải mô tả lỗi trong CTTP cho phù
hợp với tội danh đã xác định
Bên cạnh đó, những tội danh tuy đơn
nghĩa về lỗi nhưng lại có những hạn chế
khác Nhiều tội danh thể hiện là tội cố ý
nhưng giữa tội danh, sự mô tả của CTTP cũng như quy định của điều luật nói chung và cách hiểu, cách giải thích cũng như ý định của nhà làm luật không có sự thống nhất với nhau Có thể nêu ra ở đây một số CTTP thuộc loại này là CTTP tội bức tử, CTTP tội đua xe trái phép, CTTP tội hành nghề mê tín,
dị đoan, CTTP tội phá thai trái phép, CTTP tội cản trở giao thông đường bộ (đường thuỷ, đường sắt, đường không)
Tội bức tử, xét về bản chất là dạng đặc biệt của tội giết người, trong đó chủ thể đã
sử dụng chính nạn nhân như “công cụ sống”
để tự tước đoạt tính mạng của chính mình Xét về hình thức, tội danh bức tử thể hiện rõ lỗi của tội này là lỗi cố ý Về kĩ thuật lập pháp, sự mô tả trong CTTP cũng thể hiện dấu hiệu lỗi là lỗi cố ý Thế nhưng từ trước đến nay, trong giải thích của cơ quan xét xử thì dấu hiệu lỗi trong CTTP này là lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý.(7) Để đảm bảo tính thống nhất chúng ta phải hiểu dấu hiệu lỗi trong CTTP tội bức tử là lỗi cố ý - cố ý đối với hành vi đối xử tàn ác và đối với cả hậu quả tự sát của nạn nhân Chúng ta có thể xem xét lại các khung hình phạt để điều chỉnh cho phù hợp và có thể coi việc nạn nhân chết là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng Trường hợp người có hành vi đối
xử tàn ác chỉ có lỗi vô ý với hậu quả tự sát của nạn nhân thì không thuộc phạm vi của tội này mà cấu thành tội hành hạ người khác Tuy nhiên, cần phải bổ sung dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng cho tội này là dấu hiệu “vô ý làm nạn nhân tự sát”
Tội đua xe trái phép mới được quy định trong BLHS năm 1999 Tội danh này thể
Trang 4hiện là tội cố ý Nếu theo nguyên tắc chung
để giải thích thì dấu hiệu lỗi trong CTTP tội
này cũng là lỗi cố ý Nhưng theo cách hiểu
của chúng ta hiện nay và đối chiếu khung
hình phạt của tội này với khung hình phạt
của tội cố ý gây thương tích thì lỗi của chủ
thể đối với hậu quả thương tích ở tội này chỉ
có thể là lỗi vô ý Như vậy, tội đua xe trái
phép có hai CTTP - một CTTP là CTTP vật
chất và lỗi là lỗi vô ý và một CTTP là CTTP
hình thức và lỗi là lỗi cố ý Để đảm bảo tính
thống nhất chúng tôi cho rằng nên giữ
nguyên tội danh là tội đua xe trái phép và
phải hiểu tội này là tội cố ý Nhưng trong
CTTP phải bỏ dấu hiệu (vô ý gây) hậu quả
và bỏ cả dấu hiệu đặc biệt về nhân thân
Những dấu hiệu này cần được quy định là
dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng
Tội hành nghề mê tín, dị đoan trước đây
có tên gọi là tội hành nghề mê tín, dị đoan
gây hậu quả nghiêm trọng Sự thay đổi này là
do trong CTTP có thêm dấu hiệu thay thế cho
dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu về
nhân thân xấu của chủ thể Hai tội danh này
thể hiện hai nội dung khác nhau Tội danh
hành nghề mê tín, dị đoan thể hiện nội dung
của tội này là việc hành nghề mê tín, dị đoan
và lỗi trong việc này chỉ có thể là cố ý; trái
lại, tội danh hành nghề mê tín, dị đoan gây
hậu quả nghiêm trọng thể hiện nội dung của
tội này là việc (vô ý) gây hậu quả nghiêm
trọng do hành nghề mê tín, dị đoan Cách
quy định và cách hiểu tội hành nghề mê tín,
dị đoan trong BLHS hiện nay cũng tương tự
như cách quy định và cách hiểu tội đua xe
trái phép nói trên Do vậy, chúng tôi đề nghị
cần sửa tội này theo hướng quay về tội danh
trước đây (tội hành nghề mê tín, dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng) và trong CTTP bỏ dấu hiệu về nhân thân xấu nhưng bổ sung thêm tập hợp từ “vô ý” trước tập hợp từ “gây hậu quả nghiêm trọng”
Đối với tội phá thai trái phép cũng như đối với các tội cản trở giao thông thì cách giải quyết cũng tương tự như đối với tội hành nghề mê tín, dị đoan nói trên
Một hạn chế khác là hạn chế trong giải thích và hiểu luật liên quan đến dấu hiệu lỗi Theo nguyên tắc chung, trong CTTP tội
cố ý, dấu hiệu lỗi cố ý bao trùm tất cả các dấu hiệu khác như dấu hiệu hành vi, dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu về đặc điểm của đối tượng (nạn nhân hoặc người bị hại) v.v nhưng trong thực tế hiểu và giải thích luật thì điều này đã không được chú ý Biểu hiện rõ nhất là ở các CTTP tội cố ý trong đó mô tả đặc điểm nhất định của đối tượng như CTTP tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS), CTTP tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS), CTTP tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS) v.v Ở các tội phạm này, đặc điểm của đối tượng (trẻ em, người chưa thành niên) là dấu hiệu ảnh hưởng có tính quyết định đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Lỗi cố ý của chủ thể đòi hỏi phải bao trùm cả đặc điểm này Điều
đó có nghĩa chủ thể phải biết đặc điểm này Tất nhiên, việc chứng minh điều này cũng phức tạp nhưng không thể vì phức tạp mà bỏ qua không cần chứng minh lỗi cố ý của chủ thể đối với đặc điểm này của đối tượng Trong BLHS, các tội danh thể hiện là tội
vô ý là các tội danh có thể bắt đầu bằng tập hợp từ “tội vô ý ”, “tội vi phạm quy định
Trang 5về ”, “tội thiếu trỏch nhiệm ” Trong đú
cỏc tội danh loại thứ hai chiếm số đụng
Trước đõy, ở cỏc tội danh này cũng như ở
một số tội danh khỏc thuộc tội vụ ý đều cú
đuụi gõy hậu quả nghiờm trọng Từ khi
chỳng ta cho thờm vào cỏc CTTP dấu hiệu
thay thế cho dấu hiệu hậu quả nghiờm trọng
là dấu hiệu về nhõn thõn xấu của chủ thể thỡ
cỏc đuụi này bị bỏ đi cho phự hợp với sự mụ
tả trong CTTP Để đảm bảo tớnh thống nhất
và tớnh rừ ràng, chỳng tụi cho rằng cần lấy
lại tội danh như trước đõy và trong cỏc
CTTP phải bỏ dấu hiệu về nhõn thõn xấu của
chủ thể cũng như phải thờm dấu hiệu lỗi vụ ý
trước tập hợp từ gõy hậu quả /
(1) CTTP trong bài viết này được giới hạn là CTTP
cơ bản
(2).Xem: Cỏc điều 98, 104, 105, 106, 108, 109, 117,
118, 143, 145, 165, 169, 224, 263, 264, 286, 287, 327,
328, 335 BLHS
(3).Xem: Cỏc điều 293, 294, 295, 296, 307, 314 BLHS
(4), (6).Xem: Đào Trớ Úc, Luật hỡnh sự Việt Nam,
Quyển 1, Nxb Khoa học xó hội, H 2000, tr 132, 426
(5).Xem: Điều 15 BLHS CHLB Đức quy định: Chỉ
hành vi cố ý mới bị xử phạt nếu luật khụng quy định
rừ hành vi vụ ý cũng bị xử phạt; Điều 2 BLHS Thuỵ
Điển quy định: Trừ khi cú quy định khỏc, một hành vi
được quy định trong Bộ luật này bị coi là tội phạm
nếu được thực hiện một cỏch cố ý
(7).Xem: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986
của Hội đồng thẩm phỏn TANDTC giải thớch mặt chủ
quan của tội bức tử: “ tội phạm được thực hiện do
cố ý; chủ thể nhận thức rừ hành vi của mỡnh cú thể
làm cho nạn nhõn tự sỏt, khụng mong muốn, nhưng
cú ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra (cố ý giỏn tiếp)
và cũng cú thể do cố ý về hành vi, vụ ý về hậu quả”.
(Hệ thống hoỏ cỏc văn bản cần thiết cho cụng tỏc kiểm
sỏt - Tập I Hỡnh sự, VKSNDTC 1991, tr 205) Theo đú
cỏc giỏo trỡnh giảng dạy hiện nay cũng đều giải thớch
như vậy
các quyền hiến định…
(Tiếp trang 26)
- Bảo đảm về phương diện phỏp luật thực định, gồm: Phỏp luật nội dung và phỏp luật hỡnh thức, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trờn cơ sở nhu cầu khỏch quan của xó hội Việt Nam hoặc cỏc cụng ước quốc tế mà Nhà nước Việt Nam kớ kết hay tham gia Phỏp luật nội dung xỏc lập quyền, nghĩa vụ của cụng dõn, nhà nước, cỏc tổ chức kinh tế và cỏc tổ chức chớnh trị -
xó hội trong lĩnh vực xó hội Cũn phỏp luật hỡnh thức quy định trỡnh tự, thủ tục, hỡnh thức thực hiện cỏc quyền và nghĩa vụ ấy
- Bảo đảm về mặt tổ chức và hoạt động của bộ mỏy nhà nước trong lĩnh vực quyền con người, quyền cụng dõn, gồm: Cơ cấu tổ chức bộ mỏy nhà nước núi chung, cơ cấu tổ chức cỏc cơ quan chuyờn trỏch những vấn đề kinh tế, văn hoỏ, khoa học, kĩ thuật, xó hội liờn quan tới cỏc quyền của cụng dõn; hoạt động phỏp luật của nhà nước trờn ba lĩnh vực xõy dựng phỏp luật, tổ chức thực hiện phỏp luật, bảo vệ phỏp luật nhằm bảo đảm cho cỏc quyền cụng dõn được thực hiện đỳng đắn
và đầy đủ trờn thực tế; hoạt động của cỏc cơ quan nhà nước trong trường hợp họ tham gia vào cỏc quan hệ phỏp luật cụ thể liờn quan tới việc thực hiện cỏc quyền của cụng dõn
- Bảo đảm về phương diện hoạt động của cỏc tổ chức kinh tế, tổ chức xó hội và của cụng dõn nhằm hiện thực hoỏ cỏc quyền cụng dõn./