1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định chung về thừa kế trong bộ luật dân sự " doc

8 743 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 224,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét về các quy định chung trong phần thừa kế Trong các quy định về thừa kế, những quy định chung đóng vai trò quan trọng, quy định về các nguyên tắc xử lí các vấn đề về thừa kế, x

Trang 1

ThS NguyÔn Minh TuÊn *

1 Nhận xét về các quy định chung trong

phần thừa kế

Trong các quy định về thừa kế, những quy

định chung đóng vai trò quan trọng, quy định

về các nguyên tắc xử lí các vấn đề về thừa kế,

xác định tư cách chủ thể của những người thừa

kế, là cơ sở để phân chia di sản theo di chúc và

theo pháp luật Những quy định chung đã phát

huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ thừa kế

phát sinh trước và sau khi Bộ luật dân sự

(BLDS) có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, qua

áp dụng để giải quyết các tranh chấp về thừa

kế, còn có một số bất cập cần phải sửa đổi, bổ

sung để các quy định này phù hợp với điều

kiện kinh tế-xã hội của nước ta

+ Về quyền thừa kế của cá nhân

Quan hệ thừa kế phát sinh kể từ thời điểm

mở thừa kế nên người được thừa kế theo di

chúc hoặc theo pháp luật có các quyền, nghĩa

vụ do pháp luật quy định Người thừa kế có

quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản Nếu

nhận di sản thì phải thực hiện nghĩa vụ của

người để lại thừa kế trong phạm vi di sản

nhận Như vậy, quyền thừa kế hiểu theo nghĩa

hẹp là quyền của cá nhân được thừa hưởng di

sản của người chết để lại Từ phân tích trên

đối chiếu với Điều 634 BLDS ta thấy có một

số bất cập sau

Điều 634 BLDS quy định: "Cá nhân có

quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của

mình, để lại tài sản của mình cho người thừa

kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật"

Theo điều luật trên, quyền thừa kế của cá nhân gồm có các quyền sau đây:

- Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác hưởng Theo quy định về giao dịch, hành vi lập di chúc là hành

vi pháp lí đơn phương của người có tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết Sự kiện chết là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của giao dịch này nên không thể coi việc lập di chúc là quyền thừa

kế của người có tài sản Vì khi lập di chúc chưa phát sinh quan hệ thừa kế Ngược lại, khi người lập di chúc chết mới phát sinh quan hệ thừa kế

- Quyền thừa kế của cá nhân là quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật Như đã phân tích ở phần trên, quyền được hưởng di sản của người thừa kế là quyền dân sự của cá nhân do pháp luật quy định Vì người có tài sản không định đoạt tài sản của mình trước khi chết nên pháp luật quy định những người có quan hệ gia đình với người chết sẽ được hưởng di sản theo một trình tự nhất định Do vậy, thừa kế theo pháp luật là quyền của cá nhân được hưởng di sản của người khác do pháp luật quy định mà không

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

phải là do người chết tạo cho người thừa kế

- Cá nhân có quyền hưởng di sản theo di

chúc hoặc theo pháp luật Khi mở thừa kế,

những người thừa kế của người chết có quyền

nhận hoặc từ chối nhận di sản của người chết

Đây chính là quyền thừa kế của cá nhân mà

pháp luật cần phải bảo hộ

Điều luật trên quy định quyền của cá nhân

trong việc lập di chúc để lại tài sản của mình

cho người khác và cá nhân có quyền hưởng di

sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Ngoài ra,

điều luật còn quy định cá nhân có quyền để lại

tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp

luật Trong điều luật này chưa xác định rõ quyền

thừa kế của cá nhân gồm những nội dung nào

Do vậy, đã quy định vượt quá giới hạn của

quan hệ thừa kế sang hệ giao dịch

+ Về quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Điều 635 quy định: "Mọi cá nhân đều bình

đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho

người khác và quyền hưởng di sản theo di

chúc hoặc theo pháp luật"

Trong điều luật này có hai ý, thứ nhất là cá

nhân có quyền định đoạt tài sản, thứ hai là cá

nhân có quyền hưởng di sản Tuy nhiên, ý thứ

nhất của điều luật này không thuộc phạm vi

điều chỉnh của quan hệ thừa kế như đã trình

bày về sự bất cập của Điều 634 ở phần trên

cho nên khi sửa Điều 634 thì phải sửa Điều

635 cho phù hợp

+ Về di sản

Điều 637 quy định:“1- Di sản bao gồm tài

sản riêng của người chết, phần tài sản của

người chết trong tài sản chung với người khác

2 Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản

thừa kế”

Theo quy định tại Điều 172 BLDS, tài sản

bao gồm vật có thực, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Như vậy, quyền sử dụng đất cũng là quyền tài sản hay cụ thể hơn

là tài sản Do đó, khoản 2 quy định quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế là không cần thiết Tuy nhiên, trước năm 1992, pháp luật quy định quyền sử dụng đất không là di sản thừa kế nên trong BLDS, Nhà nước ta muốn khẳng định quyền sử dụng đất được thừa kế theo quy định của BLSD và các quy định của Luật đất đai Đến nay, không cần thiết phải quy định riêng quyền sử dụng đất là

di sản thừa kế Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và được chuyển dịch nên nó cũng giống như các quyền tài sản khác là di sản thừa kế

Theo quy định của Điều 637 thì di sản còn thiếu một số loại tài sản Đó là những tài sản phát sinh sau khi người để lại thừa kế chết như tiền bồi thường thiệt hại khi người để lại thừa

kế có tham gia vào hợp đồng bảo hiểm tính mạng mà rủi ro bị chết Ngoài ra, các quyền, lợi ích hợp pháp của người để lại thừa kế trong các giao dịch cũng có thể là di sản thừa kế

+ Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết trong cùng một thời điểm

Điều 644 quy định những người có quyền thừa kế của nhau như vợ và chồng, cha, mẹ và các con, ông, bà và các cháu, anh chị em ruột với nhau Trong những trường hợp rủi ro như bão lụt, động đất, những người này không may chết cùng trong một tai nạn mà không thể xác định được người nào chết sau thì pháp luật suy đoán là họ chết cùng một thời điểm Mục đích của việc này nhằm không làm phát sinh quan

hệ thừa kế của họ với nhau, do vậy di sản của

Trang 3

mỗi người được chia cho những người thừa kế

của họ Trong thực tiễn có nhiều trường hợp

xảy ra sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người

thừa kế Ngược lại, nếu pháp luật cho phép họ

được thừa kế di sản của nhau thì sẽ dẫn đến

hậu quả là di sản của mỗi người được chia cho

người thừa kế của họ, trong đó có người thừa

kế đã chết cùng thời điểm và như vậy phải mở

thừa kế liên tục để chia di sản của mỗi người

cho nhau Phép chia này được thực hiện đến

vô cùng với số lượng di sản nhỏ đến vô cực

Cuối cùng sẽ không thể thực hiện được việc

chia di sản thừa kế của mỗi người cho những

người thừa kế theo pháp luật của họ Bởi lẽ đó,

pháp luật đã dự liệu trường hợp những người

có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một

thời điểm hoặc coi như chết cùng một thời

điểm thì không được thừa kế di sản của nhau

Tuy nhiên, quy định này sẽ ảnh hưởng rất lớn

đến việc thừa kế thế vị được quy định tại Điều

680 BLDS Hiện nay, vấn đề thừa kế thế vị có

nhiều quan điểm trái ngược nhau

Thứ nhất, nếu những người có quyền thừa

kế của nhau mà chết cùng một thời điểm hoặc

được coi là chết cùng một thời điểm thì không

có thừa kế thế vị Ví dụ như cha và con chết

cùng một thời điểm thì cháu không thế vị để

nhận di sản của ông Quan điểm này cho rằng

đây là một trong những trường hợp rất ít khi

xảy ra và nếu có xảy ra thì coi như trường hợp

ngoại lệ mà không nhất thiết phải quy định về

thừa kế thế vị

Thứ hai, mặc dù Điều 680 BLDS quy định

về thừa kế thế vị xảy ra trong trường hợp con

chết trước cha hoặc mẹ thì cháu thay thế vị trí

của cha hoặc mẹ nhận di sản của ông hoặc bà

Trường hợp cháu chết trước thì chắt thay thế

nhận di sản của cụ Mặc dù pháp luật quy định như vậy nhưng trong thực tế người ta có thể áp dụng tập quán (Điều14 BLDS) để giải quyết

và cho phép các cháu được thay thế vị trí của

bố hoặc mẹ nhận di sản của ông bà

Thứ ba, quy định như Điều 680 BLDS

hoàn toàn không hợp lí, bởi lẽ sau đây:

Ở Việt Nam thường xuyên xảy ra thiên tai

và đã có nhiều trường hợp cả gia đình chết cùng một thời điểm Hoặc những năm qua tai nạn giao thông đã gây ra hậu quả đáng thương đối với nhiều gia đình, trong đó có trường hợp cha, mẹ và những người thân trong gia đình chết trong cùng một tai nạn Thực tế xảy ra như vậy mà pháp luật không dự liệu các trường hợp cụ thể để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế thì đây sẽ là khiếm khuyết lớn của các nhà lập pháp Cho nên, trong trường hợp này rất cần thiết phải điều chỉnh quan hệ thừa kế thế vị khi cha hoặc mẹ chết cùng thời điểm với ông hoặc bà

+ Từ chối nhận di sản

Việc nhận di sản thừa kế hay từ chối (khước từ) là quyền của người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Nếu kể từ thời điểm

mở thừa kế đến thời hạn nhất định mà người thừa kế không từ chối nhận di sản thì mặc nhiên được coi là đã nhận di sản, họ có các quyền và nghĩa vụ của người chết để lại Khi người thừa kế nhận di sản thì nghĩa vụ của người chết để lại được chuyển cho người thừa

kế theo trình tự do pháp luật quy định Như vậy, nghĩa vụ này đã trở thành nghĩa vụ của người thừa kế, vì vậy, họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng Ngược lại, nếu sau khi mở thừa kế, người thừa kế từ chối

Trang 4

nhận di sản thì phần di sản mà họ không nhận

đó sẽ được chia đều cho những người thừa kế

khác cùng hàng

Trường hợp người thừa kế nhường cho

một người thừa kế khác cùng hàng hưởng

phần di sản của mình thì trường hợp này

không thể coi là đã từ chối nhận di sản Bởi vì,

nếu người thừa kế từ chối nhận di sản, có

nghĩa từ chối quyền thừa kế của mình và từ

thời điểm từ chối đó, người thừa kế không có

quyền nhận di sản Cho nên người thừa kế

không thể nhường quyền thừa kế của mình cho

người khác Ngược lại, người thừa kế không

trực tiếp nhận di sản mà nhường cho người

thừa kế khác, trường hợp này phải xác định là

người thừa kế đã nhận di sản và chuyển cho

người thừa kế khác Xác định hành vi của

người thừa kế từ chối hay nhận di sản có ý

nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn Nếu người

thừa kế từ chối thì họ không phải thực hiện

nghĩa vụ của người chết Ngược lại, họ không

từ chối thì phải thực hiện nghĩa vụ của người

để lại di sản Vì vậy, chủ nợ sẽ có quyền yêu

cầu người thừa kế đó phải thực hiện nghĩa vụ

của người để lại thừa kế mặc dù người thừa

kế đã nhường phần di sản của mình cho

người thừa kế khác Trường hợp này nghĩa vụ

tài sản của người thừa kế chưa được chuyển

cho người thừa kế khác, vì chưa có sự đồng ý

của người chủ nợ (người có quyền), cho nên

người thừa kế đã nhường phần di sản của

mình cho người thừa kế khác phải thực hiện

nghĩa vụ đó

Khoản 1 Điều 645 quy định người thừa kế

không được từ chối nhận di sản nhằm trốn

tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình với

người khác Tuy nhiên, nếu người thừa kế có

nghĩa vụ đối với người khác mà họ tuyên bố từ chối nhận di sản để trốn tránh thực hiện nghĩa

vụ đó thì chủ nợ bằng cách nào có thể thu hồi được nợ từ phần di sản mà người thừa kế đã

từ chối nhận di sản Chủ nợ có quyền yêu cầu toà án chia di sản của người chết để thu hồi

nợ của mình từ người thừa kế đang có nghĩa

vụ với họ hay không? Người chủ nợ không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế Vì vậy, khoản 1 Điều 645 BLDS chưa đảm bảo được quyền của chủ nợ đối với người thừa kế từ chối nhận di sản, cho nên pháp luật cần quy định cho phép chủ nợ có quyền yêu cầu thanh toán nghĩa vụ từ phần di sản mà con nợ đã từ chối nhận

Khoản 2 Điều 645 quy định về thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng Trong thời hạn này, người thừa kế đã làm văn bản để từ chối nhận di sản thì họ có quyền huỷ bỏ việc từ chối đó hay không Theo quy định tại Điều

645 BLDS thì người thừa kế đã từ chối nhận

di sản, không được phép nhận di sản nữa Tuy nhiên, trong Phần thừa kế không có quy định cho phép người thừa kế huỷ bỏ việc từ chối nhận di sản khi di sản chưa được chia Đây là một hạn chế về quyền định đoạt của cá nhân trong quan hệ thừa kế và không phù hợp với nguyên tắc của giao dịch dân sự, đã tước đi quyền huỷ giao dịch mà họ đã thực hiện Trong khi đó, cũng là hành vi pháp lí đơn phương như hứa thưởng hoặc thi có giải thì người đã tuyên bố hứa thưởng, người mở cuộc thi có giải, pháp luật quy định cho họ có quyền huỷ việc hứa thưởng, huỷ tuyên bố cuộc thi có giải

+ Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Điều 648 quy định: "Thời hiệu khởi kiện về

Trang 5

thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế"

Thực tiễn cho thấy trong giao lưu dân sự,

một quan hệ dân sự không thể tồn tại mãi, nó

sẽ luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu của cá

nhân Do vậy, khi có tranh chấp xảy ra việc

chứng minh về các quyền dân sự sẽ rất phức

tạp Thậm chí có những trường hợp không thu

thập đủ chứng cứ để chứng minh về quyền, lợi

ích hợp pháp của mình bị xâm hại Mặt khác,

quan hệ dân sự là các quan hệ tài sản cần phải

được ổn định thì người có tài sản mới có thể

sử dụng được tài sản của mình có hiệu quả Vì

vậy, pháp luật quy định một thời hạn nhất định

phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội để cá

nhân, tổ chức thực hiện các quyền dân sự của

mình Hết thời hạn đó mà họ không thực hiện

quyền của mình thì Nhà nước không bảo hộ

các quyền dân sự nữa Vì lẽ đó, Điều 648

BLDS quy định thời hiệu về thừa kế là 10 năm

kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này,

người thừa kế sẽ mất quyền khởi kiện Như

vậy, sau 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế

mà những người thừa kế không khởi kiện yêu

cầu chia di sản thì khối di sản đó thuộc quyền

sở hữu của ai? Vấn đề này luật không quy

định Nếu hết thời hiệu thừa kế mà người thừa

kế đang quản lí di sản thì di sản thuộc về

người đó, suy đoán như vậy sẽ trái với Điều

255 BLDS là quyền sở hữu phát sinh theo thời

hiệu đối với bất động sản là 30 năm Ngược

lại, nếu áp dụng Điều 247 BLDS - xác lập

quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không

xác định được ai là chủ sở hữu, trường hợp di

sản là bất động sản thì thuộc về Nhà nước Di

sản là động sản, thuộc về người thừa kế Đây

chính là mâu thuẫn cơ bản về thời hiệu thừa kế

và thời hiệu hưởng quyền dân sự

2 Phương hướng hoàn thiện các quy định chung về thừa kế

2.1 Quyền thừa kế của cá nhân

Qua phân tích như trên, thấy rằng quyền hưởng di sản của cá nhân chính là quyền thừa

kế của cá nhân Cho nên cần phải sửa đổi Điều

634 cho phù hợp với lí luận chung Điều luật này có thể được sửa đổi như sau

"Cá nhân có quyền hướng di sản theo di chúc và theo pháp luật quy định"

Trong điều luật này phải dùng từ “và” mà không dùng từ "hoặc” Bởi vì, một người có thể vừa hưởng thừa kế theo di chúc và hưởng theo pháp luật Đó là trường hợp người lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình, phần còn lại sẽ được chia theo pháp luật Như vậy, nếu người thừa kế theo pháp luật được hưởng một phần di sản theo di chúc, phần còn lại chia theo pháp luật thì họ tiếp tục được hưởng di sản chia theo pháp luật Nếu trong điều luật trên dùng từ hoặc thì họ chỉ được hưởng theo di chúc mà không được hưởng theo pháp luật và ngược lại

2.2 Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Như đã trình bày, quyền để lại tài sản của mình cho người khác không phải là quyền thừa kế của cá nhân Đây chính là một quyền năng cơ bản của quyền sở hữu, là quyền tham gia giao dịch của người có tài sản Theo quy định của Điều 635 thì cá nhân có quyền bình đẳng trong quan hệ thừa kế Như vậy, Điều

634 và Điều 635 trong BLDS khẳng định pháp luật của Nhà nước ta bảo hộ quyền thừa kế của

cá nhân, mọi công dân có quyền bình đẳng về quyền thừa kế Vì vậy, có thể gộp hai điều luật này thành một điều luật mới như sau: "Mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng trong việc nhận

Trang 6

di sản theo di chúc và theo pháp luật quy định"

2.3 Di sản

Di sản là những tài sản của người chết để

lại sau khi thanh toán các chi phí và các nghĩa

vụ của người để lại thừa kế, phần còn lại được

chia cho người thừa kế Tài sản là di sản có ba

loại, những tài sản đã thuộc quyền sở hữu của

người để lại thừa kế, quyền yêu cầu người

khác phải thực hiện nghĩa vụ và các loại tài

sản khác phát sinh sau khi người để lại thừa kế

chết Vậy có thể quy định về di sản như sau:

"Di sản bao gồm tài sản thuộc quyền sở

hữu của người chết, quyền tài sản mà người

chết chưa yêu cầu và các tài sản khác do pháp

luật quy định"

Trong điều luật trên, tài sản thuộc quyền

sở hữu của người chết gồm các vật, giấy tờ có

giá trị và các quyền tài sản khác như quyền sử

dụng đất (tài sản đặc biệt) thuộc quyền sở hữu

(vật quyền) của người chết Các quyền tài sản

khác (trái quyền) chưa yêu cầu như quyền đòi

nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, thậm

chí quyền yêu cầu trả tiền cấp dưỡng, lương

hưu mà cá nhân, tổ chức chưa thực hiện khi

người để lại di sản còn sống Ngoài ra, còn

một số tài sản khác do pháp luật quy định như

tiền bảo hiểm tính mạng của người để lại thừa

kế khi họ tham gia vào hợp đồng bảo hiểm

nhân thọ

2.4 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân,

tổ chức, tuy nhiên người thừa kế theo pháp luật là

cá nhân Những chủ thể này phải còn năng lực chủ

thể vào thời điểm mở thừa kế thì sẽ được hưởng di

sản của người để lại thừa kế

Trong Điều 638 BLDS quy định về người

thừa kế và Điều 639 quy định thời điểm làm

phát sinh quyền nghĩa vụ của người thừa kế Điều 645 quy định về quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế Ba điều luật này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau được thể hiện như khi mở thừa kế thì những người nào được hưởng di sản, nếu họ nhận di sản thì quyền, nghĩa vụ của họ được phát sinh từ khi nào Trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản thì họ không phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại thừa kế Tuy nhiên, Điều 639 chưa quy định cụ thể các quyền các nghĩa vụ của người thừa kế Do vậy, cần phải cụ thể hoá các quyền và nghĩa vụ đó Hay nói cách khác

là cần thiết gộp hai Điều 638 và 639 thành Điều 638 mới và xây dựng Điều 639 mới là

"từ chối nhận di sản" Điều 638 mới có nội

dung gồm, khoản 1 và 2 của Điều 638 cũ được giữ nguyên và bổ sung các khoản 3, 4, 5 Điều 638 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

3 Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa

kế có quyền nhận di sản

4 Việc nhận di sản có thể thực hiện bằng cách thông báo cho những người thừa kế, người quản lí di sản hoặc cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người thừa kế thực hiện các hành vi thể hiện ý chí của mình nhận

di sản

5 Những hành vi sau đây được coi là nhận

di sản:

a) Người thừa kế nhường quyền nhận di sản cho người thừa kế khác;

b) Người thừa kế bán quyền nhận di sản của mình cho người khác;

c) Hết thời hạn từ chối nhận di sản;

d) Người thừa kế chết sau thời điểm mở

Trang 7

thừa kế

Việc cụ thể hoá các hành vi nhận di sản

của người thừa kế như trên là rất cần thiết

Bởi vì, nếu người thừa kế đã nhận di sản thì

họ có quyền yêu cầu những người có nghĩa

vụ đối với người để lại thừa kế phải thực

hiện cho mình nghĩa vụ đó Mặt khác, họ có

quyền sử dụng di sản được thừa kế và thu

hoa lợi, lợi tức, đồng thời họ phải gánh chịu

các nghĩa vụ của người chết để lại tương ứng

với phần di sản mà họ được hưởng hoặc họ

phải bồi thường thiệt hại do di sản thừa kế

gây thiệt hại cho người khác khi họ đã nhận

di sản

2.5 Từ chối nhận di sản

Từ chối nhận di sản (hay còn gọi là khước

từ nhận di sản) là quyền của người thừa kế

theo pháp luật và theo di chúc Người thừa kế

từ chối nhận di sản sẽ làm phát sinh các hậu

quả pháp lí là phần di sản lẽ ra người thừa kế

sẽ được nhận, được chia đều cho những người

thừa kế khác Tuy nhiên, việc từ chối nhận di

sản có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của

người khác như chủ nợ của người đã từ chối

nhận di sản, vì người thừa kế từ chối nhận di

sản cho nên chủ nợ có thể không thu hồi được

nợ Vì những lí do trên, pháp luật cần thiết

phải quy định chặt chẽ việc từ chối nhận di sản

và hậu quả của nó Quy định như Điều 645

BLDS chưa thực sự đầy đủ nên khi áp dụng

trong thực tế có nhiều vấn đề gặp khó khăn

Do đó, Điều 645 BLDS sẽ sửa đổi, bổ sung

thêm khoản 3, 4 như sau

+ Điều 645 Từ chối nhận di sản

3 Trường hợp người thừa kế từ chối nhận

di sản mà không thực hiện nghĩa vụ tài sản với

người khác thì người có quyền được phép yêu cầu toà án cho nhận di sản thay người thừa kế

đó trong phạm vi khoản nợ

4 Trong thời hạn từ chối nhận di sản, người thừa kế đã từ chối nhận di sản có quyền huỷ bỏ việc từ chối đó

Thông thường, khi chia di sản người thừa

kế không có mặt tại địa điểm chia thừa kế thì phần di sản của họ sẽ được xử lí theo quy chế tài sản không có người quản lí và sẽ được giao cho người thừa kế khác quản lí Như vậy, chủ

nợ không thể thu hồi được nợ khi di sản đang trong sự quản lí của người thừa kế khác Ngược lại, nếu người thừa kế cố tình không trả

nợ bằng cách từ chối nhận di sản mà pháp luật không quy định cho chủ nợ có quyền yêu cầu toà án cho phép chủ nợ nhận phần di sản của con nợ là người thừa kế đã từ chối nhận di sản thì có nghĩa là họ không đòi được nợ, như vậy pháp luật có quy định là người thừa kế không

có quyền từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ cũng không có ý nghĩa pháp lí Vì vậy, pháp luật nên quy định cho phép chủ nợ có quyền nhận di sản thay cho người thừa kế đã từ chối nhận di sản

Khoản 4 cho phép người đã từ chối nhận

di sản có quyền huỷ việc từ chối đó Bởi vì,

từ chối nhận di sản là hành vi pháp lí đơn phương (giao dịch) Người thừa kế thực hiện hành vi này nhằm mục đích tạo điều kiện cho những người thừa kế khác sẽ được hưởng phần di sản mà lẽ ra mình được hưởng Tuy nhiên, sau khi người thừa kế đã từ chối nhận

di sản nhưng vì lí do nào đó mà họ lại muốn nhận di sản thì họ có thể huỷ việc từ chối đó Việc huỷ giao dịch mà người thừa kế đã thực hiện không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của

Trang 8

những người thừa kế khác

2.6 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Theo quy định trong BLDS, thời hiệu khởi

kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời

điểm mở thừa kế Trong thời hạn này người

thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản, công

nhận hiệu lực pháp luật của di chúc, công nhận

tư cách thừa kế và không công nhận quyền thừa

kế của người thừa kế khác

Thực tế ở Việt Nam, đặc biệt là tại các

vùng nông thôn, miền núi, vấn đề tranh chấp

về di sản rất ít khi xảy ra Do nhiều nguyên

nhân như trong gia đình Việt Nam có truyền

thống đoàn kết giữa các thành viên nên việc

phân chia tài sản của gia đình cũng như chia di

sản thừa kế chủ yếu được thực hiện theo thoả

thuận của mọi người Mặt khác, việc phân chia

di sản hoặc giao cho người thừa kế nào quản lí

di sản còn phụ thuộc vào phong tục tập quán

của từng vùng, từng miền Ngoài ra, trong việc

thờ cúng ông bà, cha mẹ được thực hiện qua

nhiều đời, nhiều thế hệ, nếu pháp luật quy định

thời hiệu quá ngắn (10 năm) sẽ không phù hợp

với phong tục tập quán, với điều kiện kinh tế-xã

hội của Việt Nam cho nên cần phải quy định lâu

hơn nữa để phù hợp với thời hiệu xác lập

quyền sở hữu bất động sản là 30 năm Mặt

khác, cần quy định các quyền cụ thể của người

thừa kế để họ biết mà thực hiện các quyền đó

trong từng thời gian phù hợp

Khi mở thừa kế, quyền quan trọng của

người thừa kế là nhận di sản Người thừa kế có

quyền yêu cầu chia di sản trừ một số trường

hợp pháp luật quy định khác Trường hợp

người để lại thừa kế lập di chúc cho người

khác hưởng, người được chỉ định trong di

chúc yêu cầu toà án công nhận di chúc có hiệu

lực pháp luật mà không yêu cầu chia di sản vì nhiều nguyên nhân như trường hợp người thừa kế theo di chúc muốn xác định quyền của mình được hưởng di sản để cho những người thừa kế khác biết, tránh việc những người thừa kế theo pháp luật tẩu tán tài sản hoặc sử dụng tài sản không đạt hiệu quả mà người thừa kế theo di chúc không có quyền gì đối với họ Hoặc có những trường hợp, người thừa kế chỉ yêu cầu toà án công nhận mình là người thừa kế theo pháp luật của người để lại

di sản (công nhận con ngoài giá thú, con nuôi ) để họ thực hiện các quyền khác như quyền thoả thuận quản lí di sản, quyền được hưởng hoa lợi từ di sản

Trong trường hợp có người thừa kế vi phạm khoản 1 Điều 646 BLDS, những người thừa kế khác không yêu cầu chia di sản nhưng

họ yêu cầu toà án bác quyền thừa kế của người

vi phạm để giao di sản cho người thừa kế cùng hàng khác quản lí sử dụng

Như vậy, pháp luật cần phải quy định rõ quyền khởi kiện của người thừa kế, tạo cơ sở pháp lí để họ thực hiện quyền thừa kế di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Điều 648 có thể được sửa đổi như sau:

Điều 648 Thời hiệu thừa kế

1 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế bất động sản là 30 năm, đối với động sản là 10 năm kể

từ thời điểm mở thừa kế

2 Trong thời hạn trên, người thừa kế có các quyền sau đây:

a) Chia di sản;

b) Công nhận quyền thừa kế theo di chúc, theo pháp luật;

c) Bác quyền thừa kế của người thừa kế; d) Yêu cầu quản lí, sử dụng di sản./

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w