1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Hình thức và cơ cấu của văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ " pot

7 576 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 178,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trình bày ý kiến của mình về giải pháp có thể lựa chọn đối với hình thức và cơ cấu của văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nhằm khắc phục mộ

Trang 1

ThS KiÒu ThÞ Thanh *

hần thứ VI của Bộ luật dân sự (BLDS)

với tiêu đề "Quyền sở hữu trí tuệ và

chuyển giao công nghệ" có tổng số 81 điều

luật (từ Điều 745 đến Điều 825), trong đó

có 61 điều luật quy định về hai nhánh của

sở hữu trí tuệ là quyền tác giả và quyền sở

hữu công nghiệp Ngoài ra, để điều chỉnh

các quan hệ trong lĩnh vực này, Nhà nước

ta còn ban hành hàng loạt văn bản khác như

Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 (được

sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số

06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001) quy định

chi tiết về sở hữu công nghiệp; Nghị định

số 76/CP ngày 29/11/1996 hướng dẫn thi

hành một số quy định về quyền tác giả

trong BLDS; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP

ngày 03/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu

công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên

thương mại, chỉ dẫn địa lí và bảo hộ quyền

chống cạnh tranh không lành mạnh liên

quan đến sở hữu công nghiệp; Nghị định số

13/2001/NĐ-CP ngày 20/4/2001 về bảo hộ

giống cây trồng mới Đây là lĩnh vực pháp

lí có vị trí quan trọng và có nội dung khá

phức tạp, nhạy cảm không chỉ đối với Việt

Nam mà còn đối với mỗi quốc gia trên thế

giới, phụ thuộc vào bối cảnh của thời đại

hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Trong

phạm vi bài viết này, tác giả xin trình bày ý

kiến của mình về giải pháp có thể lựa chọn

đối với hình thức và cơ cấu của văn bản

pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nhằm khắc phục một số yếu điểm liên quan đến khía cạnh này của pháp luật hiện hành, trên cơ sở

có sự nghiên cứu, so sánh với pháp luật quốc

tế và pháp luật của một số nước khác

Nhà nước ta đang tiến hành sửa đổi, bổ sung BLDS nói chung, phần quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong BLDS nói riêng, tìm kiếm hình thức pháp lí phù hợp chứa đựng các quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ BLDS năm 1995 bao hàm cả các quy định về sở hữu trí tuệ có nhiều điểm bất hợp lí Kết cấu của Bộ luật đòi hỏi phải có

sự cân bằng tương đối giữa các phần Nếu ghi nhận tất cả các vấn đề về sở hữu trí tuệ trong BLDS thì phần này sẽ trở nên quá tải bởi số lượng và nội dung của các điều luật trong lĩnh vực này thường lớn và dài hơn nhiều so với các phần khác Để tránh tình trạng này, chúng ta đã vừa quy định bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trong BLDS, lại vừa sử dụng rất nhiều văn bản khác để hướng dẫn thực hiện, để ghi nhận các đối tượng sở hữu trí tuệ khác chưa được quy định trong BLDS Đây là một trong những nguyên nhân của sự thiếu đồng bộ của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam nói chung

Để giải quyết vấn đề này, trên thế giới

P

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

hiện nay cú 3 xu hướng Một là, toàn bộ cỏc

vấn đề về sở hữu trớ tuệ được quy định tại

văn bản gọi là Bộ luật sở hữu trớ tuệ (Phỏp,

Canada) hoặc Luật sở hữu trớ tuệ

(Philippines) Hai là, sử dụng nhiều văn bản

luật mà mỗi văn bản chỉ quy định riờng về

một đối tượng hoặc một nhúm đối tượng sở

hữu trớ tuệ (Anh, Mĩ, Nhật, Singapore )

Ba là, quy định chung về sở hữu trớ tuệ

trong Bộ luật dõn sự rồi từng bước cụ thể

hoỏ cỏc khớa cạnh về nú tại cỏc văn bản

khỏc cú hiệu lực phỏp lớ thấp hơn (Việt

Nam) Phỏp luật sở hữu trớ tuệ của hầu hết

cỏc nước hiện nay thường được thể hiện

theo khuynh hướng thứ nhất hoặc khuynh

hướng thứ hai Bởi vỡ, đú là những cỏch

thức mang lại nhiều thuận lợi nhất đối với

toàn bộ quỏ trỡnh soạn thảo, ban hành, ỏp

dụng phỏp luật sở hữu trớ tuệ trong điều

kiện sự phỏt triển kinh tế, thương mại ở mỗi

nước ngày càng gắn liền với hoạt động bảo

hộ cỏc đối tượng sở hữu trớ tuệ như hiện

nay Chẳng hạn, CoCa-CoLa là nhón hiệu

nổi tiếng của Mĩ đó được 94% dõn số toàn

cầu biết tới và là nhón hiệu cú giỏ trị

thương mại lớn nhất thế giới Ở những

nước phỏt triển này (cựng với nhiều nước

khỏc) họ thường cú khuynh hướng lựa chọn

cỏch thức thứ hai

Việt Nam là nước đang phỏt triển với

thực tế cỏc tranh chấp về quyền sở hữu trớ

tuệ cú yờu cầu giải quyết ở toà ỏn chưa

nhiều và gay gắt như ở nhiều nước khỏc

Quy định về sở hữu trớ tuệ của chỳng ta về

cơ bản nhằm đỏp ứng cỏc tiờu chuẩn của

Hiệp định TRIPS (Hiệp định về cỏc khớa

cạnh liờn quan đến thương mại của quyền

sở hữu trớ tuệ) để cú thể trở thành thành viờn của Tổ chức thương mại thế giới WTO

trong tương lai sắp tới Do vậy, theo quan điểm của chỳng tụi, để phự hợp với điều kiện đặc thự của sự phỏt triển kinh tế - xó hội, Việt Nam nờn lựa chọn khuynh hướng thứ nhất và cú duy trỡ ở mức độ hợp lớ khuynh hướng thứ ba cho việc soạn thảo, sửa đổi, bổ sung cỏc quy định phỏp luật về

sở hữu trớ tuệ Nghĩa là chỳng ta nờn xõy dựng một bộ luật hoặc luật riờng trong lĩnh vực này với mức độ tối đa về sự chi tiết và đầy đủ; chỉ trong những trường hợp khụng thể làm khỏc được, mới ban hành và với sự giảm thiểu nhất một số ớt văn bản bổ sung hoặc hướng dẫn Điều này nếu được thực hiện sẽ khắc phục được tỡnh trạng tản mạn, khụng đồng bộ và nhiều yếu điểm khỏc của

hệ thống phỏp luật sở hữu trớ tuệ hiện hành, khi mà cỏc đối tượng sở hữu trớ tuệ vừa được quy định với nội dung khỏi quỏt và sơ lược trong BLDS, vừa được hướng dẫn và tiếp tục ghi nhận tại rất nhiều văn bản phỏp quy khỏc của Chớnh phủ và của cỏc bộ, cơ quan ngang bộ

Hơn nữa, lập phỏp về sở hữu trớ tuệ theo quan điểm đề xuất trờn cũn thể hiện được đặc trưng truyền thống của bảo hộ phỏp lớ quyền sở hữu trớ tuệ khụng đơn thuần chỉ là sự ghi nhận quyền con người trong lĩnh vực dõn sự mà cơ bản hơn, cỏc đối tượng sở hữu trớ tuệ được bảo hộ cũn gắn liền với cỏc giỏ trị đạo đức cần được bảo tồn trong kinh doanh và cú điểm xuất phỏt từ giỏ trị và lợi ớch kinh tế, thương mại quan trọng và to lớn của chỳng

Trờn cơ sở đú, khi mà thực tiễn lập

Trang 3

pháp ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại

đã có khá đầy đủ các văn bản quy định về

hầu hết các đối tượng sở hữu trí tuệ thì

chúng ta nên tiến hành pháp điển hoá các

văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ này Trong

quá trình đó, chúng ta nên tách Phần thứ

sáu của BLDS kết hợp với các văn bản

khác để xây dựng riêng Bộ luật sở hữu trí

tuệ hoặc Luật sở hữu trí tuệ (với tên gọi là

bộ luật hay luật được xác định tuỳ theo

dung lượng và số lượng các vấn đề hàm

chứa trong văn bản luật đó)

Tiếp theo, gắn liền với việc lựa chọn

hình thức pháp lí của văn bản quy định

quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta cũng cần xây

dựng kết cấu logic của văn bản này với cái

nhìn tổng quan về bản chất của bảo hộ sở

hữu trí tuệ nói chung Cơ cấu của Phần thứ

sáu - Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao

công nghệ của BLDS được chia làm 3

chương: Chương I - Quyền tác giả; chương

II - Quyền sở hữu công nghiệp; chương III

- Chuyển giao công nghệ Như vậy, hoàn

toàn có thể hình dung một cách gián tiếp là

chúng ta quan niệm (hay phân chia) quyền

sở hữu trí tuệ thành hai bộ phận là quyền

tác giả và quyền sở hữu công nghiệp Bởi

vì, chỉ hai lĩnh vực này mới thực sự phản

ánh kết quả lao động sáng tạo chất xám của

con người, phản ánh các đối tượng sở hữu

trí tuệ được bảo hộ; còn chuyển giao công

nghệ thực chất là quan hệ hợp đồng thể

hiện thoả thuận về sự chuyển giao và nhận

công nghệ giữa các bên đối với nhau, chúng

có thể gắn bó, liên quan hoặc không gắn bó,

liên quan tới các đối tượng sở hữu công

nghiệp Do vậy, chuyển giao công nghệ

không thể được coi là một lĩnh vực của sở hữu trí tuệ và điều này là phù hợp với bản chất của chúng Tuy thế, do mối quan hệ chặt chẽ của chuyển giao công nghệ với sở hữu trí tuệ nói chung, với nhiều đối tượng

sở hữu trí tuệ nói riêng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá nên chuyển giao công nghệ được quy định thành một nội dung lớn gắn với quyền sở hữu trí tuệ là hợp lí Điều cần đề cập ở đây

là chúng ta quy định về chuyển giao công nghệ còn quá sơ lược, còn thiếu nhiều nội dung quan trọng mang tính định hướng để vạch ra cách hiểu vấn đề và các giới hạn pháp lí cần thiết như các khái niệm về công nghệ và về đối tượng chuyển giao công nghệ (Điều 806); khái niệm về hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 809); quy định về chất lượng của công nghệ (Điều 814); về chuyển giao lại công nghệ (Điều 819) Bên cạnh đó chúng ta lại có một vài điểm quy định về hợp đồng chuyển giao công nghệ không thực sự cần thiết, khi nội dung đó đã được ghi nhận trong phần quy định về hợp đồng nói chung như trường hợp Điều 811 quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc lại thể hiện quá nhiều tính chất lí thuyết và chung chung như quy định về hợp đồng chuyển giao độc quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp chỉ với Điều 821; hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá duy nhất tại Điều 822; hợp đồng chuyển giao kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ mới tại Điều 823 Tuy rằng chuyển giao công nghệ thực sự là lĩnh vực pháp lí đầy

Trang 4

phức tạp bởi đặc thù về tính chuyên môn rất

cao của nó nhưng điều đó không có nghĩa

rằng những khía cạnh chưa phù hợp của

quy định pháp luật trong lĩnh vực này có

thể dễ dàng bỏ qua Chúng tôi cho rằng

những bất cập nói trên của quy định về

chuyển giao công nghệ cũng cần được

nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng để có sự bổ

sung, sửa đổi cần thiết và phù hợp

Tại chương quy định về quyền tác giả

(từ Điều 745 đến Điều 779), căn cứ vào

tính chất của từng nhóm quan hệ trong lĩnh

vực này, có thể phân biệt hai nội dung lớn

của chương bao gồm: Nội dung về quyền

của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ

thuật, khoa học (từ Điều 745 đến Điều 772)

và nội dung về quyền, nghĩa vụ của người

biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm

thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình và

của tổ chức phát thanh, truyền hình (từ

Điều 773 đến Điều 779, theo thông lệ quốc

tế người ta thường gọi quyền này là quyền

kề cận hoặc quyền liên quan, vì chúng dành

cho hoặc nhằm bảo hộ các quyền của người

biểu diễn tác phẩm của tác giả, người sử

dụng tác phẩm của tác giả để tạo ra các sản

phẩm mới trong lĩnh vực ghi âm, ghi hình,

phát thanh, truyền hình - nghĩa là quyền của

những người này có liên quan hoặc cận kề

với quyền của tác giả) Trong đó, phần nội

dung quy định về quyền của tác giả được

cấu trúc bao gồm mục 3 (từ Điều 767 đến

Điều 772) ghi nhận về hợp đồng sử dụng

tác phẩm Khi một cá nhân hoặc tổ chức

muốn xuất bản một tác phẩm, trình diễn

trên sân khấu hoặc dịch một tác phẩm hoặc

theo bất kì hình thức sử dụng tác phẩm nào,

nghĩa là khi họ muốn khai thác giá trị một loại tài sản trí tuệ của người khác thì nguyên tắc đạo đức và pháp lí đòi hỏi họ phải yêu cầu và nhận được sự cho phép, đồng ý của người có quyền đó đối với tác phẩm Những nội dung này chỉ có thể đạt được thông qua sự thoả thuận, sự xác lập hợp đồng giữa nhà khai thác tác phẩm với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm và phải tuân theo quy định của pháp luật về hợp đồng Vì vậy, theo chúng tôi, mục này không cần thiết phải quy định riêng trong chương quyền tác giả mà có thể dịch chuyển vị trí tới Chương II - Hợp đồng dân

sự thông dụng (thuộc Phần thứ ba - Nghĩa

vụ dân sự và hợp đồng dân sự) hoặc thậm chí có thể không cần quy định về loại hợp đồng này mà vẫn đảm bảo được các nội dung của quy định về quyền tác giả

Đối với tên gọi và nội dung của mục 4 (từ Điều 773 đến Điều 779) quy định về quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh, truyền hình chúng tôi cũng cho rằng cần có

sự thay đổi cho ngắn gọn, súc tích và phù hợp hơn Tiêu đề của mục này rất dài và nội dung bao gồm cả hai khía cạnh quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tương ứng, trong khi như đã trình bày ở trên, chúng thực chất là những quyền liên quan hoặc quyền kề cận với quyền tác giả Nội dung này được pháp luật quốc tế ghi nhận chính thức vào đầu những năm 60 của thế

kỉ 20, dựa trên cơ sở sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ngành công nghiệp ghi

âm, ghi hình làm phát sinh yêu cầu bảo hộ

Trang 5

quyền của những người biểu diễn, của các

nhà sản xuất các sản phẩm ghi âm, ghi hình

và của các tổ chức phát thanh và truyền

hình Đúng như tên gọi theo thông lệ quốc

tế từ hàng chục năm nay và phù hợp với

mục đích của nó, quyền kề cận hay quyền

liên quan luôn bao gồm chủ yếu các quyền

của người biểu diễn, của người sản xuất các

sản phẩm ghi âm, ghi hình, tổ chức phát

thanh, truyền hình nhằm chống lại sự sao

chép, nhân bản, thu - phát sóng bất hợp

pháp các sản phẩm này Sự bảo hộ các

quyền này luôn được xác định mang tính

nguyên vẹn và không làm ảnh hưởng tới sự

bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm văn học,

nghệ thuật theo bất kì cách thức nào như

Điều 1 Công ước Rome 1961 về sự bảo hộ

đối với người biểu diễn, nhà sản xuất các

sản phẩm ghi âm ghi hình và tổ chức phát

thanh truyền hình đã ghi nhận

Tuy nhiên, khi quy định về người biểu

diễn, về tổ chức sản xuất băng - đĩa âm

thanh, băng - đĩa hình, về tổ chức phát

thanh truyền hình, BLDS đã bao hàm trong

đó cả các quy định về nghĩa vụ của các cá

nhân, tổ chức này với mục đích bảo đảm

tôn trọng các quyền của tác giả Điều này

thực sự là không cần thiết Bởi trước đó, tại

các điều 751, 752, 753 và một số điều luật

khác, BLDS đã quy định về các quyền của

tác giả, của chủ sở hữu đối với tác phẩm thì

tất yếu khi sử dụng tác phẩm đó, cá nhân

hoặc tổ chức biểu diễn, tiến hành hoạt động

ghi âm ghi hình tác phẩm phải xin phép,

phải giao kết hợp đồng, phải trả thù lao và

phải đảm bảo tôn trọng các quyền khác của

tác giả, chủ sở hữu tác phẩm như luật đã

quy định Đây là điều bắt buộc đối với mỗi

cá nhân, tổ chức nói chung khi muốn sử dụng tác phẩm của tác giả theo các hình thức khác nhau và không cần thiết phải nhắc lại ở phần quy định về quyền kề cận hoặc quyền liên quan Tuy nhiên, do BLDS quy định cả về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này nên thực chất đã dẫn tới sự rườm rà và không tránh khỏi mâu thuẫn giữa các quy định của các điều luật Chẳng hạn, trước đó theo các điều 751, 752, 753 thì tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có quyền

“cho phép hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình” dưới các

hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh nhưng các điều 774, 776, 778 lại quy định người

biểu diễn có nghĩa vụ “xin phép tác giả

hoặc chủ sở hữu tác phẩm được sử dụng tác phẩm để trình diễn nếu tác phẩm chưa được công bố” (khoản 1 Điều 774); còn tổ

chức sản xuất băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa

hình có nghĩa vụ “giao kết hợp đồng bằng

văn bản với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nếu sử dụng tác phẩm chưa được công bố để sản xuất chương trình của mình” (khoản 1 Điều 776); còn tổ chức

phát thanh, truyền hình có nghĩa vụ “xin

phép và trả nhận bút cho tác giả hoặc chủ

sở hữu tác phẩm nếu sử dụng tác phẩm chưa công bố để xây dựng chương trình phát thanh, truyền hình của mình” (khoản

1 Điều 778) Như vậy, có thể dẫn đến cách hiểu gián tiếp rằng khi các tổ chức, cá nhân này sử dụng tác phẩm đã công bố của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, cho dù có mục

Trang 6

đớch kinh doanh hay khụng thỡ cũng khụng

cần phải xin phộp hoặc được sự đồng ý của

họ Điều này mõu thuẫn với quy định về

cỏc quyền của tỏc giả, chủ sở hữu tỏc phẩm

và cũng khụng phự hợp với bản chất của sự

bảo hộ quyền tỏc giả, khi mà sự bảo hộ này

chủ yếu nhằm trao cho tỏc giả, chủ sở hữu

tỏc phẩm độc quyền cho phộp người khỏc

xuất bản, tỏi bản, trưng bày, biểu diễn tỏc

phẩm của mỡnh, đặc biệt khi người ta nhằm

mục đớch kinh doanh, kiếm lời trờn tỏc

phẩm của họ, bất kể tỏc phẩm đú đó cụng

bố hay chưa được cụng bố Do vậy, trừ một

số ngoại lệ theo luật định gắn với quy định

về giới hạn quyền tỏc giả thỡ trường hợp

nào sử dụng tỏc phẩm của tỏc giả, chủ sở

hữu tỏc phẩm cũng phải được sự thoả

thuận, đồng ý thụng qua hợp đồng với tỏc

giả, chủ sở hữu tỏc phẩm

Để khắc phục những yếu điểm trờn nờn

chọn tờn cho Mục 4 (thuộc Chương 1 -

Quyền tỏc giả) theo đỳng tờn gọi phự hợp

với đặc điểm và mục đớch bảo hộ của nú là

quyền kề cận hoặc quyền liờn quan và trong

đú chỉ bao hàm cỏc điều luật quy định về

quyền của cỏc cỏ nhõn, tổ chức biểu diễn,

sản xuất cỏc sản phẩm ghi õm, ghi hỡnh và

tổ chức phỏt thanh truyền hỡnh trờn cơ sở

đảm bảo tụn trọng và thực thi cỏc quyền

của tỏc giả

Bờn cạnh cỏc điểm nờu trờn, sự phõn

chia quyền sở hữu trớ tuệ thành hai bộ phận

là quyền tỏc giả và quyền sở hữu cụng

nghiệp một cỏch giỏn tiếp theo cơ cấu thể

hiện tại Phần thứ sỏu BLDS cũng cũn cứng

nhắc và cú điểm chưa chớnh xỏc, đặc biệt

khi điều này được xem xột trong sự liờn

quan tới quyền sở hữu cụng nghiệp

Theo thụng lệ quốc tế, để phự hợp với đặc thự riờng của từng đối tượng sở hữu trớ tuệ, quyền tỏc giả hay bản quyền bao giờ cũng cú vị trớ độc lập trong lĩnh vực phỏp lớ

về sở hữu trớ tuệ, cũn quyền liờn quan hay quyền kề cận cú thể giữ vị trớ độc lập hoặc được quy định thành một phần nhỏ gắn với quy định về quyền tỏc giả (BLDS Việt Nam thể hiện quan điểm thứ hai) Cỏc đối tượng

sở hữu trớ tuệ cũn lại, nếu theo sự phõn biệt

sở hữu trớ tuệ thành hai nhỏnh là quyền tỏc giả và quyền sở hữu cụng nghiệp như trong BLDS, sẽ đều thuộc lónh địa của quyền sở hữu cụng nghiệp - đặc biệt khi chỳng được xột theo quy định mang tớnh chất mở tại

Điều 780 BLDS: “Quyền sở hữu cụng

nghiệp là quyền sở hữu của cỏ nhõn, phỏp nhõn đối với sỏng chế, giải phỏp hữu ớch, kiểu dỏng cụng nghiệp, nhón hiệu hàng hoỏ, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoỏ và quyền sở hữu đối với cỏc đối tượng khỏc do phỏp luật quy định” Kết

luận này khụng chớnh xỏc với một số đối tượng sở hữu trớ tuệ như quyền chống cạnh tranh khụng lành mạnh liờn quan tới sở hữu cụng nghiệp và giống cõy trồng mới, khi

mà tớnh chất “sở hữu cụng nghiệp”, “ỏp dụng sản xuất cụng nghiệp” của mỗi đối tượng này khụng cú hoặc chỉ cú rất ớt, khụng đỏng kể so với cỏc đối tượng sở hữu cụng nghiệp khỏc như sỏng chế, giải phỏp hữu ớch, kiểu dỏng cụng nghiệp

Vỡ lớ do trờn, chỳng tụi cho rằng trong tương lai xõy dựng văn bản luật mới về sở hữu trớ tuệ, chỳng ta khụng nờn phõn biệt sở hữu trớ tuệ chỉ thành hai lĩnh vực quyền tỏc

Trang 7

giả và quyền sở hữu công nghiệp như

BLDS hiện hành Văn bản pháp luật sở hữu

trí tuệ cần kết cấu theo từng chương hoặc

từng phần về từng đối tượng hoặc từng

nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ, tuỳ thuộc

vào đặc tính riêng của từng đối tượng hoặc

sự tương đồng về tính chất giữa một số đối

tượng được xác định theo những tiêu chí

nhất định Theo đó, quyền tác giả và quyền

liên quan có thể cùng được ghi nhận trong

quy định về quyền tác giả (với ý nghĩa

quyền liên quan là một bộ phận của quy

định về quyền tác giả) hoặc chúng được

tách riêng với vị trí pháp lí ngang nhau của

từng đối tượng sở hữu trí tuệ Sáng chế và

giải pháp hữu ích nên được quy định trong

một nhóm do chúng chỉ có sự khác biệt cơ

bản là sự bảo hộ sáng chế cao hơn giải pháp

hữu ích một tiêu chuẩn (thể hiện trình độ

sáng tạo và sẽ có sự ghi nhận riêng cho

điểm đặc biệt này của sáng chế) hoặc sắp

xếp chúng theo cùng nhóm với kiểu dáng

công nghiệp, do cả ba đối tượng này đều

được tạo ra trực tiếp từ công sức sáng tạo

chất xám của tác giả và sự bảo hộ đều phải

thông qua thủ tục cấp văn bằng bảo hộ độc

quyền Tương tự như vậy, chúng ta có thể

sắp xếp nhãn hiệu hàng hoá và tên thương

mại vào một nhóm; sửa đổi và bổ sung quy

định về tên gọi xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn

địa lí, khi mà thực chất tên gọi xuất xứ

hàng hoá chỉ là một loại cụ thể của chỉ dẫn

địa lí Sự sắp xếp như vậy sẽ đảm bảo tính

khoa học và nhất quán hơn trong quy định

pháp luật về sở hữu trí tuệ

Tóm lại, chúng tôi cho rằng cần sửa

đổi, bổ sung phần quy định về sở hữu trí tuệ

trong BLDS theo hướng sau:

- Xây dựng văn bản luật riêng (bộ luật hoặc luật) về sở hữu trí tuệ mới có thể đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong lĩnh vực pháp lí này;

- Quy định về hợp đồng sử dụng tác phẩm có thể được lược bỏ hoặc được chuyển thành một nội dung tương ứng theo luật hợp đồng, quy định về chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ cần được quan tâm bổ sung về các khái niệm, về từng loại hợp đồng cụ thể với các chi tiết cần thiết về từng hợp đồng, khắc phục tình trạng quá lí thuyết và chung chung như quy định tại BLDS hiện nay;

- Quy định về quyền tác giả nên đổi tên mục ghi nhận về quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh truyền hình thành quyền kề cận hoặc quyền liên quan Đồng thời, nội dung của mục này chỉ nên bao gồm các quy định về quyền của các cá nhân, tổ chức tương ứng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, với bản chất của

sự bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan;

- Trong bộ luật hoặc luật sở hữu trí tuệ nên lần lượt quy định theo từng chương hoặc từng phần về từng đối tượng hoặc từng nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ cùng chung tính chất với tất cả các khía cạnh

về chúng Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình soạn thảo và

áp dụng luật mà còn đảm bảo tính nhất quán trong quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung, từng đối tượng sở hữu trí tuệ nói riêng./

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w