Cũng tại điều luật này, chúng ta tìm thấy quy định về các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế.. Có thể nói rằng các quy định về sáng chế trong BLDS phù hợp với quy địn
Trang 1ThS NGUYỄN NHƯ QUỲNH * àng ngày vấn đề sở hữu trí tuệ càng
chứng tỏ vai trò quan trọng, thiết yếu đối
với không chỉ các nhà sản xuất, các doanh
nghiệp mà còn với sự phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia Đặc biệt trong thời gian
hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực để trở
thành thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) thì việc xây dựng hệ thống sở
hữu trí tuệ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn
được xác định bởi WTO là một trong những
điều kiện tiên quyết Bởi vậy, việc rà soát các
quy định hiện hành về sở hữu trí tuệ, xem xét
những quy định không phù hợp, những quy
định chưa đầy đủ để sửa đổi, bổ sung là vô
cùng cần thiết Bởi vậy, khi sửa đổi, bổ sung
các quy định về sở hữu công nghiệp, cần phải
dựa trên những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, việc sửa đổi, bổ sung các quy
định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sở
hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công nghiệp nói
riêng phải phù hợp với các công ước quốc tế
mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên Chúng ta
cần đặc biệt quan tâm đến các quy định của
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), bởi vì TRIPs
vốn là hiệp định không thể tách rời khỏi các
quy định của WTO Bên cạnh đó, các quy
định về sở hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công
nghiệp nói riêng phải phù hợp với các hiệp
định song phương mà Việt Nam đã kí kết, ví
dụ như Hiệp định thương mại Việt - Mĩ
Thứ hai, cần tham khảo pháp luật cũng
như kinh nghiệm trong lĩnh vực này của các nước phát triển (như châu Âu, Mĩ, Nhật) và của các nước có bối cảnh kinh tế - xã hội gần với chúng ta Tuy nhiên, không nên dập khuôn một cách máy móc mà cần xem xét kĩ lưỡng hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung cần phải xem
xét quá trình và kết quả áp dụng các quy định
về sở hữu công nghiệp trong Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan
1 Sáng chế
Điều 782 BLDS xác định những điều kiện
để giải pháp kĩ thuật được công nhận là sáng chế hay những thuộc tính của sáng chế Theo
đó, “sáng chế là giải pháp kĩ thuật mới so với
trình độ kĩ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội” Các điều kiện này được
hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 Cũng tại điều luật này, chúng ta tìm thấy quy định về các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế
Có thể nói rằng các quy định về sáng chế trong BLDS phù hợp với quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm
1883 mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, các quy định về sáng chế chưa đáp ứng được
C
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2yêu cầu của Hiệp định TRIPs cũng như Hiệp
định thương mại Việt - Mĩ Chỉ xét riêng về
phạm vi đối tượng được bảo hộ với danh
nghĩa là sáng chế, quy định hiện hành của
Việt Nam hẹp hơn rất nhiều so với Hiệp định
TRIPs, Hiệp định thương mại Việt - Mĩ và
pháp luật của các nước là đối tác thương mại
quan trọng của chúng ta (như pháp luật Mĩ,
Nhật, Pháp…) Do đó, cần thiết phải mở rộng
phạm vi các đối tượng được bảo hộ với danh
nghĩa là sáng chế
Thứ nhất, vấn đề bảo hộ giải pháp kĩ thuật
chỉ bao gồm một hoặc một số phần của đối
tượng không được bảo hộ là sáng chế
Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 63/CP liệt
kê 11 đối tượng không được bảo hộ với danh
nghĩa là sáng chế, giải pháp hữu ích Lí do
không bảo hộ có thể là đối tượng không thoả
mãn đầy đủ các thuộc tính của sáng chế hoặc
nhằm mục đích cho đối tượng được sử dụng
rộng rãi, đáp ứng lợi ích của cộng đồng Tuy
nhiên, nếu một giải pháp kĩ thuật chỉ bao gồm
một hoặc một số phần của các đối tượng đã bị
loại bỏ khỏi sáng chế theo quy định tại khoản
4 Điều 4 Nghị định số 63/CP có được bảo hộ
là sáng chế (hoặc giải pháp hữu ích) hay
không? Pháp luật Việt Nam chưa quy định
vấn đề này Trong khi đó, ở một số quốc gia
(như Đức, Pháp), sáng chế bao gồm một hoặc
một số phần của các đối tượng này vẫn có thể
được xem xét bảo hộ Pháp luật Việt Nam
cũng nên quy định theo hướng này cho phù
hợp với pháp luật của các nước Hơn nữa, quy
định như vậy vẫn đáp ứng được các điều kiện
để một giải pháp kĩ thuật được bảo hộ là sáng
chế đồng thời lại khuyến khích sự sáng tạo
của các cá nhân, tổ chức
Thứ hai, các sáng tạo liên quan đến công
nghệ sinh học chưa được quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Công nghệ sinh học bao gồm tất cả các phương pháp kĩ thuật mà sử dụng hoặc dẫn đến những thay đổi hữu cơ trong nguyên liệu sinh vật học (như các tế bào động, thực vật hoặc các dòng tế bào, vi-rút), các vi sinh vật, các động và thực vật; hoặc dẫn đến những thay đổi trong các nguyên liệu vô cơ bằng các cách thức sinh vật học Nói cách khác, bất kì công nghệ nào khai thác các vấn đề hoá sinh của các tổ chức sống hoặc sản phẩm của các
tổ chức sống là công nghệ sinh học
Mặc dù, cho đến nay lĩnh vực công nghệ sinh học có lẽ còn xa lạ, ít được bàn đến ở nước ta Tuy nhiên, công nghệ sinh học được thừa nhận là ngành công nghệ hứa hẹn nhất trong tương lai Những kết quả của công nghệ sinh học đã đem lại những lợi ích to lớn cho không chỉ các lĩnh vực y tế, thực phẩm mà
còn các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nữa Ví
dụ, những sáng chế về các tổ chức vi sinh vật,
động và thực vật đã cho chúng ta các sản phẩm bánh mỳ, rượu, thuốc kháng sinh, vắc-xin; các sáng chế về gen trong quá trình truyền giống vô tính… Cho nên, cần thiết phải có cơ sở pháp lí chắc chắn để khuyến khích những sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ sinh học của các tổ chức, cá nhân trong nước đồng thời cũng khuyến khích những sáng tạo trong lĩnh vực này từ nước ngoài được chuyển vào nước ta và sử dụng chúng một cách hiệu quả Bởi vậy, cần thừa nhận việc bảo hộ các sáng chế về công nghệ sinh học trong BLDS Bên cạnh đó, tất nhiên chúng ta cũng cần quy định cụ thể khái niệm công nghệ sinh học, các đối tượng công nghệ sinh học có thể được bảo hộ, thủ tục để được
Trang 3bảo hộ… Các nước thuộc EU, Nhật Bản và
Mĩ là những quốc gia đi đầu và đã gặt hái
được nhiều thành công trong lĩnh vực này
Thứ ba, về bảo hộ phần mềm máy tính với
danh nghĩa là sáng chế
Hiện nay, theo quy định của pháp luật
nước ta, phần mềm máy tính chỉ được bảo hộ
bởi pháp luật bản quyền Trong khi đó, ở
nhiều quốc gia trên thế giới, phần mềm máy
tính không chỉ được bảo hộ bởi pháp luật bản
quyền mà còn được bảo hộ với danh nghĩa là
sáng chế Mĩ và Nhật - hai quốc gia có ngành
công nghiệp phần mềm phát triển mạnh nhất
thế giới đã cấp hàng chục nghìn bằng độc
quyền sáng chế cho những sáng tạo liên quan
đến phần mềm máy tính Uỷ ban châu Âu
cũng đã xem xét việc loại bỏ chương trình
máy tính ra khỏi danh sách các đối tượng
không thể được bảo hộ với danh nghĩa là sáng
chế.(1)
Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng bảo hộ độc
quyền sáng chế đối với phần mềm máy tính
đóng góp vô cùng to lớn cho việc thúc đẩy
ngành công nghiệp phần mềm của quốc gia
phát triển Do vậy, khi sửa đổi, bổ sung BLDS
chúng ta nên xem xét để bảo hộ phần mềm
máy tính bằng cả pháp luật bản quyền và pháp
luật sáng chế Chắc chắn rằng sự bảo vệ này sẽ
thúc đẩy ngành công nghiệp phần mềm sơ khai
và non trẻ của chúng ta phát triển Hơn nữa, nó
cũng tạo ra sự thuận lợi hơn cho các cá nhân, tổ
chức Việt Nam khi thiết lập quan hệ thương mại
với các đối tác Mĩ, Nhật và Liên minh châu Âu
2 Kiểu dáng công nghiệp
Hiệp định TRIPs yêu cầu các nước thành
viên phải có sự bảo hộ hợp lí đối với kiểu
dáng hàng dệt (khoản 2 Điều 25) Điều này
cũng được đặt ra trong Hiệp định thương mại
Việt - Mĩ Yêu cầu này là phù hợp, bởi vì,
kiểu dáng hàng dệt nói chung có chu kì khai thác rất ngắn, thường xuyên phải thay đổi theo thời tiết và thị hiếu của người tiêu dùng, cho nên, nếu chúng ta vẫn thực hiện quy trình đăng kí, xét nghiệm, cấp văn bằng bảo hộ như đối với các loại kiểu dáng công nghiệp khác thì dẫn đến hệ quả là chi phí cho việc bảo hộ quá lớn, thời gian xét nghiệm dài làm cho kiểu dáng có thể bị lỗi thời khi được cấp văn bằng bảo hộ
Cho đến nay, Việt Nam chưa có quy định riêng để bảo hộ kiểu dáng hàng dệt cũng như kiểu dáng các sản phẩm thời trang khác như giày, dép, túi xách… Trong thời gian tới, chúng ta cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho loại kiểu dáng này cho phù hợp với các công ước, hiệp ước mà chúng ta đã và sẽ tham gia Hơn nữa, quy định này có ý nghĩa thiết thực với đối với đất nước ta, khi ngành công nghiệp dệt, may là một trong những ngành xuất khẩu mòi nhọn, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước trong nhiều năm gần đây
3 Nhãn hiệu hàng hoá
Liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, một số vấn đề sau đây nên được xem xét khi sửa đổi,
bổ sung BLDS:
Thứ nhất, về các dấu hiệu được công nhận
là nhãn hiệu hàng hoá
Theo quy định hiện nay thì “nhãn hiệu
hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ
sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” (Điều 785 BLDS, được
quy định chi tiết tại Điều 6 Nghị định số 63/CP) Rõ ràng, theo quy định hiện hành, chỉ những từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các
Trang 4yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều
màu sắc mới có thể được bảo hộ là nhãn hiệu
hàng hóa Quy định này chưa thoả đáng
Chúng ta nên quy định phạm vi rộng hơn
những dấu hiệu có khả năng được bảo hộ là
nhãn hiệu hàng hoá như không gian ba chiều,
âm thanh, thậm chí cả các dấu hiệu mùi, vị
Kiến nghị này dựa trên những cơ sở sau đây:
- Khác với các đối tượng sở hữu công
nghiệp khác, điều kiện duy nhất (hay thuộc
tính) để một hoặc những dấu hiệu được công
nhận là nhãn hiệu hàng hoá chỉ là khả năng
phân biệt với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của
các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Bởi
vậy, về nguyên tắc, bất kì dấu hiệu nào cho dù
là có thể nhìn thấy như từ ngữ, hình ảnh, màu
sắc (bao gồm màu sắc trong sự kết hợp với
các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc),
không gian ba chiều hoặc không được nhìn
thấy như âm thanh, mùi, vị nếu như có khả
năng phân biệt đều có thể được đăng kí là
nhãn hiệu hàng hoá
- Theo các văn bản pháp luật quốc tế cũng
như pháp luật của các quốc gia, các dấu hiệu
có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng hóa
được quy định rất rộng Ví dụ, theo Điều
15(1) TRIPs thì bất kì dấu hiệu hoặc tổ hợp
các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng
hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với
hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp
khác đều có thể được công nhận là nhãn hiệu
hàng hoá Như vậy, việc mở rộng phạm vi các
dấu hiệu có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng
hoá hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc
tế về lĩnh vực này cũng như pháp luật của các
nước khác trên thế giới
- Thực tế đã chỉ ra rằng bên cạnh các dấu
hiệu truyền thống, phổ biến như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, các dấu hiệu khác như không gian ba chiều,(2)
âm thanh,(3) mùi,(4) vị, chỉ riêng màu sắc(5)
cũng đóng vai trò tích cực là
“người chỉ dẫn”, hay “người phân biệt” hàng hoá, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh
khác nhau
Thứ hai, về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng
Cần bổ sung các quy định nhằm bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng, bởi vì, nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng là đối tượng đã được thừa nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế quan trọng Trước tiên là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 (Điều 6 bis) và sau đó là TRIPs (Điều 16(1)) Hơn nữa, nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng là loại nhãn hiệu hàng hoá mà có một số đặc thù, do vậy cần có những quy định riêng để điều chỉnh cho phù hợp Thực tế cho đến nay, nhiều nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng đã vào thị trường Việt Nam (như Coca-Cola, Honda, Malboro, Ford ) và một số đã hoạt động rất hiệu quả Bởi vậy, quy định cụ thể về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng cũng nhằm khuyến khích các nhà đầu tư lớn của nước ngoài vào
Việt Nam
Thứ ba, về nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu để chỉ
ra rằng hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định, có thể là tiêu chuẩn quốc gia (hàng Việt Nam chất lượng cao), tiêu chuẩn khu vực (tiêu chuẩn châu Âu) hoặc tiêu chuẩn quốc tế (ISO
9002 - International standar organization) Những chứng nhận này khẳng định chất lượng của hàng hoá, dịch vụ Bởi vậy, nó tạo
Trang 5lòng tin cho người tiêu dùng và tất yếu đem
lại lợi ích cho doanh nghiệp
Nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ bởi
nhiều quốc gia trên thế giới và cũng được đề
cập trong Hiệp định thương mại Việt - Mĩ
Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa
quy định về nhãn hiệu chứng nhận Rõ ràng,
đây là điểm bất cập, chúng ta cần bảo hộ nhãn
hiệu này trong thời gian tới
4 Tên gọi xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn địa lí
“Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lí
của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ
của mặt hàng từ nước, địa phương đó với
điều kiện những mặt hàng này có các tính
chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều
kiện địa lí độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố
tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu
tố đó” (Điều 786 BLDS)
Chỉ dẫn địa lí được hiểu là thông tin về
nguồn gốc địa lí của hàng hoá thể hiện dưới
dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc
hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc vùng
lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia mà
hàng hoá đó có được chất lượng, uy tín, danh
tiếng chủ yếu là do vùng đó tạo nên (Nghị định
số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000)
Trước khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP
được ban hành, chúng ta vẫn hiểu rằng tên gọi
xuất xứ hàng hoá chứa đựng hai thuộc tính là
chỉ dẫn nguồn gốc địa lí của hàng hoá và chỉ
dẫn địa điểm xuất xứ hàng hoá liên quan tới
các tính chất, chất lượng đặc thù của hàng hoá
đó có được.(6)
Còn sau khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP được ban hành, lại có ý kiến
cho rằng điểm khác biệt cơ bản giữa tên gọi
xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn địa lí là: Nếu
hàng hoá theo tên gọi xuất xứ phải “có tính chất,
chất lượng đặc thù” thì hàng hoá theo chỉ dẫn địa
lí phải đạt được yêu cầu cao hơn là có “uy tín,
danh tiếng” Trong thực tế, sự khác biệt giữa hai
đối tượng này chưa được làm rõ
Nên hiểu rằng thông tin xuất xứ (chứ không gọi là tên gọi xuất xứ) là những thông tin chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hoá, giúp người tiêu dùng biết được hàng hoá đến từ đâu và loại thông tin này được áp dụng cho mọi loại hàng hoá Trong thương mại quốc tế, loại thông tin này được gọi là C/O (Certificate
of Origin) C/O là điều kiện quan trọng trong hoạt động xuất, nhập khẩu và xác định các ưu đãi về thuế quan của các quốc gia Còn chỉ dẫn địa lí là những chỉ dẫn hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước, từ khu vực hoặc địa phương có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính riêng chủ yếu do xuất xứ địa lí quyết định (Điều 22 Hiệp định TRIPs) Như vậy, định nghĩa về chỉ dẫn địa lí tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP phù hợp với TRIPs và nên được giữ nguyên Một điều đáng lưu ý là các nước trên thế giới chỉ coi chỉ dẫn địa lí (geographical indication) là một loại đối tượng sở hữu công nghiệp mà không bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá với ý nghĩa là một đối tượng sở hữu công nghiệp
Như vậy, trong thời gian tới, chúng ta có thể lựa chọn: 1) Chỉ quy định về chỉ dẫn địa lí như các quốc gia khác trên thế giới; 2) Thừa nhận cả chỉ dẫn địa lí và tên gọi xuất xứ hàng hoá nhưng phải quy định rõ ràng, chi tiết về từng đối tượng để có cơ sở phân biệt chúng
5 Bí mật kinh doanh
(Điều 39 TRIPs) quy định bảo hộ “thông
tin kín” Quy định này được đưa ra nhằm bảo
Trang 6hộ có hiệu quả chống lại hành vi cạnh tranh
không lành mạnh quy định tại Điều 10 bis
Công ước Paris
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành,
chúng ta chỉ bảo hộ bí mật kinh doanh tức là
những thông tín kín trong lĩnh vực kinh doanh
(Nghị định số 54/2000/NĐ-CP) Các thông tin
đặc quyền và các thông tin kín trong các lĩnh
vực khác cho dù có giá trị kinh tế cũng không
được bảo hộ
Rõ ràng, quy định này hẹp hơn rất nhiều
so với quy định của TRIPs và Hiệp định
thương mại Việt-Mĩ Quy định này cũng thể
hiện nhiều bất cập trong thực tiễn Bởi vậy,
chúng ta nên mở rộng phạm vi bảo hộ đối với
các thông tin kín nói chung chứ không phải
chỉ riêng bí mật kinh doanh
6 Tên miền
Tên miền là địa chỉ INTERNET của cá
nhân hoặc tổ chức nào đó Ví dụ: www.vnn.vn;
www.microsof.com; www.cocacola.com…
Trong thời đại hiện nay, khi công nghệ
thông tin ngày càng phát triển và chứng tỏ vai
trò của nó, khi thương mại điện tử không thể
thiếu được trong hoạt động kinh doanh, chúng
ta không thể không bảo hộ tên miền với ý
nghĩa là đối tượng sở hữu công nghiệp Quy
định về tên miền là cơ sở pháp lí giải quyết
nhiều tranh chấp phát sinh khi sử dụng tên
miền trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm
lẫn với tên thương mại, với nhãn hiệu hàng
hoá đã được bảo hộ Hơn nữa, nó cũng góp
phần hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh
trong kinh doanh
7 Đưa các đối tượng sở hữu công
nghiệp đã được bảo hộ trong các văn bản
hướng dẫn thi hành vào quy định trong Bộ
luật dân sự
Theo Điều 781 BLDS, các đối tượng sở
hữu công nghiệp được bảo hộ gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá
và các đối tượng khác do pháp luật quy định Chỉ đến khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP được ban hành, “các đối tượng khác” mới được xác định là bí mật kinh doanh, tên thương mại và chỉ dẫn địa lí Đến Nghị định số
13/2001/NĐ-CP thì giống cây trồng được bảo hộ tại Việt Nam Cho đến nay, Việt Nam cũng đã bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp (theo Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 02/5/2003 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn) Tất cả những đối tượng mới được bảo hộ này cần được đưa vào quy định thống nhất trong Bộ luật dân sự./
(1) Ngày 20/2/2002, Uỷ ban châu Âu đã xem xét dự thảo sửa đổi Điều 52 của Công ước Munich 1973 về sáng chế châu Âu
(2) Hình dáng bên ngoài của một tổ hợp kiến trúc gồm nhà hàng, khách sạn, khu giải trí, khu thương mại được đăng kí là nhãn hiệu hàng hoá - Nhãn hiệu số 2048209 của Anh
(3) Âm thanh được đăng kí là nhãn hiệu âm thanh cho điện thoại Nokia - Nhãn hiệu số 001040955 của Cộng đồng châu Âu
(4) Mùi của cỏ vừa mới cắt được đăng kí là nhãn hiệu mùi cho bóng tennis - Dữ liệu từ vụ việc R156/1998-2 của Cộng đồng châu Âu; mùi của hoa hồng được đăng
kí là nhãn hiệu cho chỉ thêu - Dữ liệu từ vụ Re Clarke
17 USPQ 2d 1238 (1990) của Mĩ
(5) Màu tím được đăng kí là nhãn hiệu màu cho kẹo socola
- Nhãn hiệu số 000031336 của Cộng đồng châu Âu (6).Xem: Giáo trình luật dân sự - Trường đại học luật
Hà Nội, tr 574