1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Đối tượng sở hữu công nghiệp - những điểm cần sửa đổi, bổ sung" potx

6 334 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 237,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng tại điều luật này, chúng ta tìm thấy quy định về các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế.. Có thể nói rằng các quy định về sáng chế trong BLDS phù hợp với quy địn

Trang 1

ThS NGUYỄN NHƯ QUỲNH * àng ngày vấn đề sở hữu trí tuệ càng

chứng tỏ vai trò quan trọng, thiết yếu đối

với không chỉ các nhà sản xuất, các doanh

nghiệp mà còn với sự phát triển kinh tế - xã

hội của một quốc gia Đặc biệt trong thời gian

hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực để trở

thành thành viên của Tổ chức thương mại thế

giới (WTO) thì việc xây dựng hệ thống sở

hữu trí tuệ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn

được xác định bởi WTO là một trong những

điều kiện tiên quyết Bởi vậy, việc rà soát các

quy định hiện hành về sở hữu trí tuệ, xem xét

những quy định không phù hợp, những quy

định chưa đầy đủ để sửa đổi, bổ sung là vô

cùng cần thiết Bởi vậy, khi sửa đổi, bổ sung

các quy định về sở hữu công nghiệp, cần phải

dựa trên những cơ sở sau đây:

Thứ nhất, việc sửa đổi, bổ sung các quy

định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sở

hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công nghiệp nói

riêng phải phù hợp với các công ước quốc tế

mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên Chúng ta

cần đặc biệt quan tâm đến các quy định của

Hiệp định về các khía cạnh thương mại của

quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), bởi vì TRIPs

vốn là hiệp định không thể tách rời khỏi các

quy định của WTO Bên cạnh đó, các quy

định về sở hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công

nghiệp nói riêng phải phù hợp với các hiệp

định song phương mà Việt Nam đã kí kết, ví

dụ như Hiệp định thương mại Việt - Mĩ

Thứ hai, cần tham khảo pháp luật cũng

như kinh nghiệm trong lĩnh vực này của các nước phát triển (như châu Âu, Mĩ, Nhật) và của các nước có bối cảnh kinh tế - xã hội gần với chúng ta Tuy nhiên, không nên dập khuôn một cách máy móc mà cần xem xét kĩ lưỡng hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam

Thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung cần phải xem

xét quá trình và kết quả áp dụng các quy định

về sở hữu công nghiệp trong Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan

1 Sáng chế

Điều 782 BLDS xác định những điều kiện

để giải pháp kĩ thuật được công nhận là sáng chế hay những thuộc tính của sáng chế Theo

đó, “sáng chế là giải pháp kĩ thuật mới so với

trình độ kĩ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội” Các điều kiện này được

hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 Cũng tại điều luật này, chúng ta tìm thấy quy định về các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế

Có thể nói rằng các quy định về sáng chế trong BLDS phù hợp với quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm

1883 mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, các quy định về sáng chế chưa đáp ứng được

C

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

yêu cầu của Hiệp định TRIPs cũng như Hiệp

định thương mại Việt - Mĩ Chỉ xét riêng về

phạm vi đối tượng được bảo hộ với danh

nghĩa là sáng chế, quy định hiện hành của

Việt Nam hẹp hơn rất nhiều so với Hiệp định

TRIPs, Hiệp định thương mại Việt - Mĩ và

pháp luật của các nước là đối tác thương mại

quan trọng của chúng ta (như pháp luật Mĩ,

Nhật, Pháp…) Do đó, cần thiết phải mở rộng

phạm vi các đối tượng được bảo hộ với danh

nghĩa là sáng chế

Thứ nhất, vấn đề bảo hộ giải pháp kĩ thuật

chỉ bao gồm một hoặc một số phần của đối

tượng không được bảo hộ là sáng chế

Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 63/CP liệt

kê 11 đối tượng không được bảo hộ với danh

nghĩa là sáng chế, giải pháp hữu ích Lí do

không bảo hộ có thể là đối tượng không thoả

mãn đầy đủ các thuộc tính của sáng chế hoặc

nhằm mục đích cho đối tượng được sử dụng

rộng rãi, đáp ứng lợi ích của cộng đồng Tuy

nhiên, nếu một giải pháp kĩ thuật chỉ bao gồm

một hoặc một số phần của các đối tượng đã bị

loại bỏ khỏi sáng chế theo quy định tại khoản

4 Điều 4 Nghị định số 63/CP có được bảo hộ

là sáng chế (hoặc giải pháp hữu ích) hay

không? Pháp luật Việt Nam chưa quy định

vấn đề này Trong khi đó, ở một số quốc gia

(như Đức, Pháp), sáng chế bao gồm một hoặc

một số phần của các đối tượng này vẫn có thể

được xem xét bảo hộ Pháp luật Việt Nam

cũng nên quy định theo hướng này cho phù

hợp với pháp luật của các nước Hơn nữa, quy

định như vậy vẫn đáp ứng được các điều kiện

để một giải pháp kĩ thuật được bảo hộ là sáng

chế đồng thời lại khuyến khích sự sáng tạo

của các cá nhân, tổ chức

Thứ hai, các sáng tạo liên quan đến công

nghệ sinh học chưa được quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Công nghệ sinh học bao gồm tất cả các phương pháp kĩ thuật mà sử dụng hoặc dẫn đến những thay đổi hữu cơ trong nguyên liệu sinh vật học (như các tế bào động, thực vật hoặc các dòng tế bào, vi-rút), các vi sinh vật, các động và thực vật; hoặc dẫn đến những thay đổi trong các nguyên liệu vô cơ bằng các cách thức sinh vật học Nói cách khác, bất kì công nghệ nào khai thác các vấn đề hoá sinh của các tổ chức sống hoặc sản phẩm của các

tổ chức sống là công nghệ sinh học

Mặc dù, cho đến nay lĩnh vực công nghệ sinh học có lẽ còn xa lạ, ít được bàn đến ở nước ta Tuy nhiên, công nghệ sinh học được thừa nhận là ngành công nghệ hứa hẹn nhất trong tương lai Những kết quả của công nghệ sinh học đã đem lại những lợi ích to lớn cho không chỉ các lĩnh vực y tế, thực phẩm mà

còn các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nữa Ví

dụ, những sáng chế về các tổ chức vi sinh vật,

động và thực vật đã cho chúng ta các sản phẩm bánh mỳ, rượu, thuốc kháng sinh, vắc-xin; các sáng chế về gen trong quá trình truyền giống vô tính… Cho nên, cần thiết phải có cơ sở pháp lí chắc chắn để khuyến khích những sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ sinh học của các tổ chức, cá nhân trong nước đồng thời cũng khuyến khích những sáng tạo trong lĩnh vực này từ nước ngoài được chuyển vào nước ta và sử dụng chúng một cách hiệu quả Bởi vậy, cần thừa nhận việc bảo hộ các sáng chế về công nghệ sinh học trong BLDS Bên cạnh đó, tất nhiên chúng ta cũng cần quy định cụ thể khái niệm công nghệ sinh học, các đối tượng công nghệ sinh học có thể được bảo hộ, thủ tục để được

Trang 3

bảo hộ… Các nước thuộc EU, Nhật Bản và

Mĩ là những quốc gia đi đầu và đã gặt hái

được nhiều thành công trong lĩnh vực này

Thứ ba, về bảo hộ phần mềm máy tính với

danh nghĩa là sáng chế

Hiện nay, theo quy định của pháp luật

nước ta, phần mềm máy tính chỉ được bảo hộ

bởi pháp luật bản quyền Trong khi đó, ở

nhiều quốc gia trên thế giới, phần mềm máy

tính không chỉ được bảo hộ bởi pháp luật bản

quyền mà còn được bảo hộ với danh nghĩa là

sáng chế Mĩ và Nhật - hai quốc gia có ngành

công nghiệp phần mềm phát triển mạnh nhất

thế giới đã cấp hàng chục nghìn bằng độc

quyền sáng chế cho những sáng tạo liên quan

đến phần mềm máy tính Uỷ ban châu Âu

cũng đã xem xét việc loại bỏ chương trình

máy tính ra khỏi danh sách các đối tượng

không thể được bảo hộ với danh nghĩa là sáng

chế.(1)

Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng bảo hộ độc

quyền sáng chế đối với phần mềm máy tính

đóng góp vô cùng to lớn cho việc thúc đẩy

ngành công nghiệp phần mềm của quốc gia

phát triển Do vậy, khi sửa đổi, bổ sung BLDS

chúng ta nên xem xét để bảo hộ phần mềm

máy tính bằng cả pháp luật bản quyền và pháp

luật sáng chế Chắc chắn rằng sự bảo vệ này sẽ

thúc đẩy ngành công nghiệp phần mềm sơ khai

và non trẻ của chúng ta phát triển Hơn nữa, nó

cũng tạo ra sự thuận lợi hơn cho các cá nhân, tổ

chức Việt Nam khi thiết lập quan hệ thương mại

với các đối tác Mĩ, Nhật và Liên minh châu Âu

2 Kiểu dáng công nghiệp

Hiệp định TRIPs yêu cầu các nước thành

viên phải có sự bảo hộ hợp lí đối với kiểu

dáng hàng dệt (khoản 2 Điều 25) Điều này

cũng được đặt ra trong Hiệp định thương mại

Việt - Mĩ Yêu cầu này là phù hợp, bởi vì,

kiểu dáng hàng dệt nói chung có chu kì khai thác rất ngắn, thường xuyên phải thay đổi theo thời tiết và thị hiếu của người tiêu dùng, cho nên, nếu chúng ta vẫn thực hiện quy trình đăng kí, xét nghiệm, cấp văn bằng bảo hộ như đối với các loại kiểu dáng công nghiệp khác thì dẫn đến hệ quả là chi phí cho việc bảo hộ quá lớn, thời gian xét nghiệm dài làm cho kiểu dáng có thể bị lỗi thời khi được cấp văn bằng bảo hộ

Cho đến nay, Việt Nam chưa có quy định riêng để bảo hộ kiểu dáng hàng dệt cũng như kiểu dáng các sản phẩm thời trang khác như giày, dép, túi xách… Trong thời gian tới, chúng ta cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho loại kiểu dáng này cho phù hợp với các công ước, hiệp ước mà chúng ta đã và sẽ tham gia Hơn nữa, quy định này có ý nghĩa thiết thực với đối với đất nước ta, khi ngành công nghiệp dệt, may là một trong những ngành xuất khẩu mòi nhọn, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước trong nhiều năm gần đây

3 Nhãn hiệu hàng hoá

Liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, một số vấn đề sau đây nên được xem xét khi sửa đổi,

bổ sung BLDS:

Thứ nhất, về các dấu hiệu được công nhận

là nhãn hiệu hàng hoá

Theo quy định hiện nay thì “nhãn hiệu

hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ

sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” (Điều 785 BLDS, được

quy định chi tiết tại Điều 6 Nghị định số 63/CP) Rõ ràng, theo quy định hiện hành, chỉ những từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các

Trang 4

yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều

màu sắc mới có thể được bảo hộ là nhãn hiệu

hàng hóa Quy định này chưa thoả đáng

Chúng ta nên quy định phạm vi rộng hơn

những dấu hiệu có khả năng được bảo hộ là

nhãn hiệu hàng hoá như không gian ba chiều,

âm thanh, thậm chí cả các dấu hiệu mùi, vị

Kiến nghị này dựa trên những cơ sở sau đây:

- Khác với các đối tượng sở hữu công

nghiệp khác, điều kiện duy nhất (hay thuộc

tính) để một hoặc những dấu hiệu được công

nhận là nhãn hiệu hàng hoá chỉ là khả năng

phân biệt với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của

các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Bởi

vậy, về nguyên tắc, bất kì dấu hiệu nào cho dù

là có thể nhìn thấy như từ ngữ, hình ảnh, màu

sắc (bao gồm màu sắc trong sự kết hợp với

các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc),

không gian ba chiều hoặc không được nhìn

thấy như âm thanh, mùi, vị nếu như có khả

năng phân biệt đều có thể được đăng kí là

nhãn hiệu hàng hoá

- Theo các văn bản pháp luật quốc tế cũng

như pháp luật của các quốc gia, các dấu hiệu

có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng hóa

được quy định rất rộng Ví dụ, theo Điều

15(1) TRIPs thì bất kì dấu hiệu hoặc tổ hợp

các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng

hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với

hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp

khác đều có thể được công nhận là nhãn hiệu

hàng hoá Như vậy, việc mở rộng phạm vi các

dấu hiệu có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng

hoá hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc

tế về lĩnh vực này cũng như pháp luật của các

nước khác trên thế giới

- Thực tế đã chỉ ra rằng bên cạnh các dấu

hiệu truyền thống, phổ biến như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, các dấu hiệu khác như không gian ba chiều,(2)

âm thanh,(3) mùi,(4) vị, chỉ riêng màu sắc(5)

cũng đóng vai trò tích cực là

“người chỉ dẫn”, hay “người phân biệt” hàng hoá, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh

khác nhau

Thứ hai, về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng

Cần bổ sung các quy định nhằm bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng, bởi vì, nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng là đối tượng đã được thừa nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế quan trọng Trước tiên là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 (Điều 6 bis) và sau đó là TRIPs (Điều 16(1)) Hơn nữa, nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng là loại nhãn hiệu hàng hoá mà có một số đặc thù, do vậy cần có những quy định riêng để điều chỉnh cho phù hợp Thực tế cho đến nay, nhiều nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng đã vào thị trường Việt Nam (như Coca-Cola, Honda, Malboro, Ford ) và một số đã hoạt động rất hiệu quả Bởi vậy, quy định cụ thể về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng cũng nhằm khuyến khích các nhà đầu tư lớn của nước ngoài vào

Việt Nam

Thứ ba, về nhãn hiệu chứng nhận

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu để chỉ

ra rằng hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định, có thể là tiêu chuẩn quốc gia (hàng Việt Nam chất lượng cao), tiêu chuẩn khu vực (tiêu chuẩn châu Âu) hoặc tiêu chuẩn quốc tế (ISO

9002 - International standar organization) Những chứng nhận này khẳng định chất lượng của hàng hoá, dịch vụ Bởi vậy, nó tạo

Trang 5

lòng tin cho người tiêu dùng và tất yếu đem

lại lợi ích cho doanh nghiệp

Nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ bởi

nhiều quốc gia trên thế giới và cũng được đề

cập trong Hiệp định thương mại Việt - Mĩ

Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa

quy định về nhãn hiệu chứng nhận Rõ ràng,

đây là điểm bất cập, chúng ta cần bảo hộ nhãn

hiệu này trong thời gian tới

4 Tên gọi xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn địa lí

“Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lí

của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ

của mặt hàng từ nước, địa phương đó với

điều kiện những mặt hàng này có các tính

chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều

kiện địa lí độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố

tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu

tố đó” (Điều 786 BLDS)

Chỉ dẫn địa lí được hiểu là thông tin về

nguồn gốc địa lí của hàng hoá thể hiện dưới

dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc

hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc vùng

lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia mà

hàng hoá đó có được chất lượng, uy tín, danh

tiếng chủ yếu là do vùng đó tạo nên (Nghị định

số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000)

Trước khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP

được ban hành, chúng ta vẫn hiểu rằng tên gọi

xuất xứ hàng hoá chứa đựng hai thuộc tính là

chỉ dẫn nguồn gốc địa lí của hàng hoá và chỉ

dẫn địa điểm xuất xứ hàng hoá liên quan tới

các tính chất, chất lượng đặc thù của hàng hoá

đó có được.(6)

Còn sau khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP được ban hành, lại có ý kiến

cho rằng điểm khác biệt cơ bản giữa tên gọi

xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn địa lí là: Nếu

hàng hoá theo tên gọi xuất xứ phải “có tính chất,

chất lượng đặc thù” thì hàng hoá theo chỉ dẫn địa

lí phải đạt được yêu cầu cao hơn là có “uy tín,

danh tiếng” Trong thực tế, sự khác biệt giữa hai

đối tượng này chưa được làm rõ

Nên hiểu rằng thông tin xuất xứ (chứ không gọi là tên gọi xuất xứ) là những thông tin chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hoá, giúp người tiêu dùng biết được hàng hoá đến từ đâu và loại thông tin này được áp dụng cho mọi loại hàng hoá Trong thương mại quốc tế, loại thông tin này được gọi là C/O (Certificate

of Origin) C/O là điều kiện quan trọng trong hoạt động xuất, nhập khẩu và xác định các ưu đãi về thuế quan của các quốc gia Còn chỉ dẫn địa lí là những chỉ dẫn hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước, từ khu vực hoặc địa phương có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính riêng chủ yếu do xuất xứ địa lí quyết định (Điều 22 Hiệp định TRIPs) Như vậy, định nghĩa về chỉ dẫn địa lí tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP phù hợp với TRIPs và nên được giữ nguyên Một điều đáng lưu ý là các nước trên thế giới chỉ coi chỉ dẫn địa lí (geographical indication) là một loại đối tượng sở hữu công nghiệp mà không bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá với ý nghĩa là một đối tượng sở hữu công nghiệp

Như vậy, trong thời gian tới, chúng ta có thể lựa chọn: 1) Chỉ quy định về chỉ dẫn địa lí như các quốc gia khác trên thế giới; 2) Thừa nhận cả chỉ dẫn địa lí và tên gọi xuất xứ hàng hoá nhưng phải quy định rõ ràng, chi tiết về từng đối tượng để có cơ sở phân biệt chúng

5 Bí mật kinh doanh

(Điều 39 TRIPs) quy định bảo hộ “thông

tin kín” Quy định này được đưa ra nhằm bảo

Trang 6

hộ có hiệu quả chống lại hành vi cạnh tranh

không lành mạnh quy định tại Điều 10 bis

Công ước Paris

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành,

chúng ta chỉ bảo hộ bí mật kinh doanh tức là

những thông tín kín trong lĩnh vực kinh doanh

(Nghị định số 54/2000/NĐ-CP) Các thông tin

đặc quyền và các thông tin kín trong các lĩnh

vực khác cho dù có giá trị kinh tế cũng không

được bảo hộ

Rõ ràng, quy định này hẹp hơn rất nhiều

so với quy định của TRIPs và Hiệp định

thương mại Việt-Mĩ Quy định này cũng thể

hiện nhiều bất cập trong thực tiễn Bởi vậy,

chúng ta nên mở rộng phạm vi bảo hộ đối với

các thông tin kín nói chung chứ không phải

chỉ riêng bí mật kinh doanh

6 Tên miền

Tên miền là địa chỉ INTERNET của cá

nhân hoặc tổ chức nào đó Ví dụ: www.vnn.vn;

www.microsof.com; www.cocacola.com…

Trong thời đại hiện nay, khi công nghệ

thông tin ngày càng phát triển và chứng tỏ vai

trò của nó, khi thương mại điện tử không thể

thiếu được trong hoạt động kinh doanh, chúng

ta không thể không bảo hộ tên miền với ý

nghĩa là đối tượng sở hữu công nghiệp Quy

định về tên miền là cơ sở pháp lí giải quyết

nhiều tranh chấp phát sinh khi sử dụng tên

miền trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm

lẫn với tên thương mại, với nhãn hiệu hàng

hoá đã được bảo hộ Hơn nữa, nó cũng góp

phần hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh

trong kinh doanh

7 Đưa các đối tượng sở hữu công

nghiệp đã được bảo hộ trong các văn bản

hướng dẫn thi hành vào quy định trong Bộ

luật dân sự

Theo Điều 781 BLDS, các đối tượng sở

hữu công nghiệp được bảo hộ gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá

và các đối tượng khác do pháp luật quy định Chỉ đến khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP được ban hành, “các đối tượng khác” mới được xác định là bí mật kinh doanh, tên thương mại và chỉ dẫn địa lí Đến Nghị định số

13/2001/NĐ-CP thì giống cây trồng được bảo hộ tại Việt Nam Cho đến nay, Việt Nam cũng đã bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp (theo Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 02/5/2003 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn) Tất cả những đối tượng mới được bảo hộ này cần được đưa vào quy định thống nhất trong Bộ luật dân sự./

(1) Ngày 20/2/2002, Uỷ ban châu Âu đã xem xét dự thảo sửa đổi Điều 52 của Công ước Munich 1973 về sáng chế châu Âu

(2) Hình dáng bên ngoài của một tổ hợp kiến trúc gồm nhà hàng, khách sạn, khu giải trí, khu thương mại được đăng kí là nhãn hiệu hàng hoá - Nhãn hiệu số 2048209 của Anh

(3) Âm thanh được đăng kí là nhãn hiệu âm thanh cho điện thoại Nokia - Nhãn hiệu số 001040955 của Cộng đồng châu Âu

(4) Mùi của cỏ vừa mới cắt được đăng kí là nhãn hiệu mùi cho bóng tennis - Dữ liệu từ vụ việc R156/1998-2 của Cộng đồng châu Âu; mùi của hoa hồng được đăng

kí là nhãn hiệu cho chỉ thêu - Dữ liệu từ vụ Re Clarke

17 USPQ 2d 1238 (1990) của Mĩ

(5) Màu tím được đăng kí là nhãn hiệu màu cho kẹo socola

- Nhãn hiệu số 000031336 của Cộng đồng châu Âu (6).Xem: Giáo trình luật dân sự - Trường đại học luật

Hà Nội, tr 574

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w