Bàn về pháp luật dân sự của các triều đại phong kiến ở nước ta, phải kể đến Bộ Hoàng Việt luật lệ 1812.. Bộ luật Gia Long hầu như không mang bản sắc dân tộc Việt Nam, quá lệ thuộc vào lu
Trang 1iệt Nam là đất nước có cả nghìn năm văn
hiến Lẽ đương nhiên, cùng với sự ra đời
của các triều đại phong kiến, pháp luật cũng
được hình thành Trong các triều đại phong
kiến Việt Nam đ0 có các bộ luật: Bộ hình thư
(triều Lý), Bộ Quốc triều thống chế (triều
Trần), Bộ Quốc triều hình luật (triều Lê), Bộ
Hoàng Việt luật lệ (triều Nguyễn) Cho đến
ngày nay, hai bộ luật thời Lí, Trần không còn
được lưu lại mà "theo Phan Huy Chú (Lịch
triều hiến chương loại chí, Văn tích chí), quan
quân nhà Minh đ& tịch thu bộ sách này, với
dụng ý phá hoại nền văn hóa xứ ta".(1) Chỉ có
bộ Quốc triều hình luật và bộ Hoàng Việt luật
lệ là còn lưu lại mà thôi
Bộ Quốc triều hình luật được các nhà
nghiên cứu đánh giá rất cao, bởi lẽ, Bộ luật này
không những có nội dung phong phú, mà còn
mang đậm bản sắc dân tộc Bộ Quốc triều hình
luật có 722 điều, chia 6 quyển, mỗi quyển có 2
chương Riêng quyển thứ 3 có 3 chương, trong
đó có 2 chương nói về các chế định của luật
dân sự lúc bấy giờ, cụ thể: Gia đình và giá thú
(các điều từ 284 đến 341); điền sản và thừa kế
(các điều từ 342 đến 387); luật hương hoả (các
điều từ 388 đến 394)
Bàn về pháp luật dân sự của các triều đại
phong kiến ở nước ta, phải kể đến Bộ Hoàng Việt luật lệ (1812) Bộ luật này gồm có 398
điều quy định về hoạt động của 6 bộ (Bộ lại, Bộ
hộ, Bộ lễ, Bộ binh, Bộ công và Bộ hình) So với
bộ Quốc triều Hình luật, bộ Hoàng Việt luật lệ
có những hạn chế nhất định về nội dung cũng như hình thức Bộ luật Gia Long hầu như không mang bản sắc dân tộc Việt Nam, quá lệ thuộc vào luật lệ của nhà Thanh ở Trung Quốc, "Từ cách bố cục đến nội dung các điều khoản Luật Gia Long đ& theo đúng bộ Đại Thanh luật lệ
định của luật dân sự như thừa kế; chúc thư, hôn sản, hương hoả không được quy định trong Bộ luật Mặc dù vậy, Bộ luật Gia Long vẫn có hiệu lực trên l0nh thổ miền Bắc cho đến khi Bộ dân luật Bắc kì được ban hành (năm 1931), ở miền Trung cho đến khi Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật được ban hành (1936) ở miền Nam, tuy từ năm 1883 đ0 có Bộ dân luật giản yếu điều chỉnh các quan hệ dân sự nhưng trong những trường hợp Bộ dân luật giản yếu không quy
định người ta có thể viện dẫn Bộ luật Gia Long, thậm chí cả Quốc triều hình luật
V
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Tóm lại, Bộ Quốc triều hình luật và Bộ
Hoàng Việt luật lệ, ngoài những quy định về
luật hình sự, còn chứa đựng một số chế định
của luật dân sự và một số ngành luật khác và
"hai bộ luật cổ này có thể đựơc coi như nguồn
Trong thời kì Pháp thuộc, nước Việt Nam
được chia làm ba miền (Bắc bộ, Trung bộ, Nam
bộ) với những chế độ chính trị khác nhau: Bắc
bộ, Trung bộ là đất bảo hộ, Nam bộ là thuộc
địa Pháp Vì vậy, mỗi miền có pháp luật riêng
của mình và luật dân sự cũng không nằm ngoài
tình trạng đó, trong phạm vi l0nh thổ Việt Nam
có ba bộ luật dân sự được ban hành, dành riêng
cho ba miền Bắc,Trung, Nam
ở Nam bộ, để điều chỉnh các quan hệ dân
sự, Tổng thống Pháp đ0 ban hành Bộ dân luật
giản yếu năm 1883 Bộ dân luật giản yếu có 10
thiên quy định các vấn đề về nhân thân, hộ tịch,
giá thú, phụ hệ, nghĩa dưỡng, vô năng thoát
quyền và giám hộ Bộ luật này có nhiều thiếu
sót về nội dung cũng như hình thức Về nội
dung, trong Bộ luật không có các chế định
quan trọng của luật dân sự như nghĩa vụ, khế
ước, trách nhiệm dân sự, thừa kế, hôn sản Về
hình thức, từ bố cục đến các điều khoản, bộ
luật này giống hệt quyển 1 của Bộ luật dân sự
Pháp năm 1804 Có thể nói, Bộ dân luật giản
yếu là "một bộ luật của phương Tây, được du
nhập vào Việt Nam nên không phản ánh được
Hai bộ luật cổ (Quốc triều hình luật và
Hoàng Việt luật lệ) được áp dụng ở Nam bộ
cho đến khi Bộ dân luật giản yếu ra đời và kể
cả sau đó, trong những trường hợp Bộ dân luật giản yếu không có quy định
Ngoài ra, ở Nam bộ, trong thời kì Pháp thuộc, một văn bản pháp luật dân sự quan trọng phải được kể đến đó là Sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 25/7/1925 quy định chế độ tài sản tại Nam bộ và các nhượng địa của Pháp hồi
đó là 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng Sắc lệnh này gồm 431 điều chia làm 3 phần quy định về vật quyền; về sự thủ đắc và
di chuyển các bất động sản, sự thuê mượn và sai áp bất động sản; về địa tô
ở Bắc Bộ và Trung Bộ, các bộ luật cổ (Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ) vẫn là những văn bản chủ yếu điều chỉnh các quan hệ dân sự cho đến khi mỗi miền có bộ luật riêng của mình Cụ thể, cho đến khi ở Bắc
bộ có Bộ dân luật Bắc kì (1931) và ở Trung Bộ
có Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật (1936, 1938)
Bộ dân luật Bắc kì quy định về các vấn đề gia đình, hôn sản, thừa kế và các vấn đề về tài sản, nghĩa vụ, khế ước Nhìn chung, Bộ dân luật Bắc kì có những quy định đầy đủ hơn và tuy vẫn chịu sự ảnh hưởng của luật dân sự Pháp nhưng bản sắc dân tộc được thể hiện rõ nét hơn
Bộ dân luật giản yếu
Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật hay còn gọi là Bộ dân luật Trung gồm có 1709 điều, chia làm 5 quyển và những quyển này được 3
Đạo dụ kế tiếp ban hành vào những ngày 13/7/1936, 8/01/1938 và 28/9/1938 Về nội dung, Bộ Hoàng Việt Trung kì Hộ luật cơ bản giống Bộ dân luật Bắc kì, chỉ có một số sửa đổi
Trang 3nhất định Riêng các vấn đề về nghĩa vụ, khế
ước trong Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật quy
định cụ thể, chi tiết hơn Bộ dân luật Bắc Cũng
giống như Bộ dân luật Bắc kì, Bộ Hoàng Việt
Trung kì hộ luật quy định cụ thể hơn và có
nhiều điều khoản phản ánh phong tục tập quán
Việt Nam hơn hẳn Bộ dân luật giản yếu
Tóm lại, các chế định, các quy định của
luật dân sự đ0 có từ trong thời kì phong kiến
nhưng m0i đến khi có ba bộ luật trong thời kì
Pháp thuộc thuật ngữ "luật dân sự" mới được
biết đến ở Việt Nam Pháp luật dân sự ở Việt
Nam trong thời kì Pháp thuộc có nội dung khá
rộng, bao gồm các vấn đề về dân sự, hôn nhân
gia đình, đất đai và thậm chí về cả tố tụng dân
sự Về hình thức cũng như nội dung, ở một
chừng mực nhất định, các Bộ luật dân sự đ0
phản ánh được bản sắc dân tộc nhưng vẫn chịu
ảnh hưởng nặng nề của pháp luật phương Tây,
đặc biệt là pháp luật dân sự Pháp
Bàn về luật dân sự dưới chế độ cũ cũng cần
lưu ý rằng mặc dù Cách mạng tháng Tám thành
công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
được thành lập nhưng do những điều kiện chính
trị, x0 hội lúc bấy giờ nên Sắc lệnh số 90/SL
ngày 10/10/1945 của Chủ tịch nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà vẫn cho phép các bộ luật cũ
tạm thời giữ nguyên hiệu lực ở Bắc, Trung,
Nam bộ lúc bấy giờ cho đến khi ban hành
những bộ luật duy nhất cho toàn quốc "nếu
những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc
lập của nước Việt Nam và chính thể nhân dân
cộng hòa"
Sau năm 1954, đất nước Việt Nam lại bị
phân chia ra hai miền với hai chế độ chính trị, hai chính thể quốc gia khác nhau Vì vậy, pháp luật (trong đó có pháp luật dân sự) ở hai miền cũng khác nhau ở miền Bắc, đến năm 1959 các bộ luật dân sự được ban hành trong thời kì trước đó mới bị hủy bỏ và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đ0 ban hành hệ thống pháp luật dân sự mới ở miền Nam, ba bộ dân luật trong thời kì Pháp thuộc cùng với Bộ luật gia
đình năm 1959 do chính quyền Sài Gòn ban hành (được thay thế bằng Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964) có vai trò quan trọng trong việc
điều chỉnh các quan hệ dân sự Các văn bản trên chỉ hết hiệu lực thi hành khi chính quyền Sài Gòn ban hành Bộ dân luật vào ngày 20/12/1972 Bộ dân luật này quy định khá cụ thể, chi tiết các nội dung của luật dân sự Nội dung của luật dân sự trong thời kì này rất rộng, nó bao hàm cả những quy định về các lĩnh vực hôn nhân gia đình, đất đai v.v Như đ0 phân tích ở trên, các quy định của luật dân sự có từ thời phong kiến, còn pháp luật thương mại hầu như không được biết đến trong pháp luật Việt Nam thời phong kiến Điều đó
có thể lí giải như sau:
Việt Nam từ xưa tới nay vốn là nước nông nghiệp Trong x0 hội, chỉ chuyên sản xuất nông nghiệp, lại chú trọng nhiều đến đời sống tinh thần thì một mặt không tạo ra được nhiều loại sản phẩm khác loại cho việc trao đổi thương mại, mặt khác, nhu cầu vật chất cũng rất hạn chế, không đủ thúc đẩy thương mại phát triển Hoạt động thương mại của người Việt được thực hiện trong phạm vi hẹp (tỉnh hoặc liên
Trang 4tỉnh) Còn người nước ngoài (người Hoa, người
Hà Lan, người Bồ Đào Nha, người ấn Độ v.v )
cũng chỉ được hoạt động thương mại trong
những địa điểm nhất định do các vua, chúa
đương đại định trước Có thể nói, nền thương
mại Việt Nam lúc bấy giờ còn kém cỏi, chưa có
gì phát triển đáng kể Về vấn đề này GS Trần
Văn Giàu đ0 nhận xét: "Gia Long, Minh Mạng
có cho đúc vàng và bạc thành lạng, quy định
10 lạng bạc bằng 1 lạng vàng, điều ấy chứng tỏ
rằng hồi Nguyễn sơ, gặp lúc hòa bình trở lại,
thương mại có tiến lên Nhà nước và nhân dân,
nhiều hay ít có dùng đồng bạc Mễ tây cơ để
trao đổi với nước ngoài Nhưng lấy chung sự
lưu thông của đồng tiền kẽm, tiền đồng đủ
chứng minh rằng nền thương mại rất kém cỏi,
rằng sự tích lũy vốn liếng không có bao nhiêu,
rằng trình độ sinh hoạt vật chất của nhân dân
rất thấp".(5)
Phải đến thời Pháp thuộc ở nước ta mới có
những quy định, chế định của luật thương mại
Cụ thể: Năm 1864 người Pháp đem Bộ luật
thương mại của mình áp dụng vào Nam bộ và
Bộ luật đó cũng được áp dụng vào Bắc Bộ năm
1888 Bộ luật thương mại Pháp quy định về các
vấn đề như thương gia và quyền hạn nghĩa vụ
của thương gia; về các hội buôn; về thương
phiếu; về luật hàng hải; về phá sản (khánh tận)
và về tòa án thương mại
Năm 1892, Pháp ban hành sắc lệnh quy
định việc hành nghề thương mại của người á
Đông ngoại quốc và người Việt Nam sinh
tại các nhượng địa Pháp (Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng) thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Pháp
Theo tinh thần các văn bản kể trên, hoạt
động thương mại của các thương nhân trên l0nh thổ Việt Nam được điều chỉnh bằng pháp luật của Pháp, trong trường hợp những người này có
vi phạm thì được xét xử ở các tòa án Pháp và theo pháp luật của Pháp
Ngoài những văn bản đó, về sau còn có những văn bản khác quy định về từng vấn đề cụ thể như: Đạo luật về bán và cầm cố cửa hàng thương mại năm 1909; Đạo luật về bảo vệ quyền sở hữu cửa hàng thương mại (1926); Luật về hối phiếu, thương phiếu (1894, 1922, 1935); Sắc luật về chi phiếu (1935) v.v
M0i đến năm 1942, triều đình Huế mới ban hành Bộ luật thương mại Trung phần Bộ luật này có nội dung cơ bản giống Bộ luật thương mại của Pháp, có hiệu lực thi hành tại Trung Bộ
từ ngày 25/1/1944
Sau Cách mạng tháng Tám, trên cơ sở Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945 và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong những năm đầu cách mạng, pháp luật về thương mại vẫn còn
có hiệu lực trừ những luật lệ trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể nhân dân cộng hòa
Hòa bình lập lại (năm 1954), đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn
đ0 ban hành nhiều văn bản pháp luật về thương mại quan trọng Chẳng hạn như: Luật số 13/57
về nh0n hiệu thương mại; Luật số 12/57 về bằng
Trang 5sáng chế; Nghị định số 92/BKT/CKN ngày
9/4/1968 và Nghị định số 406/BKT/ND ngày
11/10/1968 về danh sách các ngành nghề tiểu
công nghệ v.v Quan trọng hơn hết trong pháp
luật thương mại Việt Nam dưới chế độ cũ phải
kể đến Bộ luật thương mại ban hành ngày
20/12/1972 Bộ luật này gồm có 5 quyển với
1051 điều quy định về các nhà buôn, nhiệm vụ
của các nhà buôn, các h0ng thương mại (quyển
thứ nhất, từ điều 1 đến điều 142)); những
thương hội (quyển thứ 2, từ điều 143 đến điều
339); những hành vi thương mại (quyển thứ 3,
từ điều 340 đến 548 điều ); thương mại hàng
hải (quyển thứ 4, từ điều 549 đến điều 863) và
về khánh tận, phá sản và thanh toán tư pháp
(quyển thứ 5, từ điều 864 đến điều 1051)
Với sự ra đời của Bộ luật thương mại, luật
thương mại Việt Nam thời bấy giờ đ0 có bước
phát triển đáng kể với nội dung khá phong phú,
đề cập nhiều vấn đề của đời sống thương mại ở
miền Nam Việt Nam Luật thương mại Việt
Nam cộng hòa có những vấn đề cơ bản như:
Định nghĩa và lịch sử của luật thương mại;
những hành vi thương mại; thương gia và sự
hành nghề thương mại; những nhiệm vụ nghề
nghiệp của nhà buôn; cửa hàng thương mại;
khế ước thương mại; thương phiếu và hối
phiếu; những hội buôn, khánh tận, phá sản và
tư pháp thanh toán tài sản Ngoài ra, trong
luật thương mại còn đề cập vấn đề tòa án
thương mại
Tóm lại, các quy định, chế định của luật
dân sự xuất hiện khá sớm trong x0 hội Việt
nam, từ thời kì phong kiến Nhưng m0i đến
khi có ba bộ dân luật trong thời kì Pháp thuộc thuật ngữ "luật dân sự" mới được biết đến ở Việt Nam Trong thời kì đầu của cách mạng, các bộ dân luật trong thời pháp thuộc vẫn có những ý nghĩa nhất định trong việc điều chỉnh các hệ dân sự ở nước ta Còn các quy
định của luật thương mại ra đời muộn hơn, phải đến thời kì Pháp thuộc mới có những quy định, chế định của luật thương mại Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước bị chia cắt
ra hai miền với hai chế độ kinh tế, chính trị, văn hoá khác nhau Do đó, luật kinh tế ở miền Bắc và luật thương mại ở miền Nam có
sự khác nhau về bản chất ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn tiếp tục kế thừa pháp luật thương mại thời kì pháp thuộc đồng thời ban hành các văn bản pháp luật thương mại mới mà đỉnh cao của nó là Bộ luật thương mại năm 1972 Luật thương mại ở miền Nam dưới chế độ cũ tồn tại như là ngành luật phái sinh từ luật dân sự Có thể nhận thấy rằng về nội dung cũng như hình thức, luật dân sự và luật thương mại Việt Nam dưới chế độ cũ có những nét tương đồng cơ bản với pháp luật về dân sự và thương mại của các nước châu Âu lục địa./
(1).Xem: Lê Tài Triển (1972), “Luật thương mại Việt Nam dẫn giải”, Quyển 1, Kim Lai ấn quán, Sài Gòn, tr.20
(2), (3), (4), Xem: TS.Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật, Quyển 1, Viện đại học Cần Thơ xuất bản, TP Cần Thơ (1967), tr 87, 91, 93, 56
(5).Xem: Trần Văn Giàu, “Giai cấp công nhân Việt Nam”, Nxb Sự thật Hà Nội (1958), tr 25