Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại".1 Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một số suy nghĩ xung quanh pháp luật hiện hành về đất di tích lịch sử, văn hoá và da
Trang 1Nguyễn Quang Tuyến * iệc quản lí và bảo vệ những di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
(gọi tắt là di tích lịch sử) có ý nghĩa rất quan
trọng nhằm giáo dục các thế hệ người Việt
Nam kế thừa và phát huy những truyền thống
văn hóa, lịch sử tốt đẹp của cha ông Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đ?
chỉ rõ: "Bảo tồn và phát huy các di sản văn
hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật,
ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mĩ tục
của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử,
văn hóa và danh lam thắng cảnh, khai thác
các kho tàng văn hóa cổ truyền Tiếp thu tinh
hoa và góp phần làm phong phú thêm nền
văn hóa của nhân loại Đấu tranh chống sự
xâm nhập của văn hóa độc hại".(1) Trong
khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu ra
một số suy nghĩ xung quanh pháp luật hiện
hành về đất di tích lịch sử, văn hoá và danh
lam thắng cảnh (gọi chung là đất di tích)
nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật này và nâng cao hiệu quả quản lí và sử
dụng đất di tích trong nền kinh tế thị trường
1 Khái niệm di tích lịch sử, văn hóa và
danh lam thắng cảnh
Sau khi giành được độc lập năm 1945,
Đảng và Nhà nước ta đ? rất quan tâm đến
việc giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử
Điều này đ? được thể hiện bằng việc Nhà
nước ban hành các văn bản pháp luật quy định
về vấn đề này Ngày 23/11/1945, Hồ Chủ
Tịch đ? ban hành Sắc lệnh số 65/SL về bảo
tồn di tích Tiếp đó, Chính phủ đ? ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ và giữ gìn các di sản lịch sử, văn hóa vào các năm
1957, 1966, 1973 Đặc biệt, ngày 31/3/1984 Hội đồng nhà nước đ? thông qua Pháp lệnh
về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa
và danh lam thắng cảnh (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh DTLS năm 1984) Pháp lệnh DTLS năm 1984 lần đầu tiên đ? đưa ra khái niệm tương đối toàn diện về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Theo đó, di tích, lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
được hiểu như sau:
- Di tích lịch sử, văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, x? hội
- Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng cổ, đẹp nổi tiếng
Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực pháp lí của pháp luật về quản lí và bảo vệ di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong việc phát huy các giá trị vô giá của các di sản lịch sử, văn hóa Luật di sản văn hóa (Luật DSVH) đ? được Quốc hội khóa X kì họp thứ
9 thông qua ngày 29/6/2001 Luật DSVH ra
đời thay thế Pháp lệnh DTLS năm 1984, đáp
V
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2ứng đòi hỏi của công tác quản lí và bảo vệ
các di tích lịch sử, văn hóa trong nền kinh tế
thị trường Theo Luật DSVH thì di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là thành
tố của phạm trù di sản văn hóa và được quan
niệm như sau:
- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
- Danh lam thắng cảnh là cảnh quan
thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa
cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến
trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa học
(Điều 4)
So sánh với khái niệm về di tích lịch sử,
văn hoá và danh lam thắng cảnh được đề cập
trong Pháp lệnh DTLS năm 1984, chúng tôi
có một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất, khái niệm di tích lịch sử - văn
hoá được quy định khái quát và đầy đủ hơn
trong Luật DSVH Di tích lịch sử văn hoá
không chỉ là công trình xây dựng, địa điểm
mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia của công trình, địa điểm đó Chúng
tôi cho rằng quan niệm như vậy sẽ giúp cho
công tác bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá có
hiệu quả hơn, góp phần ngăn chặn nạn “chảy
máu” các cổ vật này
Thứ hai, khái niệm danh lam thắng cảnh
được Luật DSVH xác định trên hai phương
diện: Định tính (có giá trị về mặt thẩm mĩ)
và định lượng (có giá trị lịch sử, khoa học)
Như vậy, lần đầu tiên Luật DSVH tiếp cận
khái niệm danh lam thắng cảnh trong mối
quan hệ hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên
và công trình kiến trúc - sản phẩm sáng tạo
của con người Chúng tôi cho rằng cách tiếp
cận như vậy là rất khoa học và hợp lí, bởi lẽ hiện nay sự tác động của con người vào môi trường thiên nhiên nói chung và cảnh quan thiên nhiên nói riêng rất mạnh mẽ Sự tác
động này của con người diễn ra theo hai hướng tích cực và tiêu cực
- Hướng tích cực, nếu sự tác động của con người tuân theo những quy luật khách quan của tự nhiên sẽ bảo đảm không phá vỡ
sự cân bằng hay không gây tổn hại đến vẻ
đẹp của tự nhiên Ngược lại, nó còn bổ sung
và làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng hoàn thiện, phong phú hơn Đây chính là quan điểm phát triển bền vững mà thế giới đ? thừa nhận một cách rộng r?i
- Hướng tiêu cực, nếu sự tác động của con người vào cảnh quan thiên nhiên bất chấp các quy luật khách quan thì sẽ làm biến dạng, huỷ hoại thậm chí tàn phá những cảnh quan này Thực tế đ? cho chúng ta nhiều bài học đắt giá về vấn đề này
Như vậy, với nhận thức danh lam thắng cảnh không chỉ là những cảnh quan thiên nhiên mà còn bao hàm cả sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị khoa học và lịch sử sẽ giúp chúng ta có những suy nghĩ rất thận trọng trước khi hành động nhằm bảo vệ tốt nhất các danh lam thắng cảnh
Thứ ba, Luật DSVH đưa ra những tiêu chí cụ thể nhằm xác định di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh Điều này tạo thuận lợi và dễ dàng hơn cho các cơ quan chức năng trong việc xác định và xếp hạng các di tích Cụ thể:
- Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây:
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với
Trang 3sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng
nước và giữ nước;
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với
thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,
danh nhân của đất nước;
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với
sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kì cách
mạng, kháng chiến;
+ Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
+ Quần thể các công trình kiến trúc hoặc
công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu
về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều
giai đoạn lịch sử
- Danh lam thắng cảnh phải có một trong
các tiêu chí sau đây:
+ Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công
trình kiến trúc có giá trị thẩm mĩ tiêu biểu;
+ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa
học về địa chất, địa mạo, địa lí, đa dạng sinh
học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên
nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về
các giai đoạn phát triển của trái đất (Điều 28
Luật DSVH)
Tóm lại, khái niệm di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh được Luật
DSVH đề cập phù hợp với các quy định về di
sản văn hóa của Tổ chức giáo dục, khoa học
và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và
đáp ứng đòi hỏi của công tác quản lí nhà
nước về bảo vệ di sản văn hóa trong thời kì
"công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nước
hiện nay
2 Khái niệm đất di tích lịch sử, văn
hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi tắt
là đất di tích)
Trên thực tế, các di tích lịch sử, văn hoá
và danh lam thắng cảnh luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với đất đai, nơi trên đó có di tích và vùng đất bao quanh, bảo vệ Chính từ cách tiếp cận này mà Pháp lệnh DTLS năm 1984
đ? đưa ra quy định về vùng đất bao quanh, bảo vệ di tích Theo đó: “Mỗi di tích lịch sử, văn hoá là bất động sản và danh lam thắng cảnh có từ 1 đến 3 khu vực bảo vệ:
- Khu vực I là khu vực phải được bảo vệ nguyên trạng
- Khu vực II là khu vực bao quanh khu vực I được phép xây dựng những công trình nhằm mục đích tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
- Khu vực III là khung cảnh thiên nhiên của di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
Các khu vực bảo vệ đất di tích được xác
định theo chế độ do Hội đồng bộ trưởng (nay
là Chính phủ) quy định
Mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong những khu vực bảo vệ của di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh phải được phép của bộ trưởng Bộ văn hoá” (Điều 15) Như vậy, Pháp lệnh DTLS năm 1984 quy
định việc khoanh 3 vùng bảo vệ di tích trên
đây dựa trên những nguyên tắc khoa học của bảo tồn, bảo tàng nhằm bảo vệ và phát huy tốt hơn các giá trị của di tích Tuy nhiên, trong Pháp lệnh lại chưa đề cập khái niệm
đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh Điều này làm giảm hiệu quả của công tác bảo vệ các di tích
Khái niệm đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh lần đầu tiên được đề cập trong Luật đất đai năm 1987: “Đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
là đất có di tích lịch sử, văn hoá và danh lam
Trang 4thắng cảnh theo quy định của pháp luật”
(Điều 42) Và không chỉ dừng lại ở việc đưa
ra khái niệm về đất di tích, Luật đất đai năm
1987 còn quy định chế độ quản lí và sử dụng
loại đất này.(2) Tuy nhiên, Luật đất đai năm
1987 ra đời trong những năm đầu của công
cuộc đổi mới đất nước nên một số quy định
không còn phù hợp với sự thay đổi nhanh
chóng của tình hình phát triển kinh tế - x?
hội của đất nước Vì vậy, Luật đất đai năm
1993 đ? ra đời, thay thế cho Luật đất đai năm
1987 đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn
quản lí, sử dụng đất đai nói chung và đất di
tích nói riêng trong nền kinh tế thị trường
Theo đó, đất di tích được quan niệm như sau:
“Đất có di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh đS được xếp hạng phải được bảo
vệ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp đặc biệt cần thiết phải sử
dụng đất có di tích lịch sử, văn hoá, danh
lam thắng cảnh vào mục đích khác thì phải
được phép của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền” (Điều 69) So sánh với khái niệm đất
di tích được đề cập trong Luật đất đai năm
1987 thì đất di tích mà Luật đất đai năm
1993 quy định có nội hàm thu hẹp và cụ thể
hơn, chỉ còn là di tích lịch sử, văn hoá, danh
lam thắng cảnh đ? được xếp hạng Chúng tôi
cho rằng quy định như Luật đất đai năm
1993 là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
thực tế hiện nay Bên cạnh đó, pháp luật hiện
hành đ? xác định cụ thể thẩm quyền xếp
hạng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam
thắng cảnh - tiêu chí quan trọng để nhận biết
đất di tích lịch sử Theo Luật DSVH thì cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng di
tích bao gồm:
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định xếp
hạng di tích cấp tỉnh
- Bộ trưởng Bộ văn hóa - thông tin quyết
định xếp hạng di tích quốc gia
- Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, quyết định việc đề nghị Tổ chức giáo dục, khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới (Điều 30)
Để nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước
đối với di tích và đất di tích lịch sử trước những hành vi xâm phạm đang ngày càng gia tăng một cách đáng báo động, Luật DSVH
đ? quy định:
"1 Các khu vực bảo vệ di tích bao gồm: a) Khu vực bảo vệ I gồm di tích và vùng
được xác định là yếu tố gốc cấu thành di tích, phải được bảo vệ nguyên trạng
b) Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh khu vực bảo vệ I của di tích, có thể xây dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích
Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do bộ trưởng Bộ văn hóa - thông tin quyết định, đối với di tích quốc gia
đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định
2 Việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II quy định tại điểm b khoản 1
Điều này đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải có sự đồng ý bằng văn bản của bộ trưởng Bộ văn hóa - thông tin,
đối với di tích cấp tỉnh phải có sự đồng ý
Trang 5bằng văn bản của chủ tịch UBND cấp tỉnh
3 Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1
Điều này được xác định trên bản đồ địa
chính, kèm theo biên bản khoanh vùng bảo
vệ và phải được các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác nhận trong hồ sơ di tích"
(Điều 32) Bên cạnh, việc xác định các khu
vực bảo vệ, Luật DSVH cũng quy định rõ
quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân là
chủ sở hữu hoặc được giao quản lí di tích
(Điều 33) Từ những quy định được viện dẫn
trên đây chúng ta thấy, Luật DSVH đ? xác
định rất rõ 2 khu vực bảo vệ di tích so với 3
khu vực của Pháp lệnh DTLS năm 1984 Quy
định này của Luật DSVH phù hợp với quy
định của UNESCO là có hai khu vực (vùng
bảo vệ và vùng đệm), giúp cho việc khoanh
vùng và bảo vệ đất đai của di tích có tính khả
thi cao và phù hợp với pháp luật quốc tế
3 Thực trạng thi hành pháp luật về
đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam
thắng cảnh
Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng
gần 4 vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh
lam thắng cảnh Năm 1998, Bộ văn hóa -
thông tin phối hợp với các địa phương trong
cả nước tiến hành việc kiểm kê sơ bộ đất đai
tại các di tích Kết quả như sau:
- Số điểm kiểm tra: 2.183 di tích được
xếp hạng
- Diện tích đất của các di tích đạt xấp xỉ
22.000 ha (không kể diện tích của vịnh Hạ
Long là 155.300 ha)
Hiện nay, tổng số di tích được xếp hạng
là 2.736 di tích và tổng diện tích đất di tích
đ? được xếp hạng khoảng 30.000 ha Trong
đó, tổng diện tích của các công trình kiến trúc
cổ có giá trị thuộc di tích là 533.270 m2.(3)
Thực trạng của việc thực hiện pháp luật
về đất di tích cho thấy các hành vi xâm phạm các quy định về quản lí, sử dụng đất di tích
đang ngày càng gia tăng Điều này thể hiện ở những điểm cụ thể sau đây:
Thứ nhất, các hành vi xây dựng, cơi nới, lấn chiếm, sang tên, chuyển nhượng nhà đất
do người dân ở trong khu di tích gây ra Do nguyên nhân lịch sử mà hầu hết các di tích ở các khu đô thị đều có một số hộ dân ở Đầu tiên là do nhà chùa cưu mang cho ở nhờ tránh thiên tai lũ lụt, sơ tán chiến tranh hoặc
đi vùng kinh tế mới về Một số hộ khác được chính quyền địa phương cho ở tạm thời hoặc một số khác tự ý vào ở, lâu dần chính quyền
địa phương và nhà chùa không đòi lại được Trong quá trình sinh sống, nhân khẩu của các gia đình tăng lên dẫn đến nhu cầu về nhà
ở và tách hộ cũng tăng theo, từ đó phát sinh việc tự động cơi nới, mở rộng diện tích hoặc sửa chữa nhà, lấn chiếm đất làm cho khu di tích bị xâm hại và biến dạng Theo con số thống kê thì Hà Nội là địa phương có nhiều
di tích nhất trong cả nước, cụ thể là: "Trong
số 1.952 di tích có tới 384 di tích bị lấn chiếm ở nhiều mức độ khác nhau, chiếm 20% Trong 546 di tích được công nhận có tới 127 di tích với 881 hộ dân đang sống xen
kẽ trong di tích, chiếm 23% ở thành phố Hồ Chí Minh có 47 di tích được công nhận cấp quốc gia thì có tới gần 1/2 di tích bị xâm hại
Số di tích bị lấn chiếm, xây dựng cư ngụ trái phép sử dụng sai mục đích có tới 18 điểm".(4)
Tình trạng lấn chiếm đất di tích xảy ra ở các khu vực 3, khu vực 2 và cả khu vực 1 Đây là
điều đáng báo động, bởi lẽ ở khu vực 1 do tác động của việc cơi nới, sửa chữa, xây dựng
và lấn chiếm, cộng với sự xuống cấp của di
Trang 6tích qua thời gian đ? khiến nhiều di tích bị
hư hại nghiêm trọng như sập một phần, nhiều
phần hoặc gần như bị biến dạng Ví dụ: Di
tích chùa Ngũ Xá (quận Ba Đình, Hà Nội),
nhà tổ và nhà mẫu mái đ? gẫy gập, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của 7 hộ
dân sống trong khu di tích này Hay di tích
đình Trương Thị (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
nay dấu vết còn lại là bàn thờ trên gác của
một hộ gia đình Di tích chùa Hàm Long
(quận Hoàn Kiếm) nay chỉ còn lại một vài
bia đá và tháp tổ nằm rải rác, xen kẽ trong
nhà dân v.v
Thứ hai, các hành vi vi phạm đất di tích
lịch sử do các hộ dân ở khu vực liền kề khu
di tích lấn, chiếm xây nhà ở Do tốc độ phát
triển đô thị hóa nhanh chóng và sự tác động
của kinh tế thị trường làm cho giá đất đô thị
tăng lên một cách "chóng mặt" cũng như tình
trạng khan hiếm đất đô thị (nhất là ở các khu
vực trung tâm, mặt tiền các đường phố
chính) Vì thế, người dân ở khu vực liền kề
đất di tích cũng đua nhau xây nhà, lấn chiếm
đất, trong đó có đất di tích Ví dụ: Có những
nhà dân xây ban công đè lên hoặc trùm lên
mái nhà chùa như di tích chùa Quang Minh
(quận Đống Đa Hà Nội) Thậm chí có những
hộ xây nhà ngay lối cửa chính đi vào di tích,
khiến một số di tích phải đóng cửa chính và
phải đi cửa phụ như di tích chùa Đồng
Quang, chùa Sét (quận Hai Bà Trưng Hà
Nội)v.v
Thứ ba, hành vi xâm phạm đất di tích do
cơ quan nhà nước đặt trụ sở trong khu di tích
Hiện tượng xâm phạm đất di tích còn do một
số cơ quan nhà nước, đơn vị bộ đội, trường
học, lớp mẫu giáo, UBND phường và thậm
chí cả chợ cũng được đặt trong khu di tích
Ví dụ, ở Hà Nội có một trường tiểu học đặt trong khu di tích chùa Hàm Long, di tích Bích Câu đạo quán hiện có 2 đơn vị, cơ quan nhà nước đóng trụ sở Di tích chùa Bộc (quận
Đống Đa) hiện tồn tại trụ sở của một hợp tác x? Thậm chí ngôi nhà 46 Phố Hàng Ngang
là di tích lịch sử cấp quốc gia nhưng hiện nay một phần của ngôi nhà này là trụ sở của Chi cục thuế quận Hoàn Kiếm Việc sửa chữa trụ
sở của Chi cục thuế quận Hoàn Kiếm đ? làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết cấu ban đầu của di tích lịch sử quan trọng này
Thứ tư, một số di tích đang dần dần trở thành phế tích và là điều kiện thuận lợi để các hộ dân lấn, chiếm đất di tích để làm nhà
ở Có những di tích có diện tích bảo vệ lớn hàng nghìn ha đất bảo vệ và có giá trị lịch sử
- văn hóa, được ghi trong danh mục di tích cần bảo vệ, tuy nhiên, do không có đủ kinh phí và lực lượng để thường xuyên chăm nom, bảo vệ di tích cũng như đầu tư, tôn tạo di tích nên theo thời gian dần dần các hộ dân vào ở trong đất di tích Một số di tích ở Hà Nội bị lấn chiếm đ? lâu, đến nay không còn dấu tích như di tích Đình Đông Thổ (phố Hàng Nón),
đình Hà Vĩ, đình Nội (phố Hàng Bồ), đình Trương Thị (phố Hàng Bạc), đình Anh Mĩ (phố Thợ Nhuộm) và đình Phất Lộc (phố Hàng Buồm) Hiện nay, “có khoảng hơn 500
hộ dân với hơn 2.000 nhân khẩu đang sống ở
53 di tích được coi là di tích phố cổ Hà Nội,
mà nay dấu vết cổ còn rất ít hoặc đS biến mất hoàn toàn Mặc dù trên giấy tờ vẫn gọi
là đất di tích".(5)
Hệ thống pháp luật về đất di tích mới dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc Việc thiếu các quy định chi tiết, cụ thể
về đất di tích đ? gây khó khăn cho công tác
Trang 7quản lí và sử dụng loại đất này Đồng thời,
thiếu những cơ sở pháp lí cần thiết để giải
quyết các tranh chấp về đất di tích hoặc xử lí
các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lí và sử dụng đất di tích Trên thực tế khi xảy
ra các tranh chấp về đất di tích hoặc xử lí các
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí và
sử dụng loại đất này, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phải áp dụng hoặc vận dụng
các quy định ở các văn bản pháp luật khác
nhau để giải quyết nên hiệu quả của công tác
này không cao
4 Một số kiến nghị góp phần hoàn
thiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh
Đối với đất di tích, tuy chiếm diện tích
không lớn so với tổng quỹ đất của quốc gia
nhưng lại có tính đặc thù riêng và có tầm
quan trọng đặc biệt về giá trị văn hóa và tinh
thần Đây là nơi lưu giữ các di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể phong phú của quốc
gia, không chỉ cho các thế hệ người Việt
Nam hiện tại mà còn cho cả các thế hệ tương
lai Vì vậy, việc quản lí và sử dụng loại đất
này có ý nghĩa rất quan trọng Lí luận và
thực tiễn đ? chứng minh, biện pháp quản lí
đất đai nói chung và đất di tích nói riêng có
hiệu quả nhất là quản lí bằng pháp luật Để
hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất di tích
và nâng cao hiệu quả của công tác quản lí
loại đất này, chúng tôi bước đầu đưa ra một
số kiến nghị sau đây:
Thứ nhất, Chính phủ cần ban hành nghị
định cụ thể hóa Điều 69 Luật đất đai năm
1993 về đất di tích Trong đó quy định rõ nội
dung của việc khảo sát, điều tra, xây dựng
quy hoạch và khoanh vùng đất di tích Đồng
thời xác định rõ thẩm quyền của cơ quan
quản lí nhà nước về đất di tích và cơ quan quản lí nhà nước về di tích lịch sử, văn hóa
và danh lam thắng cảnh trong việc phối hợp quản lí và sử dụng có hiệu quả loại đất này Thứ hai, cần bổ sung các quy định về đất hương hỏa của các dòng họ Vì các quy định của Luật đất đai năm 1993 chưa đề cập vấn
đề này Hiện nay, mới chỉ có Điều 3 - Nghị
định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 đề cập thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hương hỏa của dòng họ Trên thực tế, một số các nhà thờ họ, thánh thất tôn giáo, nhà chùa đ? hoặc sẽ được xếp hạng di tích lịch sử nên việc thiếu các quy định nói trên sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lí nhà nước đối với loại đất này Đồng thời, cần bổ sung các quy định về các trường hợp giao đất mới cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo
Thứ ba, chúng tôi cho rằng quy định về
đất di tích của Luật đất đai năm 1987 hợp lí hơn quy định về loại đất này trong Luật đất
đai năm 1993 Luật đất đai năm 1993 quy
định: "Đất có di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đS được xếp hạng phải
được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật"(Điều 69) Như vậy, theo quy định của điều này thì chúng ta có thể hiểu chỉ những đất có di tích đ? được xếp hạng thì mới được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên hiện nay, số di tích đ? được xếp hạng trên tổng số
4 vạn di tích trong cả nước là con số rất khiêm tốn Việc khoanh vùng, xếp hạng di tích cần phải mất nhiều năm nữa mới hoàn thành Do đó, nếu những di tích chưa được xếp hạng không được bảo vệ ngay từ bây giờ
Trang 8thì sẽ diễn ra tình trạng người dân lấn chiếm
các di tích này và Nhà nước lại phải tiếp tục
giải quyết các vấn đề lịch sử hoặc giải tỏa
các công trình xây dựng trái phép của người
dân, khi di tích được xếp hạng Chính vì vậy,
theo chúng tôi nên sửa đổi Điều 69 Luật đất
đai năm 1993 bằng việc sử dụng lại quy định
về đất di tích mà Luật đất đai năm 1987 đ?
đề cập
Thứ tư, ngày 02/7/2002, ủy ban thường
vụ Quốc hội đ? thông qua Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính mới thay thế cho Pháp lệnh
xử lí vi phạm hành chính ngày 6/7/1995
Hiện nay, Bộ tài nguyên và môi trường đang
dự thảo nghị định mới để trình Chính phủ
ban hành thay thế cho Nghị định số 04/CP
ngày 10/01/1997 của Chính phủ về xử lí vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí và sử
dụng đất đai và phù hợp với nội dung của
Pháp lệnh về xử lí vi phạm hành chính vừa
được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua
Vì vậy, chúng tôi cho rằng nên bổ sung các
quy định về xử lí vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lí và sử dụng đất di tích trong
dự thảo nghị định mới Theo đó, cần xử phạt
nghiêm đối với các hành vi lấn chiếm,
chuyển nhượng trái phép đất di tích, xây
dựng các công trình trái phép trong khu vực
di tích Đối với các trường hợp cố tình vi
phạm, tái phạm hoặc vi phạm gây hậu quả
nghiêm trọng đối với các di tích thì cần phải
lập hồ sơ, truy tố và xét xử theo quy định của
pháp luật
Nhà nước cần có chính sách để giải
quyết vấn đề lấn chiếm, trả lại nguyên
trạng các di tích Có chế tài xử phạt
nghiêm minh các hành động bao che không
ngăn chặn các hành vi lấn chiếm đất di tích
theo thẩm quyền
Thứ năm, đất di tích có tính lịch sử và mang ý nghĩa tâm linh rất lớn, đây là đặc
điểm khác biệt so với các loại đất khác Vì vậy, pháp luật đất đai cần bổ sung các quy
định để giải quyết những vấn đề lịch sử của loại đất này Tuy nhiên, cần xem xét, cân nhắc kĩ về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của vấn đề này Bởi lẽ, đây là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, đ? và đang gây ra nhiều khiếu kiện, tranh chấp Nếu pháp luật không
có những quy định để giải quyết dứt điểm tình trạng này thì các khiếu kiện và tranh chấp về những vấn đề lịch sử xung quanh loại đất này vẫn còn tiếp tục xảy ra
Thứ sáu, nội dung quy hoạch, sử dụng
đất di tích ở các địa phương cần đảm bảo tính thống nhất với quy hoạch của ngành văn hoá - thông tin đ? được cấp có thẩm quyền phê duyệt Vì vậy, cần bổ sung Điều 16 và
Điều 18 của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật đất đai năm 2001 về vai trò, quyền hạn quản lí nhà nước của Bộ văn hoá - thông tin trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh./
(1).Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 2001, tr 114 - 115
(2).Xem: Điều 42 Luật đất đai năm 1987
(3) Bộ văn hóa - thông tin: Báo cáo số 70/BC - BVHTT ngày 31/5/2002 về tổng kết chính sách đất
đai và kiến nghị chủ trương sửa đổi Luật đất đai đối với đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, tr 5 - 6
(4), (5) Báo cáo về tổng kết chính sách đất đai và kiến nghị chủ trương sửa đổi Luật đất đai đối với đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, Sđd, tr 7, 9