1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Những điểm mới về hợp đồng lao động trong luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật lao động " ppt

7 605 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 132,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên tinh thần đó, nhiều vấn đề trong BLLĐ đ được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và đầy đủ hơn như: Việc làm 2 điều, hợp đồng lao động 8 điều, thoả ước lao động tập thể 4 điều, tiền lương

Trang 1

uật sửa đổi, bổ sung một số điều của

BLLĐ (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi) đ

được Quốc hội nước Cộng hoà x hội chủ

nghĩa Việt Nam khoá X, kì họp thứ 11 thông

qua ngày 2/4/2002 (có hiệu lực từ ngày

01/01/2003) Luật sửa đổi, bổ sung được xây

dựng theo các nguyên tắc: Bảo vệ người lao

động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

người sử dụng lao động, kết hợp hài hoà giữa

chính sách kinh tế và chính sách x hội có tính

tới khả năng chi trả của người sử dụng lao

động Việc sửa đổi, bổ sung căn cứ vào Nghị

quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và

các nghị quyết của Ban chấp hành trung ương

Đảng, gắn với việc cải cách hành chính, tạo

môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển

sản xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm cho

người lao động; đảm bảo quan hệ lao động

phát triển lành mạnh, bảo đảm quyền tự quyết,

tự chịu trách nhiệm của các bên quan hệ lao

động Trên tinh thần đó, nhiều vấn đề trong

BLLĐ đ được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

và đầy đủ hơn như: Việc làm (2 điều), hợp

đồng lao động (8 điều), thoả ước lao động tập

thể (4 điều), tiền lương (4 điều), thời giờ làm

việc, thời giờ nghỉ ngơi (1 điều), kỉ luật lao

động, trách nhiệm vật chất ( 2 điều), an toàn

lao động, vệ sinh lao động (2 điều), lao động

nữ (1 điều), giải quyết tranh chấp lao động (5

điều)…Trong đó, hợp đồng lao động là vấn đề

được quan tâm nhất, bởi nó được xác định là

vấn đề trung tâm của luật lao động, nó tập trung và giải quyết những vấn đề cơ bản về mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động Về hợp đồng lao động

có thể thấy một số điểm mới nổi bật sau đây:

1 Loại hợp đồng lao động Hợp đồng lao động được chia thành ba loại: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hợp đồng lao động xác định thời hạn (từ

đủ 12 tháng đến 36 tháng); hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định, có thời hạn dưới 12 tháng

Luật sửa đổi quy định khái niệm hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng

mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng(1)

và hợp đồng xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.(2)

Các khái niệm này vừa đáp ứng được nhu cầu cần

được giải thích thuật ngữ một cách chính thức, vừa thống nhất được quan điểm khi xác định loại hợp đồng lao động, nhất là khi có tranh chấp liên quan đến vấn đề này Đặc biệt với

định nghĩa hợp đồng xác định thời hạn từ đủ

12 tháng đến 36 tháng, Luật sửa đổi đ khắc phục được cách giải thích thiếu cơ sở khoa

L

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Nguyễn Xuân Thu *

Trang 2

học của Nghị định số 198/CP ngày

31/12/1994 của Chính Phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về

hợp đồng lao động về loại hợp đồng lao động

có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm (hợp đồng lao

động xác định thời hạn từ 1 năm đến 3 năm là

loại hợp đồng được ấn định trước thời hạn 1

năm; 2 năm hoặc 3 năm trong bản hợp đồng

lao động…).(3)

Theo Luật sửa đổi, khi hợp đồng lao động

xác định thời hạn (từ đủ 12 tháng đến 36

tháng hoặc dưới 12 tháng) hết hạn mà người

lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời

hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động

hết hạn, hai bên phải giao kết hợp đồng lao

động mới; nếu không giao kết hợp đồng lao

động mới, hợp đồng đ giao kết trở thành hợp

đồng lao động không xác định thời hạn

Trường hợp hai bên giao kết hợp đồng lao

động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì

cũng chỉ được giao kết thêm một thời hạn, sau

đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc

thì phải kí hợp đồng lao động không xác định

thời hạn.(4)

Với quy định mới này, theo báo cáo thẩm

tra của Uỷ ban các vấn đề x hội của Quốc

hội thì sẽ khắc phục tình trạng bên sử dụng

lao động, xâm phạm đến quyền lợi của người

lao động như hiện nay

Thời gian vừa qua đ có trường hợp hết

hạn hợp đồng, hai bên không thoả thuận gia

hạn hợp đồng cũ và cũng không kí hợp đồng

mới nhưng người sử dụng lao động vẫn tiếp

tục giao công việc cho người lao động làm,

khi trên thực tế xảy ra sự kiện nào đó (thường

là trường hợp người sử dụng lao động không

còn nhu cầu sử dụng người lao động) thì

người sử dụng lao động lại thông báo chấm

dứt hợp đồng với người lao động bởi lí do hợp

đồng lao động đ hết hạn (cho dù thời điểm hết hạn đó đ xảy ra khá lâu, thậm chí hàng năm so với thời điểm thực tế tuyên bố chấm dứt hợp đồng với người lao động) Từ đó làm cho người lao động hoàn toàn rơi vào thế bị

động, bị lệ thuộc quá lớn vào người sử dụng lao động, quyền lợi bấp bênh, việc làm, thu nhập, cuộc sống của bản thân và gia đình lúc nào cũng bị đe doạ Điều đáng nói hơn là tình trạng sử dụng lao động và chấm dứt hợp đồng tuỳ tiện của người sử dụng lao động, làm đảo lộn trật tự trong công tác quản lí lao động mà không bị xử lí Khi có tranh chấp thì vấn đề này càng trở nên phức tạp, các cơ quan giải quyết tranh chấp không có cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền lợi cho người lao động Luật sửa

đổi đ giải quyết được cơ bản tình trạng bức xúc này về mặt pháp luật, từ đó tạo tâm lí yên tâm cho người lao động làm việc, ổn định việc làm, thu nhập và cuộc sống cho bản thân cũng như gia đình

Sẽ là hợp lí hơn khi chúng ta nhận thức rằng quy định về việc buộc phải tiếp tục giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp hết hạn hợp đồng người lao động vẫn tiếp tục làm việc chỉ có ý nghĩa bắt buộc đối với người sử dụng lao động, còn với người lao động thì không thể bắt buộc, cho dù tại khoản 2 Điều

27 sửa đổi đ sử dụng cụm từ "hai bên phải kí hợp đồng lao động mới".(5)

2 Về việc xử lí hợp đồng lao động vô hiệu Theo khoản 3 Điều 29 BLLĐ thì thanh tra lao động là cơ quan duy nhất có quyền xử lí hợp đồng lao động khi phát hiện có nội dung

vi phạm pháp luật với cách thức hướng dẫn các bên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nếu các bên không sửa đổi, bổ sung thì thanh tra lao

Trang 3

động có quyền buộc huỷ bỏ các nội dung đó

Theo Luật sửa đổi thì quyền tuyên bố hợp

đồng lao động vô hiệu còn thuộc về toà án

nhân dân trong trường hợp khi xét xử, toà án

nhân dân phát hiện hợp đồng lao động trái với

thoả ước tập thể, pháp luật lao động.(6)

Việc trao cho toà án nhân dân quyền tuyên bố hợp

đồng lao động vô hiệu là hợp lí Nó sẽ tạo

điều kiện cho toà án giải quyết vụ án lao động

(có liên quan đến hợp đồng lao động vô hiệu

này) một cách nhanh chóng và chính xác hơn

đồng thời phân định phạm vi thẩm quyền

tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa

thanh tra lao động và toà án nhân dân Theo

đó, thanh tra lao động sẽ tuyên bố hợp đồng

lao động vô hiệu (nếu phát hiện ra) trong quá

trình thanh tra việc thực hiện pháp luật lao

động của các đơn vị sử dụng lao động, còn toà

án nhân dân sẽ tuyên bố hợp đồng lao động vô

hiệu (nếu phát hiện ra) trong khi xét xử vụ án

lao động

Cùng với việc quy định lại thẩm quyền

tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, Luật sửa

đổi cũng đ quy định cách giải quyết quyền

lợi cho các bên quan hệ lao động khi nội dung

trái luật của hợp đồng bị buộc phải huỷ bỏ

Khoản 4 và khoản 46, Điều 1 Luật sửa đổi đều

quy định trong trường hợp này quyền, nghĩa

vụ, lợi ích của các bên được giải quyết theo

quy định của pháp luật Cụ thể việc giải quyết

hậu quả pháp lí sẽ do Chính phủ quy định

Tuy nhiên, với quy định này cũng chưa hoàn

toàn hợp lí trong việc giải quyết quyền, nghĩa

vụ và lợi ích cho các bên, nhất là cho người

lao động trong trường hợp đơn vị sử dụng lao

động đ có thoả ước tập thể và nội quy lao

động hợp pháp Lẽ ra cần phải quy định trong

trường hợp này quyền, nghĩa vụ và lợi ích của

các bên được giải quyết theo quy định của

pháp luật, thoả ước tập thể và nội quy lao

động (nếu có) Thiết nghĩ, khi Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết vấn đề này và trong thực tiễn giải quyết hợp đồng lao động vô hiệu cũng nên theo hướng này

3 Về thời điểm có hiệu lực và vấn đề thay đổi hợp đồng lao động

Luật sửa đổi đ quy định một cách đầy đủ hơn về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao

động Khoản 5 Luật sửa đổi quy định: "hợp

đồng lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên thoả thuận hoặc từ ngày người lao động bắt đầu làm việc" Theo quy định này, hợp đồng lao động bằng văn bản sẽ có hiệu lực kể từ ngày kí kết hoặc từ ngày hai bên thoả thuận ghi trong hợp đồng, hợp đồng lao động miệng sẽ có hiệu lực kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc

Nếu như Điều 33 BLLĐ mới quy định về thủ tục yêu cầu thay đổi, cách thức thay đổi hợp đồng lao động, chưa quy định cách thức giải quyết trong trường hợp các bên không thoả thuận được việc thay đổi hợp đồng thì Luật sửa đổi đ khắc phục vấn đề này bằng cách bổ sung thêm quy định: "Trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung hoặc giao kết hợp đồng lao động mới thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đ1 giao kết hoặc chấm dứt theo quy định tại khoản 3

Điều 36 của Bộ luật này".(8) Thực ra đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì trong trường hợp này người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng (nếu muốn), chứ không nhất thiết phải thoả thuận với người sử dụng lao động Vì với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người lao

động có quyền đơn phương chấm dứt bất kì lúc nào không cần có lí do, chỉ cần báo trước

Trang 4

cho người sử dụng lao động một thời gian

nhất định theo quy định của pháp luật

4 Về hiệu lực kế thừa của hợp đồng lao động

Theo Điều 31 BLLĐ, trong trường hợp sáp

nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền

sở hữu, quản lí hoặc sử dụng tài sản của doanh

nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp

phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp

đồng lao động với người lao động cho tới

khi hai bên thoả thuận sửa đổi, chấm dứt

hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng

lao động mới

Điều đó cho thấy về nguyên tắc, người sử

dụng lao động mới bắt buộc phải tiếp nhận tất

cả số lao động do người sử dụng lao động cũ

"để lại", nếu không có sự thoả thuận khác với

người lao động, kể cả trong trường hợp có sự

dôi dư lao động Liên hệ điều luật này với

Điều 17 của BLLĐ ta thấy: Theo Điều 17, nếu

bản thân doanh nghiệp thay đổi cơ cấu tổ chức

(sáp nhập hoặc giải thể một bộ phận của

doanh nghiệp) mà dẫn tới dôi dư lao động thì

doanh nghiệp có quyền cho người lao động

thôi việc và giải quyết quyền lợi cho họ theo

quy định của pháp luật Điều 17 được thừa

nhận là hợp lí Trong khi đó các doanh nghiệp

sáp nhập hoặc một doanh nghiệp được chia

tách, chuyển quyền sở hữu, quản lí, sử dụng

tài sản (theo Điều 31) thì khả năng dôi dư lao

động trên thực tế càng lớn hơn so với trường

hợp doanh nghiệp sáp nhập hoặc giải thể một

bộ phận (theo Điều 17), vậy mà Nhà nước lại

không cho phép người sử dụng lao động mới

cho người lao động thôi việc và giải quyết

quyền lợi cho họ tương tự như việc giải quyết

quyền lợi cho những người lao động bị mất

việc làm theo Điều 17 Đó chính là sự bất hợp

lí của Điều 31 Hơn nữa, nếu vẫn tiếp tục thực

hiện Điều 31 trên thực tế thì sẽ không thống nhất với quy định trong Luật doanh nghiệp hay quy định về việc giải quyết quyền lợi cho người lao động khi Nhà nước giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước Vì những lẽ đó, khoản 5 Điều 1 Luật sửa

đổi đ sửa lại Điều 31 của BLLĐ cho phù hợp hơn Theo đó, nếu sau khi sáp nhập, chia tách doanh nghiệp mà người sử dụng lao

động kế tiếp có khả năng sử dụng hết số lao

động hiện có thì phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao

động Ngược lại, trường hợp không có khả năng sử dụng hết số lao động hiện có thì người sử dụng lao động kế tiếp căn cứ vào phương án sử dụng lao động giải quyết cho các lao động dôi dư thôi việc Những người lao động bị mất việc làm sẽ được trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 BLLĐ.(7)

Việc sửa đổi theo hướng đó là phù hợp song cần quy định cụ thể thủ tục chấm dứt HĐLĐ với người lao động trong trường hợp này trong văn bản hướng dẫn thi hành

5 Về việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, ngoài những lí do chấm dứt hợp đồng quy định tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ (không

được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện lao động đ thoả thuận trong hợp đồng; không

được trả công đầy đủ hoặc trả công không

đúng thời hạn đ thoả thuận trong hợp đồng;

bị ngược đ i, bị cưỡng bức lao động; bản thân hoặc gia đình thực sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan

Trang 5

dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong

bộ máy Nhà nước; người lao động nữ có thai

phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc),

theo khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi thì người

lao động còn được đơn phương chấm dứt hợp

đồng trong trường hợp bị ốm đau, tai nạn đ

điều trị ba tháng liền đối với hợp đồng lao

động có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với hợp

đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một

công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

mà khả năng lao động chưa hồi phục Quy

định này tạo điều kiện thuận lợi cho người lao

động có thêm lí do hợp pháp để chấm dứt hợp

đồng khi họ thấy việc chấm dứt là cần thiết

mà không ảnh hưởng tới các quyền lợi của

bản thân, nhất là khoản tiền trợ cấp thôi việc

do người sử dụng lao động trả

Đối với hợp đồng lao động không xác

định thời hạn, theo Luật sửa đổi, người lao

động vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp

đồng lao động mà không cần đưa ra lí do song

thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động

có thay đổi Khoản 3 Điều 37 BLLĐ quy định

trong trường hợp này người lao động phải báo

trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45

ngày (chung cho mọi trường hợp) Quy định

này vẫn được giữ trong Luật sửa đổi nhưng

riêng trong trường hợp người lao động bị ốm

đau, tai nạn đ điều trị 6 tháng liền thì chỉ

phải báo trước ít nhất là 3 ngày.(9)

6 Về việc người sử dụng lao động đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động

Về cơ bản vấn đề này vẫn được giữ

nguyên như trong BLLĐ song có hai căn cứ

chấm dứt hợp đồng theo Điều 38 của Bộ luật

được thay đổi

- Thứ nhất, theo điểm b, khoản 1 Điều 38

người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động bị xử lí

kỉ luật sa thải theo khoản 1 Điều 85 của BLLĐ Bản thân khoản 1 Điều 85 của Bộ luật cũng đ được sửa đổi cho phù hợp hơn, từ đó kéo theo những thay đổi trong các căn cứ chấm dứt hợp đồng theo điểm b, khoản 1 Điều

38 BLLĐ.(10)

- Thứ hai, theo điểm d, khoản 1 Điều 38 BLLĐ, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp do thiên tai, hoả hoạn hoặc các lí

do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao

động đ tìm mọi biện pháp khắc phục mà vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc Tuy nhiên, về phương diện pháp luật và thực tiễn thi hành, Nhà nước lại không xác

định thế nào là “các lí do bất khả kháng khác” thành ra việc áp dụng điều khoản này không thống nhất, dễ dẫn đến tuỳ tiện, ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động Vì thế, Luật sửa

đổi quy định các trường hợp bất khả kháng khác do Chính phủ quy định.(11) Như vậy, trong tương lai chúng ta sẽ có quy định thống nhất và áp dụng thống nhất điều khoản này trên thực tế

7 Về trách nhiệm của các bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 41 BLLĐ thì trong trường hợp người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và bồi thường khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không

được làm việc Trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường, người lao động còn được trợ

Trang 6

cấp thôi việc; trường hợp người lao động đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp

luật thì không được trợ cấp thôi việc

Thực tiễn thi hành quy định này đ nảy

sinh một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, việc người sử dụng lao động

phải nhận người lao động trở lại làm việc là

công việc cũ (công việc theo hợp đồng đ giao

kết) hay người sử dụng có quyền bố trí công

việc mới cho người lao động Thông thường

chúng ta cho rằng phải nhận người lao động

trở lại công việc cũ là hợp lí Nhưng trên thực

tế có trường hợp do công việc cũ đ có người

lao động khác làm hoặc do người sử dụng

muốn gây khó khăn cho người lao động nên

họ đ bố trí công việc mới cho người lao

động, thậm chí cả những công việc mà điều

kiện làm việc khó khăn hơn, quyền lợi của

người lao động không được đảm bảo như

trước Trong những trường hợp như vậy khó

có cơ sở pháp lí để khẳng định việc làm đó

của người sử dụng lao động là trái pháp luật,

bởi quy định của Bộ luật là rất chung chung

- Thứ hai, thực tế có trường hợp người sử

dụng lao động không muốn nhận người lao

động trở lại làm việc (do nhiều lí do khác

nhau) mà người lao động đồng ý thì giải quyết

quyền lợi cho người lao động như thế nào?

Nếu chỉ dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 41

của Bộ luật như trên thì trường hợp này chỉ có

thể giải quyết quyền lợi cho người lao động

giống như trường hợp chính bản thân người

lao động không muốn trở lại làm việc (việc

người sử dụng lao động có muốn nhận lại

người lao động hay không không đặt ra) Đó

cũng là một vấn đề bất hợp lí

- Thứ ba, trường hợp người lao động đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp

luật mà không phải bồi thường thiệt hại cho

người sử dụng lao động (chỉ bị tước quyền hưởng trợ cấp thôi việc).(12) Nhìn chung mọi người đều cho rằng như vậy là chưa hợp lí và hầu như Nhà nước quá "ưu ái" đối với người lao động so với người sử dụng lao động Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi với việc sửa

đổi Điều 41 của BLLĐ đ giải quyết được cơ bản những tồn tại kể trên Cụ thể, về vấn đề này có những điểm mới sau:

- Thứ nhất, trường hợp người sử dụng lao

động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao

động trái pháp luật thì phải nhận người lao

động trở lại làm công việc theo hợp đồng đ giao kết

- Thứ hai, ngoài việc phải nhận người lao

động trở lại làm công việc cũ, người sử dụng lao động còn phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc, cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

- Thứ ba, trường hợp người sử dụng lao

động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường kể trên và khoản tiền trợ cấp thôi việc người lao động được hưởng theo quy định tại Điều 42 BLLĐ, người sử dụng lao động còn phải bồi thường thêm cho người lao động đó theo mức do hai bên thoả thuận

- Thứ tư, trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) Qua việc phân tích những điểm mới ở trên

có thể thấy rằng Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của BLLĐ về cơ bản đ giải quyết được những vấn đề bức xúc về hợp đồng lao động

Trang 7

Từ đó chắc chắn hiệu quả của pháp luật về

hợp đồng lao động trong thực tế sẽ được nâng

cao, nhất là đối với các doanh nghiệp ngoài

quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, còn một

số vấn đề khá quan trọng cần phải tiếp tục

nghiên cứu đó là:

1 Đối với loại hợp đồng lao động xác

định thời hạn có nên khống chế thời hạn tối đa

là 36 tháng hay không? Nhiều ý kiến cho rằng

việc khống chế thời hạn tối đa như thế là thiếu

cơ sở khoa học và thực tế Trong quá trình xây

dựng Dự thảo Luật sửa đổi, cho đến Dự thảo 5

vẫn dự kiến không khống chế thời hạn tối đa

của loại hợp đồng này

2 Vấn đề hợp đồng lao động vô hiệu và

xử lí hợp đồng lao động vô hiệu nhìn chung

vẫn chưa được quy định cụ thể, đặc biệt là với

hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ Nếu cứ để

tình trạng này kéo dài thì rất dễ dẫn tới sự vi

phạm pháp luật và xâm phạm tới quyền, lợi

chính đáng của người lao động

3 Vấn đề nguồn trợ cấp mất việc làm cho

người lao động (như đ phân tích ở trên)

4 Có nên coi hình thức kỉ luật lao động sa

thải cũng là trường hợp đơn phương chấm dứt

hợp đồng lao động như các trường hợp khác

và cùng quy định trong Điều 38 BLLĐ như

hiện nay hay không? Thực ra xét về tính chất,

thủ tục và hậu quả pháp lí thì sa thải và đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động là hai

vấn đề hoàn toàn khác nhau, hơn nữa trong

quá trình xin ý kiến về Dự thảo đ có nhiều ý

kiến cho rằng không nên quy định sa thải là

trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng

lao động tại Điều 38

5 Vấn đề biện pháp đảm bảo thực hiện

hợp đồng lao động, nhất là thực tế hiện nay

nhiều trường hợp người sử dụng lao động buộc người lao động phải đặt cọc một số tiền nhất định để đảm bảo thực hiện hợp đồng lao

động, khi có tranh chấp xảy ra, giữa quan

điểm khoa học và quan điểm xét xử chưa thống nhất Ngay trong quan điểm xét xử cũng chưa hoàn toàn hợp lí về vấn đề này

Hi vọng trong thời gian tới các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu những vấn đề trên nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hợp đồng lao động nói riêng và pháp luật lao

động nói chung./

(1), (2), (4).Xem: Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi (3).Xem: Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 198/CP (5) Theo tôi sử dụng cụm từ "hai bên phải kí hợp đồng lao động mới" là không chính xác mà phải sử dụng cụm từ: "Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao

động mới với người lao động"

(6).Xem: Khoản 46 Điều 1 Luật sửa đổi

(8).Xem: Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi (khoản 2 Điều

33 sửa đổi)

(7).Xem: Đoạn 2 Điều 31 sửa đổi quy định: "Người lao

động phải chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều này, được trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật này" là không chính xác, dễ dẫn tới sự hiểu lầm Đúng ra phải quy định là:

"Người lao động bị mất việc làm theo quy định tại Điều này được trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản

1 Điều 17 của Bộ luật này"

(9).Xem: Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi (khoản 2 Điều

37 sửa đổi)

(10).Xem: Khoản 1 Điều 85 BLLĐ và khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi (khoản 1 Điều 85 sửa đổi)

(11).Xem: Khoản 8 Điều 1 Luật sửa đổi (khoản 1 Điều

38 sửa đổi)

(12) Có quan điểm cho rằng khoản tiền trợ cấp thôi việc không được nhận coi như khoản bồi thường của người lao động cho người sử dụng lao động khi người lao động đó đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w