1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Chế định hợp đồng kinh tế - tồn tại hay không tồn tại " ppt

8 432 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 111,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm thành công lớn nhất trong số những thành công ít ỏi của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế là sự khẳng định nguyên tắc tự do hợp đồng Bằng quy định kí kết hợp đồng kinh tế là quyền của các

Trang 1

PGS.TS Lê hồng hạnh * rong các văn bản pháp luật được xây

dựng và ban hành sau khi Đảng và Nhà

nước ta khởi xướng chính sách đổi mới thì

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) được

coi là một trong những bước đi lập pháp tiên

phong, một trong những phản ứng nhanh

chóng trước đòi hỏi của kinh tế thị trường

Điểm thành công lớn nhất trong số những

thành công ít ỏi của Pháp lệnh hợp đồng kinh

tế là sự khẳng định nguyên tắc tự do hợp

đồng Bằng quy định kí kết hợp đồng kinh tế

là quyền của các đơn vị kinh tế; không có cơ

quan, cá nhân, tổ chức nào được áp đặt ý chí

của mình cho đơn vị kinh tế khi kí kết hợp

đồng PLHĐKT đL đặt dấu chấm hết cho sự

tồn tại của cơ chế kế hoạch hoá trong lĩnh

vực quan hệ hợp đồng, nơi mà các chủ thể

phải được tự do, tự nguyện thể hiện ý chí của

mình Nguyên tắc tự do hợp đồng xuất hiện

trong pháp luật nước ta kể từ thời điểm đó

Hệ quả tích cực của PLHĐKT là tạo ra được

những thoả thuận mang dáng vẻ “quan hệ

chiều ngang bình đẳng” hơn rất nhiều so với

những gì mà Điều lệ về hợp đồng kinh tế ban

hành theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975

mang lại Cũng cần khẳng định rằng những

tác động tích cực của PLHĐKT không phải

chỉ giới hạn ở những gì đL nêu trên Tuy

nhiên, ở thời điểm này, không nhất thiết phải

phân tích những tác động tích cực này Điều

quan trọng là làm sao chỉ ra được những bất

cập của chế định hợp đồng kinh tế để trên cơ

sở đó xác định giải pháp xử lí số phận của nó trong bối cảnh hiện nay

PLHĐKT có khá nhiều bất cập xuất hiện ngay trong quá trình soạn thảo Nhiều bất cập thể hiện ngay trong văn cảnh của Pháp lệnh và nhiều nhà khoa học còn tiên đoán là Pháp lệnh sẽ mang lại nhiều phiền toái cho các doanh nghiệp, cho các cơ quan thực thi pháp luật bằng chính các quy định không rõ ràng Gần 15 năm thực hiện PLHĐKT đL cho thấy sự tiên đoán đó là có cơ sở Sở dĩ như vậy là xét về lí luận, nhiều quy định của Pháp lệnh mâu thuẫn với triết lí cơ bản của

nó là đảm bảo tự do hợp đồng Chúng tôi nêu

ra dưới đây một số bất cập xét từ lí luận và

và biểu hiện của chúng trong thực tiễn thực hiện Pháp lệnh nhằm đi tới giải pháp cơ bản

và toàn diện cho việc hoàn thiện chế định hợp đồng kinh tế

1 Một số bất cập xét từ góc độ lí luận

Điểm đầu tiên cần nêu chính là sự mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên suốt Pháp lệnh về quyền tự do hợp đồng của các chủ thể với những quy định của nó trong việc xử lí các khía cạnh cụ thể của đời sống sản xuất kinh doanh Như đL nêu ở trên, tư tưởng xuyên suốt của cơ quan soạn thảo Pháp lệnh này khẳng định quyền tự do hợp đồng Một số nguyên tắc chung về kí kết và thực hiện hợp

đồng kinh tế được đưa vào trong Pháp lệnh

T

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cơ chế

kinh tế thị trường, đó là: Hợp đồng kinh tế

được kí kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình

đẳng, không trái pháp luật Những nguyên

tắc này tồn tại trong chế định hợp đồng của

bất cứ hệ thống pháp luật nào, cho dù nó

thuộc hệ Common Law hay hệ Civil Law

Tuy nhiên, khi xem xét các quy định cụ thể

trong Pháp lệnh thì quyền tự do hợp đồng lại

bị ràng buộc và triệt tiêu một cách khó giải

thích Sự triệt tiêu thứ nhất thể hiện ở việc

hạn chế chủ thể của HĐKT Pháp lệnh chỉ

cho phép pháp nhân và cá nhân có đăng kí

kinh doanh tham gia các quan hệ hợp đồng

kinh tế trong lúc tự do hợp đồng đòi hỏi

trước hết phải được tự do lựa chọn đối tác Sự

triệt tiêu tiếp theo là sự hạn chế chủ thể

thông qua việc áp dụng nguyên tắc chịu trách

nhiệm trực tiếp về tài sản Việc áp dụng

nguyên tắc này trong thực tiễn đồng nghĩa

với việc không cho các chủ thể tham gia kí

kết hợp đồng kinh tế dưới sự bảo lLnh của

chủ thể khác Trong lúc đó, PLHĐKT lại cho

áp dụng biện pháp bảo lLnh trong kí kết và

thực hiện hợp đồng kinh tế Tư tưởng chỉ đạo

tự do hợp đồng còn bị triệt tiêu bằng một số

quy định khác ở Mục b, khoản 1, Điều 8;

Điều 10, Điều 15; Điều 38; khoản 2 Điều 40

Những quy định ở các điều này hạn chế

quyền tự do thoả thuận về giá, tạo ra sự bất

bình đẳng cho một trong hai bên tham gia kí

kết, không đảm bảo được quyền và lợi ích

hợp pháp của chủ thể hợp đồng khi hợp

đồng bị vi phạm Những quy định này còn

mang nặng dấu ấn của cơ chế kế hoạch

hoá tập trung

Pháp lệnh còn thiếu chính xác về kĩ thuật

lập pháp, đặc biệt là trong việc sử dụng các

khái niệm pháp lí:

- Về định nghĩa hợp đồng

Có thể nói định nghĩa về HĐKT nêu ở

Điều 1 là rất thiếu tính khái quát Sự liệt kê của Điều 1 về hình thức lẫn những lĩnh vực

áp dụng hợp đồng vừa thiếu, vừa trùng lặp Ngoài ra, định nghĩa này còn được hình thành bởi tư duy pháp lí của thời kì bao cấp Việc kí hợp đồng kinh tế đối với nhiều chủ thể không nhất thiết là để xây dựng và thực hiện kế hoạch Tính năng động của kinh tế thị trường buộc các chủ thể sản xuất kinh doanh nhiều khi kí các hợp đồng ngoài kế hoạch Đối với họ, “kế hoạch” lớn nhất là lợi nhuận

- Về đại diện trong kí kết hợp đồng kinh tế

Điều 8 PLHĐKT quy định việc đại diện trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế không xuất phát từ những nhận thức đúng về các khái niệm “đại diện hợp pháp”, “đại diện

đương nhiên”, “đại diện theo pháp luật” Trong hệ thống pháp luật nước ta, người

đứng đầu pháp nhân là đại diện đương nhiên của pháp nhân Chỉ có người đứng đầu pháp nhân mới được uỷ quyền Vấn đề này được quy định rất chuẩn xác trong các văn bản pháp luật ban hành trước PLHĐKT, đặc biệt

là trong Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành theo nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 Quy định của Điều 8 Pháp lệnh cho phép đại diện hợp pháp của pháp nhân ủy quyền kí kết hợp đồng là không đúng với lí luận về pháp nhân

- Về HĐKT vô hiệu Một trong những các yếu tố mà PLHĐKT coi là cơ sở để tuyên bố hợp

đồng vô hiệu là có sự lừa đảo Lừa đảo là một phạm trù của luật hình sự Hành vi lừa

Trang 3

đảo thường gắn với sự chiếm đoạt trái phép

tài sản của tổ chức, cá nhân Lừa dối là hành

vi cố ý đưa thông tin sai sự thật để làm cho

bên đối tác kí hợp đồng với mình Hành vi

lừa dối dẫn đến hậu quả là bên bị lừa dối

không đạt được cái mà họ đích thực mong

muốn Chính vì vậy, nó làm cho hợp đồng

không còn là sự bình đẳng, tự do thể hiện ý

chí và điều này có nghĩa là nó làm cho

HĐKT vô hiệu Việc sử dụng khái niệm lừa

đảo thay cho khái niệm lừa dối khi xác định

điều kiện làm cho hợp đồng kinh tế vô hiệu

là không chính xác

Đăng kí kinh doanh cũng là một yếu tố

mà PLHĐKT coi là điều kiện để công nhận

hợp đồng kinh tế có hiệu lực hay không có

hiệu lực Theo Pháp lệnh, HĐKT sẽ bị coi là

vô hiệu toàn bộ nếu một trong các bên không

có đăng kí kinh doanh theo quy định của

pháp luật để thực hiện công việc đL thoả

thuận trong hợp đồng Thoáng qua thì quy

định này tưởng như có cơ sở pháp lí Tuy

nhiên, xét về bản chất, việc coi đăng kí kinh

doanh là điều kiện của HĐKT vô hiệu là

không đúng với lí luận về hợp đồng nói

chung và hợp đồng kinh tế nói riêng Đối với

các bên, khi tham gia kí kết hợp đồng, điều

quan trọng là họ hoàn toàn tự nguyện, nội

dung hợp đồng không trái pháp luật, không

trái đạo đức xL hội, sự thể hiện ý chí của các

bên rõ ràng thì hợp đồng phải có hiệu lực

Việc một bên không đủ điều kiện thực hiện

hợp đồng thì trách nhiệm thuộc về bên đó

Không thể coi hợp đồng vô hiệu vì lí do một

bên không có năng lực thực hiện hợp đồng

Hình thức hợp đồng cũng là một trong

những điều kiện mà pháp luật hiện hành coi

là điều kiện tuyên bố HĐKT vô hiệu, thậm

chí là yếu tố làm thay đổi bản chất của hợp

đồng từ kinh tế thành dân sự.(1)

Xét về lí luận, việc các bên thoả thuận với nhau bằng miệng hay bằng văn bản đều phải được tôn trọng như nhau Vai trò của hình thức văn bản là ngăn chặn việc bội ước Việc không thể hiện dưới hình thức văn bản sẽ làm cho các bên mất đi khả năng có được những chứng cứ thuyết phục khi trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế có phát sinh tranh chấp Hơn nữa, Pháp lệnh không tính tới thực

tế là ở thời diểm thoả thuận, các bên thảo thuận bằng miệng song sau đó đL thể hiện bằng văn bản

- Về thủ tục kí kết HĐKT Những quy định của Pháp lệnh về thủ tục

kí kết HĐKT, hình thức văn bản, thẩm quyền

kí kết, thời điểm có hiệu lực của nó cũng là những vấn đề gây nhiều tranh cLi về mặt lí luận

- Thứ nhất, việc áp đặt bắt buộc hình thức văn bản về mặt lí luận là không phù hợp với nguyên tắc tự do thể hiện ý chí Nếu các bên thoả thuận các cam kết của mình bằng miệng và tự nguyện thực hiện chúng nghiêm túc, không vi phạm thì pháp luật không có lí

do gì để phủ nhận những cam kết như vậy Những cam kết như vậy chắc chắn tốt hơn cả những cam kết bằng văn bản song lại không

được thực hiện

- Thứ hai, ngoài việc sử dụng không chính xác thuật ngữ như nêu trên, thẩm quyền kí kết và trách nhiệm của người kí kết khi được uỷ quyền, trách nhiệm của người uỷ quyền không được quy định rõ trong Pháp lệnh

- Thứ ba, Điều 11 Pháp lệnh không cho phép xác định chính xác thời điểm có hiệu

Trang 4

lực của hợp đồng kinh tế ngoại trừ các hợp

đồng kinh tế được các bên đàm phán và kí

kết trực tiếp Về lí luận, khi các bên kí kết

HĐKT thì có thể có những khả năng khác

nhau để xác định thời điểm có hiệu lực của

hợp đồng Việc pháp luật chỉ ra thời điểm

nào có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác

định thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa

vụ pháp lí của các bên, tránh được những

xung đột pháp luật không cần thiết, nhất là

trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế

2 Những bất cập trong thực tiễn áp dụng

Những bất cập về lí luận trên thể hiện

khá rõ trong thực tiễn 15 năm áp dụng các

quy định của PLHĐKT Có thể nói những

bất cập đó đL trở thành những cản trở lớn đối

với việc điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ

kinh tế trong điều kiện nền kinh tế nước ta

phát triển mạnh hơn theo xu hướng kinh tế

thị trường, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế

khu vực và thế giới Khó có thể liệt kê hết

những tác động tiêu cực trong thực tiễn áp

dụng các quy định chứa đựng những bất cập

về lí luận của PLHĐKT Tuy nhiên, để thấy

rõ sự cần thiết phải tìm giải pháp xử lí đối

với văn bản pháp luật vốn đL hoàn thành sứ

mệnh ngắn ngủi của mình, chúng tôi đưa ra

một số phân tích thực tiễn dưới đây

a) Sự giới hạn chủ thể tham gia kí kết

hợp đồng kinh tế ngay từ đầu đL tỏ ra bất cập

và trong thực tiễn thì ngày càng trở nên đậm

nét hơn Cho dù sự giới hạn này là hậu quả

ngẫu nhiên của kĩ thuật lập pháp song đáng

tiếc nó là nhược điểm lớn về nội dung điều

chỉnh Sự giới hạn này của Pháp lệnh đL

không tính tới sự đa dạng của các chủ thể

kinh doanh khi đất nước ta chuyển sang nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong

hệ thống pháp luật nước ta đL xuất hiện thêm rất nhiều loại chủ thể kinh doanh mà khái nhiệm pháp nhân không thể bao hàm hết Doanh nghiệp tư nhân là loại chủ thể kinh doanh chiếm số lượng cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta, nó tham gia rộng rLi vào các quan hệ kinh tế song không phải là pháp nhân và cũng không phải là cá nhân có đăng kí kinh doanh xét ở nhiều tiêu chí Hợp danh cũng là loại hình doanh nghiệp đang có số lượng tăng dần không rơi vào phạm trù pháp nhân theo giới hạn của Pháp lệnh Tương tự, hộ kinh doanh cũng không rơi vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Sự bất cập này trong thực tế mang lại ít nhất hai hậu quả lớn sau đây:

- Tạo ra khoảng trống lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế nảy sinh giữa các chủ thể là pháp nhân và những chủ thể kinh doanh không phải là pháp nhân Hơn nữa, với cách tiếp cận này, Pháp lệnh không cho phép trả lời thống nhất câu hỏi liệu quan hệ giữa cá nhân có đăng kí kinh doanh với nhau

có thuộc phạm vi điều chỉnh của nó hay không?

- Tạo ra mâu thuẫn lớn trong việc xác

định đối tượng điều chỉnh của PLHĐKT và

từ đó là sự lúng túng, mâu thuẫn trong việc xác định thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Mẫu thuẫn này thể hiện ở ngay Điều 1 và Điều 2 của Pháp lệnh Điều 1 xác định hợp đồng kí giữa các chủ thể có mục đích kinh doanh là hợp đồng kinh tế Điều 2 quy định hợp đồng kinh tế được kí kết giữa pháp nhân với pháp nhân và pháp nhân với cá nhân có đăng kí kinh doanh Do Pháp lệnh không quy định tiêu chí ở Điều 1 và Điều 2 là những điều

Trang 5

kiện cần hay điều kiện cần và đủ cho việc

xác định đối tượng điều chỉnh của HĐKT

nên trong nhiều trường hợp, thẩm phán

không thể nào xác định được vụ tranh chấp

mà họ đang thụ lí là thuộc quan hệ dân sự

hay quan hệ kinh tế

b) Những quy định thiếu chính xác về

hợp đồng vô hiệu và việc xử lí hợp đồng đL

dẫn đến rất nhiều hạn chế ảnh hưởng tiêu cực

đến hoạt động sản xuất kinh doanh và lòng

tin của doanh nghiệp đối với hệ thống pháp

luật:

- Do sự tồn tại của khái niệm lừa đảo

trong Pháp lệnh nên rất nhiều tranh chấp hợp

đồng kinh tế có dấu hiệu của sự lừa dối, đôi

khi không ảnh hưởng đến quyết định đến số

phận của hợp đồng song được chuyển sang

cho cơ quan điều tra Tình trạng hình sự hoá

các quan hệ hợp đồng kinh tế trở nên khá

phổ biến

- Nhiều hợp đồng kinh tế được thực hiện

gần xong và các bên không tranh chấp về nội

dung hợp đồng song vẫn bị các cơ quan tài

phán tuyên vô hiệu do chỉ vi phạm nhỏ về

thẩm quyền kí kết Các cơ quan tài phán đL

áp ụng máy móc các quy định vốn bất cập về

lí luận của PLHĐKT về thẩm quyền kí kết

(vụ VIDAMCO, vụ VPBank, vụ TechcomBank,

vụ công ti Minh Nguyên ) Nhiều hợp đồng

bị tuyên vô hiệu và bị xử lí tài sản mà kết

quả là thúc đẩy sự vi phạm hợp đồng kinh tế

đL kí kết Các bên vi phạm thường có lợi khi

hợp đồng bị tuyên là vô hiệu

- Nhiều tranh chấp kinh tế không được

giải quyết kịp thời vì các quy định của Pháp

lệnh chưa giải đáp được câu hỏi đặt ra là:

Những tranh chấp này thuộc phạm vi điều

chỉnh của PLHĐKT hay không? Trên cơ sở

của câu trả lời này là việc xác định thẩm quyền giải những tranh chấp như vậy Ví dụ, tranh chấp giữa hai pháp nhân có những hoạt

động không phải vì mục đích kinh doanh, tranh chấp giữa hai cá nhân có đăng kí kinh doanh; tranh chấp giữa thương nhân là thể nhân với thương nhân là pháp nhân, tranh chấp giữa bên khi tham gia quan hệ hợp

đồng có mục đích kinh doanh và bên không

có mục đích kinh doanh Cách xử lí vấn đề này của các toà kinh tế rất khác nhau và điều này tạo nên vòng tròn khá luẩn quẩn: Toà án cấp sơ thẩm coi là tranh chấp kinh tế, toà án cấp phúc thẩm coi là tranh chấp dân sự, giám

đốc thẩm coi là kinh tế v.v Nhiều vụ tranh chấp bị kéo dài do không phân định được thẩm quyền Điển hình có những vụ kéo dài gần chục năm như vụ Bavico kéo dài từ năm

1993 đến gần đây mới giải quyết xong và kết quả đó là vụ án hình sự

- Tiêu chí “một trong các bên không có

đăng kí kinh doanh để thực hiện công việc đL thoả thuận trong hợp đồng” được vận dụng khá tuỳ tiện khi xem xét tính vô hiệu của hợp

đồng Ví dụ điển hình là cách giải thích của toà kinh tế về vấn đề này trong vụ VIDAMCO.(2) VIDAMCO là doanh nghiệp liên doanh sản xuất ô tô VIDAMCO bán cho TANACO 100 xe ô tô con TANACO sử dụng 100 chiếc xe này làm taxi chở khách Khi TANACO không thanh toán giá trị hợp

đồng, VIDAMCO đL khởi kiện Toà kinh tế

đL tuyên hợp đồng vô hiệu vì VIDAMCO không đăng kí kinh doanh vận chuyển hành khách bằng taxi vào lúc kí hợp đồng (7/7/1995) mặc dù sau đó 3 tháng TANACO đL bổ sung giấy phép kinh doanh hoạt động này

c) Một trong những vướng mắc lớn trong

Trang 6

việc áp dụng PLHĐKT hiện nay chính là sự

mâu thuẫn giữa một số quy định của Pháp

lệnh với các quy định của BLDS và Luật

thương mại, Pháp lệnh trọng tài và một số

hiệp định thương mại song phương mà Việt

Nam đL kí.(3) PLHĐKT được ban hành trước

Bộ luật dân sự 6 năm, Bộ luật dân sự chứa

đựng nhiều quy định về nguyên tắc kí kết, về

hợp đồng vô hiệu và xử lí tài sản trong các

hợp đồng vô hiệu Những quy định của Bộ

luật dân sự chi tiết hơn, hợp lí hơn so với các

quy định của PLHĐKT song việc áp dụng

các quy định của Bộ luật dân sự khó có thể

thực hiện được do PLHĐKT vẫn đang còn

hiệu lực mặc dù về nguyên tắc các quy định

của Bộ luật dân sự có thể áp dụng để điều

chỉnh những vấn đề mà Pháp lệnh còn chưa

đề cập Hơn nữa, do cách phân chia các cơ

quan tài phán hiện nay thì thẩm phán toà

kinh tế khó chấp nhận việc họ áp dụng các

quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết

tranh chấp HĐKT Luật thương mại cũng có

những mâu thuẫn với PLHĐKT Luật thương

mại 1997 điều chỉnh một số hành vi liên

quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, tức là

một phần các hoạt động nằm trong phạm trù

“kinh tế” theo các tiếp cận của PLHĐKT Sự

khác nhau trong một số quy định của Luật

thương mại và Pháp lệnh HĐKT liên quan

đến chủ thể hợp đồng, hình thức hợp đồng,

mức trách nhiệm vật chất đối với vi phạm

hợp đồng dẫn đến xung đột pháp luật Các

cơ quan tài phán khi thì vận dụng PLHĐKT,

khi thì vận dụng Luật thương mại một cách

tuỳ tiện

Khái niệm “kinh tế” của Pháp lệnh, khái

niệm “thương mại” của Luật thương mại

xung đột với khái niệm thương mại được

dùng trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 và các hiệp định thương mại song phương mà Việt Nam đL kí, đặc biệt là Hiệp

định thương mại Việt Nam - Hoa Kì Sự xung đột về khái niệm này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa toà kinh tế, toà dân

sự và tòa lao động

3 Chấm dứt sự tồn tại của chế định hợp đồng kinh tế

Những bất cập về lí luận, những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện PLHĐKT đL khá rõ ràng Nhiều doanh nghiệp, nhiều thẩm phán đL đưa ra khá nhiều minh chứng cụ thể

và thuyết phục hơn về sự cần thiết phải đặt ra vấn đề về số phận của PLHĐKT.(4) Trong giới nghiên cứu lí luận cũng có khá nhiều ý kiến nêu về sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật HĐKT nói chung và bản thân Pháp lệnh nói riêng.(5)

Mặc dù có sự thống nhất ở việc cần thiết phải xem xét lại PLHĐKT song giải pháp cho số phận của văn bản này lại có nhiều sự khác nhau Một số nhà nghiên cứu, một số nhà thực tiễn chọn giải pháp sửa đổi, bổ sung PLHĐKT(6)

trong lúc một số khác lại cho rằng cần ban hành đạo luật về hợp đồng kinh

tế Cũng có những ý kiến về giải pháp mạnh

mẽ hơn là chấm dứt hiệu lực của PLHĐKT, dùng các quy định của Bộ luật dân sự về hợp

đồng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau.(7)

Giải pháp cơ bản cho PLHĐKT nói riêng

và cho pháp luật về HĐKT nói chung cần phải xuất phát từ việc giải quyết vấn đề: Cần hay không cần đến khái niệm hợp đồng kinh

tế Chỉ khi giải quyết được vấn đề này mới có thể bàn đến hướng hoàn thiện pháp luật về

Trang 7

nó Logic của vấn đề là ở chỗ liệu chúng ta

có cần bàn đến việc hoàn thiện chế định pháp

luật hiện tại không còn thực hiện được vai trò

thúc đẩy các quan hệ kinh tế Theo chúng

tôi, trong hệ thống pháp luật nước ta không

cần tới khái niệm hợp đồng kinh tế cũng như

không cần tới chế định hợp đồng kinh tế như

chúng ta vẫn có từ trước cho tới nay Giải

pháp cơ bản để hoàn thiện cơ chế điều chỉnh

bằng pháp luật các quan hệ kinh tế chiều

ngang là phải xây dựng được hệ thống pháp

luật hợp đồng phản ánh được đòi hỏi của sự

phát triển các quan hệ kinh tế chiều ngang

trong nền kinh tế thị trường Các quy định

pháp luật về hợp đồng có thể được ban hành

trong đạo luật chung về hợp đồng hoặc một

phần trong Bộ luật dân sự Điều cốt yếu

trong sự phát triển pháp luật về hợp đồng

trong tương lai là không nên có sự phân biệt

giữa hợp đồng dân sự, kinh tế, lao động bằng

cách tạo ra những chế định độc lập với

những quy định riêng Lập luận này của

chúng tôi xuất phát từ những cơ sở lí luận và

thực tiễn sau:

+ Về lí luận:

- Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận

của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc

chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lí nhất

định Hợp đồng được kí kết giữa các chủ thể

khi tham gia các quan hệ kinh tế chiều ngang

trên nền tảng của sự bình đẳng, tự do và tự

nguyện Pháp luật cho phép các bên thoả

thuận về xác lập, thay đổi và chấm dứt các

quyền và nghĩa vụ pháp lí Đối với các chủ

thể thì hợp đồng chính là luật và các cam kết

trong hợp đồng ràng buộc các xử sự của họ

Trong bất cứ lĩnh vực quan hệ chiều ngang

nào thì bản chất này không thay đổi Vì vậy,

hoàn toàn có cơ sở lí luận để xây dựng quy

định pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia các quan hệ hợp đồng, cho dù chúng tham gia với mục đích gì? trong lĩnh vực cụ thể nào

- Khái niệm kinh tế có nội hàm rất rộng Không ai có thể phủ nhận rằng các quan hệ như thừa kế, mua bán hàng tiêu dùng không

có nội dung kinh tế, đặc biệt là đối với các quan hệ mua bán hàng tiêu dùng mà chúng

ta hiện đang coi là thuần tuý dân sự Các quan hệ này là bộ phận của quan hệ sản xuất

mà cụ thể là quan hệ phân phối Không có tiêu dùng thì không có sản xuất Chính vì vậy, khó có thể tách quan hệ dân sự ra khỏi quan hệ kinh tế hiểu theo nghĩa kinh doanh như hiện nay ở trong hệ thống pháp luật của nước ta Càng tìm cách tách bạch, chúng ta càng gặp phải những rắc rối Mặt khác, liệu chúng ta có thể tách các quan hệ hợp đồng theo nhiều chế định riêng với các văn bản pháp luật riêng như hợp đồng xây dựng, hợp

đồng dân sự, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng lao động, hợp đồng tín dụng Rõ ràng điều mà chúng ta cần đạt tới

là những quy tắc pháp lí thống nhất, hài hoà cho việc tổ chức quan hệ kinh tế chiều ngang hơn là sự phân tán chúng trong các nguồn luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế khác nhau

+ Về thực tiễn:

- Việc hệ thống pháp luật nước ta trong nhiều năm phân biệt giữa hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp

đồng lao động cho thấy sự phản tác dụng nhiều hơn là tác dụng đối với việc điều chỉnh

có hiệu quả các quan hệ kinh tế, dân sự và thương mại Những vướng mắc bắt nguồn từ

Trang 8

sự phân biệt này đL gây nên tình trạng chồng

chéo thẩm quyền, đùn đẩy việc giải quyết

tranh chấp kinh tế từ cơ quan này sang cơ

quan khác Việc phân định đối tượng của

hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự dựa

trên những tiêu chí không rõ ràng khiến

các việc giải quyết tranh chấp kinh tế gặp

nhiều rắc rối

- Sự ra đời của Bộ luật dân sự, Luật

thương mại và mới đây là Pháp lệnh trọng tài

thương mại cho thấy sự cần thiết phải từ bỏ

quan niệm về hợp đồng kinh tế Nếu vẫn duy

trì khái niệm hợp đồng thương mại, duy trì

định chế pháp luật dựa trên quan niệm này

thì rất khó tạo ra được sự tương thích, sự hài

hoà của pháp luật nước ta với pháp luật quốc

tế về thương mại Mặt khác, cũng có thể

nhận thấy rằng pháp luật của nhiều nước trên

thế giới không phân biệt hợp đồng dân sự,

hợp đồng kinh tế Một số nước ban hành các

đạo luật về hợp đồng để quy định việc đàm

phán, kí kết và thực hiện hợp đồng Các quy

định này được áp dụng vào từng lĩnh vực cụ

thể với một số đặc thù riêng do chính các bên

tham gia hợp đồng thoả thuận ở một số

nước, quan hệ mua bán hàng hoá được điều

chỉnh bằng đạo luật riêng còn trong các lĩnh

vực khác thì áp dụng các quy định chung về

hợp đồng của Bộ luật dân sự

- Khái niệm “hợp đồng kinh tế” gắn

nhiều hơn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung

Hợp đồng kinh tế xuất hiện do nhu cầu phải

điều chỉnh quan hệ hợp đồng mà trong đó

quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định

không phải thông qua sự thể hiện ý chí của

các bên mà thông qua chỉ tiêu kế hoạch Nền

kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN nên sự đoạn tuyệt với định chế đặc trưng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung cũng sẽ có những giá trị thực tiễn của nó

- Việc sửa đổi Bộ luật dân sự đang được tiến hành Xu thế khá rõ nét của Ban sửa đổi

Bộ luật dân sự là việc sửa đổi các quy định của Phần III Bộ luật dân sự, biến các quy

định trong đó thành những quy định chung cho các giao dịch được thực hiện thông qua hợp đồng trong tất cả các lĩnh vực Việc chấm dứt hiệu lực của PLHĐKT sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng đồng thời hoàn thiện một số quy định đặc thù về hợp đồng trong lĩnh vực mua bán hàng hoá, dịch vụ, đầu tư trong Luật thương mại sửa đổi./

(1).Xem: Lê Bích Thọ, “Hình thức của hợp đồng kinh

tế và điều kiện hiệu lực của hợp đồng”, Tạp chí luật học, số 2/2002, tr 43 - 47

(2), (4).Xem: Kỉ yếu Hội thảo HĐKT vô hiệu do VCCI phối hợp với Câu lạc bộ luật gia Việt - Đức tổ chức ngày 28/2/2003

(3).Xem: Nguyễn Văn Luyện “Về môi quan hệ giữa luật dân sự, luật kinh tế và luật thương mại” Tạp chí nhà nước và pháp luật số 12/1999, tr 11

(5).Xem: Đề tài Khoa học KH 99 - 06, “Pháp luật về HĐKT - thực trạng và hướng hoàn thiện”, Trường đại học luật Hà Nội, 2003

(6).Xem: - Nguyễn Thị Khế “Một số ý kiến về sửa đổi Pháp lệnh HĐKT”, Tạp chí luật học số 3/1999, tr 30 -31;

- TS Dương Đăng Huệ, “Luật thương mại

và sự ảnh hưởng của đến sự tồn tại của pháp luật hợp

đồng kinh tế ở nước ta”, Tạp chí nhà nước và pháp luật 1998, số 1, tr 30 -35

(7).Xem: TS Dương Đăng Huệ, “Hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 5/2002, tr 22

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w