Xem xét các chức năng, nhiệm vụ của trọng tài kinh tế nhà nước có thể thấy việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế chỉ là một trong số các chức năng của nó.. Nhưng chính ngay tro
Trang 1TS Trần thái dương* rọng tài là một trong những phương
thức giải quyết tranh chấp kinh tế cú ý
nghĩa quan trọng, nhất là trong nền kinh tế
thị trường Tuy nhiờn, so với cỏc nước khỏc
ở khu vực và trờn thế giới thỡ thể chế trọng
tài kinh tế Việt Nam lại cú quỏ trỡnh phỏt
triển mang tớnh đặc thự Ngày 25/2/2003, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội đó ban hành Phỏp
lệnh trọng tài thương mại Sự kiện này đỏnh
dấu mốc quan trọng, ghi nhận bước phỏt
triển mới của thể chế trọng tài trờn lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam Bài viết này đề cập cỏc
bước phỏt triển chủ yếu của thể chế trọng tài
kinh tế Việt Nam qua cỏc giai đoạn và những
điểm mới của nú với tư cỏch là thể chế về
trọng tài thương mại
I QUÁ TRèNH PHÁT TRIỂN
1 Trước năm 1960
Trước năm 1960, ở Việt Nam chưa cú sự
phõn định việc giải quyết tranh chấp kinh tế
và tranh chấp tài sản núi chung Tuy nhiờn,
từ năm 1956 cũng đó manh nha cơ chế giải
quyết riờng đối với tranh chấp kinh tế thụng
qua việc Nhà nước ban hành Điều lệ tạm thời
số 735/Ttg ngày 10/4/1956 về hợp đồng kinh
doanh
2 Từ năm 1960 - 1994
Đõy là giai đoạn song song tồn tại hai hệ
thống trọng tài trờn lĩnh vực kinh tế (đối nội
và đối ngoại) trong khi khụng cú toà kinh tế
2.1 Hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước
Nghị định số 04/Ttg ngày 04/01/1960 đó ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh
tế, từ đú ở Việt Nam bắt đầu hỡnh thành hệ thống trọng tài nhà nước về kinh tế Thể chế trọng tài kinh tế nhà nước được xỏc lập bởi hàng loạt cỏc văn bản quy phạm phỏp luật như Nghị định số 20/Ttg ngày 14/01/1960, Nghị định số 94/CP ngày 10/6/1965, Nghị định số 75/CP ngày 14/4/1975, Nghị định số 24/CP ngày 10/8/1984 Đến Phỏp lệnh trọng tài kinh tế nhà nước (được ban hành ngày 10/01/1990) thỡ thể chế trọng tài kinh tế nhà nước ở Việt Nam đó phỏt triển đến điểm cực thịnh Theo quy định tại Điều 2 Phỏp lệnh này thỡ trọng tài kinh tế nhà nước cú chức năng cơ bản là quản lớ nhà nước về hợp đồng kinh tế, thể hiện ở cỏc nội dung chớnh như giữ nghiờm kỉ luật hợp đồng kinh tế, xử
lớ cỏc hợp đồng kinh tế trỏi phỏp luật; giải quyết cỏc tranh chấp hợp đồng kinh tế; xõy dựng phỏp luật về hợp đồng kinh tế; tuyờn truyền, hướng dẫn thực hiện phỏp luật về hợp đồng kinh tế
Như vậy, với sự phỏt triển của chế độ hợp đồng kinh tế trong quỏ trỡnh xõy dựng
T
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở Việt
Nam, thể chế trọng tài kinh tế nhà nước có
thể được coi như là thể chế song hành với
chế độ hợp đồng kinh tế và đảm bảo cho chế
độ đó Thực chất, đây là thể chế quản lí nhà
nước trên lĩnh vực hợp đồng kinh tế nhằm
thực thi quyền lực, mệnh lệnh của Nhà nước
thể hiện qua công cụ hợp đồng kinh tế Xem
xét các chức năng, nhiệm vụ của trọng tài
kinh tế nhà nước có thể thấy việc giải quyết
các tranh chấp hợp đồng kinh tế chỉ là một
trong số các chức năng của nó Nhưng chính
ngay trong chức năng này, tính chất trọng tài
với nghĩa đen của từ này cũng được thể hiện
rất đặc biệt, mang đậm tính quyền lực nhà
nước trên lĩnh vực kinh tế và giải quyết các
tranh chấp kinh tế Điều này cũng do bản
chất của các tranh chấp về hợp đồng kinh tế
của thời kì này quyết định Ở đây, không có
mâu thuẫn về lợi ích của các bên mà tất cả
đều là lợi ích của Nhà nước Vì kí kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế là nghĩa vụ của
các bên nên nếu có xung đột xảy ra thì chỉ là
sự xung đột về việc thực hiện nhiệm vụ kế
hoạch của Nhà nước giao Bởi thế, phán
quyết của trọng tài không được các bên đòi
thi hành do quyền lợi của các bên hầu như
không bị ảnh hưởng gì Nói tóm lại, vai trò
chính của trọng tài kinh tế nhà nước trong
thời kì này là kiểm tra, đôn đốc và xử lí vi
phạm trong việc thực hiện chế độ hợp đồng
kinh tế - hình thức pháp lí đặc thù của nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung Hoạt động
xét xử của trọng tài kinh tế nhà nước mang
đậm tính hành chính và lại thiếu cơ chế đảm
bảo thi hành các phán quyết Trọng tài kinh
tế nhà nước chỉ có thể là sản phẩm đặc thù của nền kinh tế kế hoạch tập trung và trong điều kiện đó cũng không thể có cơ quan tài phán kinh tế với tư cách là cơ quan tư pháp Thể chế trọng tài kinh tế nhà nước là sản phẩm tất yếu và cần thiết cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
2.2 Hệ thống trọng tài phi chính phủ
Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập và hoạt động trên cơ sở Nghị định
số 59/CP ngày 30/04/1963 của Hội đồng Chính phủ còn Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam được thành lập và hoạt động trên
cơ sở Nghị định số 53/CP ngày 05/10/1984 Các hội đồng trọng tài này ra đời xuất phát
từ nhu cầu trong thực tiễn quan hệ kinh tế quốc tế Thẩm quyền xét xử của Hội đồng trọng tài hàng hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương là giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thương, thanh toán quốc tế, vận chuyển hàng hoá quốc tế, hàng hải và bảo hiểm quốc tế Theo Quyết định số 204/Ttg ngày 28/04/1993 của Thủ tướng Chính phủ, hai tổ chức trọng tài này đã được sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đồng thời cũng tại văn bản ấy, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Điều lệ của Trung tâm Sau
đó, từ ngày 16/02/1996 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam lại được mở rộng thêm thẩm quyền xét xử đối với các tranh chấp kinh tế trong nước bằng Quyết định số 114/Ttg của Thủ tướng Chính phủ
Trang 3Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là
tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội - nghề
nghiệp) được đặt bên cạnh Phòng thương
mại và công nghiệp Việt Nam Trung tâm có
tính độc lập và không thuộc cơ cấu tổ chức
của Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam Tính “bên cạnh” ở đây một phần thể
hiện sự quản lí nhưng chủ yếu thể hiện tính
độc lập về mặt chuyên môn nghiệp vụ của tổ
chức trọng tài này Điều 2 Điều lệ tổ chức
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam quy
định: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như các
hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp
đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm
quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và
thanh toán quốc tế v.v
Với cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của
hai hệ thống trọng tài kinh tế (chính phủ và
phi chính phủ) của Việt Nam ở thời kì này
như trên cho thấy:
- Thời kì này ở Việt Nam có sự phân biệt
kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, thể hiện
trong việc xác lập hai hệ thống trọng tài với
phạm vi thẩm quyền khác nhau;
- Đối với các tranh chấp quan hệ kinh tế
trong nước (đối nội) thì được giải quyết bằng
trọng tài kinh tế nhà nước còn đối với tranh
chấp kinh tế quốc tế thì được giải quyết bằng
trọng tài kinh tế phi chính phủ (nếu có sự
thoả thuận của các bên hay sự ràng buộc của
điều ước quốc tế)
Thể chế trọng tài kinh tế của Việt Nam ở
thời kì này do bản chất của nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung quy định Các quan hệ
kinh tế đối nội mang tính xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể) được điều khiển từ trung tâm duy nhất là Chính phủ nên trọng tài phải là trọng tài nhà nước với chức năng chủ yếu là duy trì kỉ luật hợp đồng của nền kinh tế đó Các quan hệ kinh tế đối ngoại không thuần nhất là quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa nên cần có tổ chức trọng tài phi chính phủ để giải quyết các tranh chấp kinh
tế theo sự thoả thuận của các bên Nếu so sánh hai loại tổ chức trọng tài ấy thì có thể
thấy tính chất “trọng tài” của Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam được thể hiện rõ rệt hơn Trọng tài kinh tế nhà nước không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa mà thực chất là cơ quan quản lí hành chính kinh
tế của Nhà nước
3 Từ năm 1994 - nay
Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế trọng tài kinh tế nhà nước không còn phù hợp Với việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức toà án nhân dân, từ ngày 1/7/1994 toà kinh tế đã được thành lập trong hệ thống toà án nhân dân, chấm dứt sự tồn tại của trọng tài kinh tế nhà nước Tuy nhiên, cũng xuất phát từ nhu cấu tất yếu của nền kinh tế thị trường, lúc này bên cạnh Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, Nhà nước còn cho phép thành lập các trung tâm trọng tài kinh tế ở các tỉnh, thành phố thuộc trung ương
Như vậy, trong giai đoạn đầu khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ở Việt Nam có hai hệ thống trọng tài phi chính phủ trên lĩnh vực kinh tế Đây chính là điểm đặc thù của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền
Trang 4kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trung tâm trọng tài kinh tế tại các tỉnh,
thành phố thuộc trung ương có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh
tế, tranh chấp giữa công ti với các thành viên
công ti, giữa các thành viên công ti với nhau
liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể công ti, các tranh chấp liên quan đến việc
mua bán cổ phiếu, trái phiếu (Điều 1 Nghị
định số 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và
hoạt động của trọng tài kinh tế) Thông tư số
02 - PL/DSKT ngày 3/1/1995 của Bộ tư
pháp hướng dẫn thi hành một số điểm của
Nghị định này khẳng định trọng tài kinh tế
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau
đây mà không phụ thuộc vào quốc tịch của
các bên tranh chấp:
- Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa
pháp nhân với nhau, giữa pháp nhân với
doanh nghiệp tư nhân; giữa doanh nghiệp tư
nhân với nhau và giữa pháp nhân, doanh
nghiệp tư nhân với cá nhân có đăng kí kinh
doanh;
- Tranh chấp giữa công ti với các thành
viên công ti, giữa các thành viên công ti với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động
và giải thể công ti như tranh chấp đòi rút vốn
ra khỏi công ti, phân chia lỗ, lãi, nhập, tách,
giải thể công ti, tranh chấp về quyền, nghĩa
vụ của thành viên công ti;
- Tranh chấp liên quan đến việc mua bán
cổ phiếu, trái phiếu
Do vậy, từ ngày 1/7/1994 ở Việt Nam có
hai hệ thống tài phán kinh tế là toà án và
trọng tài phi chính phủ Đối tượng xét xử
được mở rộng hơn nhiều so với trọng tài kinh tế nhà nước dưới thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung Trọng tài kinh tế lúc này đã thể hiện tính phi nhà nước, theo đó thẩm quyền của nó cũng được mở rộng ra nhiều loại tranh chấp khác nhau trên lĩnh vực kinh
tế Tình hình đó đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Bởi lẽ, trong nền kinh
tế thị trường, việc giải quyết các tranh chấp kinh tế không chỉ là chức năng thuộc về Nhà nước mà còn là chức năng của xã hội Sự phân định các chức năng đó giữa nhà nước
và xã hội đã được thể hiện bước đầu, Nhà nước không còn giữ độc quyền giải quyết tranh chấp kinh tế và điều đó cho thấy nguyên tắc tự do kinh doanh, tự định đoạt trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được thiết lập trên cơ sở dân chủ hoá hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập quốc
tế Điều này chứng tỏ nguyên tắc xác định phạm vi quyền lực nhà nước trong nền kinh
tế thị trường khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây Việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường toà án và con đường trọng tài được đặt trong mối quan
hệ bổ sung, hỗ trợ nhau Mỗi con đường đều
có những mặt mạnh yếu khác nhau và nền kinh tế thị trường tạo điều kiện khách quan
để các cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế
có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau
Tuy nhiên, cho đến trước khi Pháp lệnh trọng tài thương mại có hiệu lực (1/7/2003) thì thể chế trọng tài kinh tế Việt Nam tồn tại một số điểm bất hợp lí sau:
- Có hai loại trọng tài là trọng tài kinh tế
Trang 5trong nước và trọng tài quốc tế với nguyên
tắc hoạt động và thẩm quyền không khác
nhau nhưng lại có hai cơ sở pháp luật khác
nhau;
- Thể chế trọng tài kinh tế Việt Nam vẫn
chưa xác định cơ chế đảm bảo thi hành quyết
định trọng tài Cùng với những bất cập khác
trong hệ thống pháp luật kinh tế nói chung,
thể chế trọng tài hiện hành cũng là một trong
những trở ngại cho quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế và thu hút đầu tư Vì thế, yêu cầu
đặt ra có tính cấp thiết là phải hoàn thiện
pháp luật về trọng tài kinh tế, thống nhất
điều chỉnh bằng văn bản có hiệu lực pháp lí
mạnh
4 Pháp lệnh trọng tài thương mại -
bước phát triển mới của thể chế trọng tài
kinh tế Việt Nam
Từ ngày 1/7/2003, trọng tài trên lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam không còn tên cũ nữa mà
được gọi là trọng tài thương mại Điều này
không chỉ đơn thuần là sự đổi tên mà có sự
đổi mới quan trọng theo xu hướng hội nhập
quốc tế, qua đó ghi nhận bước tiến mới của
pháp luật về trọng tài ở Việt Nam Cũng từ
ngày 1/7/2003, Nghị định số 116/CP, Quyết
định số 204/Ttg, Quyết định số 114/Ttg sẽ
chấm dứt hiệu lực Ba văn bản quy phạm
pháp luật trên đã từng là cơ sở pháp lí về tổ
chức và hoạt động của hai loại trọng tài kinh
tế đối nội và đối ngoại của Việt Nam trong
thời kì đầu chuyển sang nền kinh tế thị
trường đinh hướng XHCN
Pháp lệnh trọng tài thương mại gồm 8
chương với 63 điều quy định khá toàn diện,
đầy đủ các vấn đề về tổ chức và hoạt động
trọng tài thương mại
II NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
So với các quy định hiện hành, Pháp lệnh trọng tài thương mại có những điểm mới chủ yếu sau:
1 Về phạm vi điều chỉnh
Các tổ chức trọng tài trước đây được gọi
là trọng tài kinh tế và trọng tài quốc tế Pháp lệnh trọng tài thương mại (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) thống nhất điều chỉnh về tổ chức
và hoạt động của hai tổ chức trọng tài ấy và gọi chung là trọng tài thương mại Tuy nhiên, những khái niệm “kinh tế”, “kinh doanh”, “thương mại” ở Việt Nam hiện nay còn đang được sử dụng với những nội hàm
và ý nghĩa khác nhau Điều này cũng là điểm bất cập lớn cho quá trình hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh đã định nghĩa khái niệm
hoạt động thương mại là: “việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân,
tổ chức kinh doanh, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lí thương mại; kí gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn; kĩ thuật; li-xăng; đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.” Như vậy, Pháp lệnh quan niệm
hoạt động thương mại là việc thực hiện hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh (khái niệm thương mại theo nghĩa rộng)
Trang 62 Về thẩm quyền của trọng tài thương mại
Pháp lệnh tiếp tục khẳng định các quy
định về thẩm quyền của trọng tài kinh tế,
trọng tài quốc tế trước đây Điểm mới là
Pháp lệnh đã quy định thành tổ chức trọng
tài duy nhất, không phân biệt tranh chấp
trong nước hay có yếu tố nước ngoài để
thành lập các tổ chức trọng tài riêng
Khía cạnh thứ hai về thẩm quyền của
trọng tài là trọng tài không có thẩm quyền
đương nhiên mà chỉ có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp khi các bên thoả thuận chọn
trọng tài hoặc có sự ràng buộc của điều ước
quốc tế mà Việt Nam kí kết hay tham gia
quy định các bên đương sự phải đưa vụ việc
tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài Các quy
định trên thể hiện đúng bản chất của trọng
tài với tư cách là tổ chức xã hội - nghề
nghiệp hoạt động tài phán về thương mại
Điều này khác toà án với tư cách là cơ quan
tài phán thương mại đương nhiên có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật, thể hiện
tính quyền lực nhà nước trong hoạt động của
nó Điều này cũng được Pháp lệnh quy định
thành nguyên tắc: “Tranh chấp được giải
quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khi
xảy ra vụ tranh chấp, các bên có thoả thuận
trọng tài” (khoản 1 Điều 3)
Về thoả thuận trọng tài, các văn bản
pháp luật trước đây chỉ quy định một cách
khái quát là các bên có quyền thoả thuận
bằng văn bản đưa vụ việc tranh chấp ra trước
trọng tài để giải quyết Điểm mới về vấn đề
này là Pháp lệnh đã quy định thoả thuận
trọng tài thành chương riêng (chương 2) một
cách đầy đủ và hoàn chỉnh hơn, giải quyết
hầu hết các vấn đề điều chỉnh về thoả thuận trọng tài như hình thức của thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu, quan hệ giữa điều khoản trọng tài với hợp đồng Đối với hình thức thoả thuận trọng tài, Pháp lệnh tiếp tục quy định thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản và cũng xác định rõ phạm vi khái niệm văn bản phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại Ngoài hình thức văn bản truyền thống, thoả thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc bằng hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài đều được coi là thoả thuận bằng văn bản Điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thoả thuận riêng là hình thức pháp lí của thoả thuận trọng tài, theo đó Pháp lệnh đưa ra
nguyên tắc: “Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng, việc thay đổi, gia hạn, huỷ bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài” Sở dĩ có điều này là vì
điều khoản trọng tài chỉ vô hiệu trong các trường hợp cụ thể do luật định, không phụ thuộc vào nội dung hay hiệu lực của hợp đồng Đây là thông lệ quốc tế trong pháp luật
về trọng tài thương mại nhưng lại chưa từng được quy định thành nguyên tắc trong pháp luật trọng tài Việt Nam
Về thoả thuận trọng tài vô hiệu, Pháp lệnh quy định 6 trường hợp cụ thể thoả thuận trọng tài không có hiệu lực:
- Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại;
- Người kí thoả thuận trọng tài không có
Trang 7thẩm quyền kí kết theo quy định của pháp
luật;
- Một bên kí thoả thuận trọng tài không
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc
quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ
chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ
tranh chấp mà sau đó các bên không có thoả
thuận bổ sung;
- Thoả thuận trọng tài không được lập
theo đúng hình thức quy định, tức là không
được lập thành văn bản;
- Bên kí kết thoả thuận trọng tài bị lừa
dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả
thuận trọng tài vô hiệu
3 Cơ chế hỗ trợ và giám sát của cơ
quan tư pháp đối với tố tụng trọng tài
Đây là điểm mới quan trọng nhất của
Pháp lệnh cũng là thông lệ pháp luật ở các
nước phù hợp với Luật mẫu của UNCITRAL
về trọng tài thương mại Điều này thể hiện ở
các nội dung sau:
3.1 Vai trò của toà án
+ Thành lập hội đồng trọng tài
Khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh quy định:
“Trong trường hợp các bên không có thoả
thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn thì
bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo
cho nguyên đơn biết Hết thời hạn này, nếu
bị đơn không thông báo cho nguyên đơn
trọng tài viên mà mình chọn thì nguyên đơn
có quyền yêu cầu toà án tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi bị đơn có trụ sở hoặc
cư trú chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.”
- Đối với vụ tranh chấp có một bị đơn thì
trong thời hạn 7 ngày làm việc, toà án chỉ định trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên
- Đối với vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, trong 30 ngày, các bị đơn không chọn được trọng tài viên thì nguyên đơn yêu cầu toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên cho các bị đơn Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, toà án chỉ định trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên
- Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, toà án sẽ chỉ định trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài nếu qua thời hạn 15 ngày kể từ ngày hai trọng tài viên được lựa chọn hoặc toà án chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ ba
- Khi các bên đã thoả thuận vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng lại không chọn được trọng tài viên đó thì theo yêu cầu của một bên, trong thời hạn
15 ngày toà án chỉ định trọng tài viên duy nhất kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên
+ Thay đổi trọng tài viên Các bên có quyền yêu cầu thay đổỉ trọng trọng tài viên và trọng tài viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp trong các trường hợp do pháp luật quy định Việc thay đổi trọng tài viên do các trọng tài viên khác trong hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp không quyết định được hoặc nếu
cả hai trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp thì đối
Trang 8với vụ tranh chấp do hội đồng trọng tài được
các bên thành lập giải quyết, theo yêu cầu
của nguyên đơn, toà án tỉnh nơi bị đơn có trụ
sở hay cư trú quyết định và quyết định này là
chung thẩm (điểm b khoản 4 Điều 27 Pháp
lệnh)
+ Xem xét thoả thuận trọng tài, thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp của hội đồng
trọng tài
Thông thường, trước khi xem xét nội
dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại
của một bên về việc hội đồng trọng tài
không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh
chấp; vụ tranh chấp không có thoả thuận
trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì
hội đồng trọng tài phải xem xét với sự có
mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có
yêu cầu khác Pháp lệnh quy định nếu các
bên không đồng ý với quyết định của hội
đồng trọng tài thì trong thời hạn 5 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định của
hội đồng trọng tài, các bên có quyền yêu cầu
toà án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài ra
quyết định xem xét lại quyết định của trọng
tài Pháp lệnh cũng quy định theo sự uỷ
quyền của chánh án toà án, thẩm phán xem
xét, quyết định trong thời hạn 5 ngày, quyết
định của toà án là chung thẩm Hậu quả của
việc toà án quyết định vụ tranh chấp không
thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài là
hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình
chỉ vụ giải quyết tranh chấp
+ Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong thủ tục tố tụng trọng tài, các biện
pháp khẩn cấp tạm thời giữ vị trí vai trò rất
quan trọng Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên đang có nguy cơ trực tiếp
bị xâm hại, Pháp lệnh quy định các bên có quyền làm đơn đến toà án yêu cầu áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời như:
- Bảo toàn chứng cứ (trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ
bị tiêu huỷ);
- Kê biên tài sản tranh chấp;
- Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;
- Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi cất giữ;
- Phong toả tài khoản tại ngân hàng Toà án có thẩm quyền ở đây là toà án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài đã thụ lí vụ việc tranh chấp Pháp lệnh quy định tuỳ theo yêu cầu của loại biện pháp khẩn cấp tạm thời
mà bên yêu cầu phải cung cấp cho toà án những bằng chứng cụ thể về các chứng cứ cần được bảo toàn, các chứng cứ về việc bị đơn tẩu tán, cất giấu tài sản có thể làm cho việc thi hành quyết định của trọng tài không thể thực hiện được Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày được chánh án giao nhiệm vụ, thẩm phán toà án phải kiểm tra tính chính xác của những tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh, trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn, có thể ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trên Theo quy định của pháp luật, biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được thi hành ngay Cùng với việc quy định vai trò của toà án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Pháp lệnh cũng quy định toà án có quyền thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
+ Lưu trữ hồ sơ trọng tài
Trang 9Theo quy tại khoản 2 Điều 48 Pháp lệnh
thì đối với việc giải quyết vụ tranh chấp tại
hội đồng trọng tài do các bên thành lập trong
thời hạn 15 ngày công bố quyết định trọng
tài hoặc biên bản hoà giải, hội đồng trọng tài
phải gửi quyết định trọng tài, biên bản hoà
giải kèm theo hồ sơ giải quyết vụ tranh chấp
cho toà án tỉnh nơi hội đồng trọng tài ra
quyết định trọng tài hoặc lập biên bản hoà
giải để lưu trữ
+ Huỷ quyết định của trọng tài
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định trọng tài, nếu có bên không
đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền
làm đơn gửi toà án cấp tỉnh nơi hội đồng
trọng tài ra quyết định trọng tài để yêu cầu
huỷ quyết định trọng tài
Khoản 2 Điều 53 Pháp lệnh quy định
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lí,
chánh án toà án phải chỉ định hội đồng xét
xử gồm 3 thẩm phán, trong đó có một thẩm
phán làm chủ toạ và phải mở phiên toà để
xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài
Hội đồng xét xử không xét xử nội dung tranh
chấp mà chỉ kiểm tra các giấy tờ, thủ tục, đối
chiếu quyết định trọng tài với các quy định
của pháp luật để ra quyết định Hội đồng
trọng tài có quyền huỷ hoặc không huỷ quyết
đinh trọng tài, đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
nếu người nộp đơn rút đơn hoặc đã triệu tập
hợp lệ mà vẫn vắng mặt không có lí do chính
đáng hoặc bỏ phiên toà mà không được hội
đồng xét xử đồng ý Toà án có quyền huỷ
quyết định trọng tài trong các trường hợp:
- Không có thoả thuận trọng tài;
- Thoả thuận trọng tài vô hiệu;
- Thành phần hội đồng trọng tài, tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên theo quy định của Pháp lệnh;
- Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài; trong trường hợp quyết định trọng tài có một phần không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài thì phần đó bị huỷ;
- Trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp, có trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ của trọng tài viên;
- Quyết định trọng tài trái với lợi ích công cộng của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Cần chú ý là toà án ra quyết định huỷ quyết định trọng tài khi bên yêu cầu chứng minh được hội đồng trọng tài đã ra quyết định trọng tài thuộc một trong các trường hợp nêu trên Pháp lệnh còn quy định quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định của toà án
và trách nhiệm xét kháng cáo, kháng nghị của toà án Khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh quy định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo hoặc quyết định kháng nghị, Toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà xem xét quyết định Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn
bộ quyết định của toà án cấp sơ thẩm; đình chỉ việc xét kháng cáo trong các trường hợp
cụ thể do pháp luật quy định Quyết định này
là quyết định cuối cùng có hiệu lực thi hành
3.2 Vai trò của viện kiểm sát
Với tư cách là cơ quan kiểm sát hoạt động
tư pháp, viện kiểm sát nhân dân cũng đóng vai trò nhất định trong tố tụng trọng tài như:
- Viện kiểm sát có quyền kiểm sát từ khâu yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Khoản 5 Điều 34 Pháp lệnh
Trang 10quy định: “Quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải được gửi ngay cho
hội đồng trọng tài, các bên tranh chấp và
viện kiểm sát cùng cấp” Pháp lệnh cũng quy
định viện kiểm sát có quyền kiến nghị toà án
đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời xem xét việc thay đổi, huỷ bỏ hoặc
giữ nguyên các biện pháp ấy
- Viện kiểm sát có quyền tham gia xét
đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài của toà
án từ khâu thụ lí đơn Toà án phải thông báo
cho viện kiểm sát cùng cấp biết việc thụ lí
đơn, phải chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát
cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc
trước thời hạn mở phiên toà Đại diện viện
kiểm sát có quyền tham gia phiên toà, được
quyền phát biểu ý kiến trước hội đồng xét
xử Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
quyết định của toà án, được tham gia phiên
toà xét kháng cáo, kháng nghị và được
quyền phát biểu ý kiến
Pháp lệnh quy định vai trò, thẩm quyền của
viện kiểm sát nêu trên nhằm đảm bảo sự tuân thủ
pháp luật của hoạt động tư pháp khi hoạt động
hỗ trợ trọng tài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của các bên và trật tự pháp luật chung
3.3 Vai trò của cơ quan thi hành án
Pháp lệnh khẳng định vai trò của cơ quan
thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú
hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành
Sau 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành
quyết định trọng tài, nếu một bên không tự
nguyện thi hành cũng không yêu cầu huỷ bỏ
theo quy định, bên được thi hành quyết định
trọng tài có quyền làm đơn gửi cơ quan thi
hành án nêu trên thi hành quyết định trọng tài
Nhìn chung, với những điểm mới cơ bản
nêu trên, thể chế trọng tài thương mại Việt
Nam đã tương thích với thể chế này của các nước ở những khía cạnh sau:
- Khái niệm tranh chấp trong hoạt động thương mại;
- Hiệu lực của quyết định trọng tài;
- Vai trò của cơ quan tư pháp đối với việc
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, thành lập hội đồng trọng tài, huỷ quyết định trọng tài và thi hành quyết định trọng tài
Trọng tài thương mại Việt Nam theo Pháp lệnh mới được ban hành là tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong hoạt động thương mại trên cơ sở thoả thuận của các bên, không kể tranh chấp trong nước hay tranh chấp quốc
tế So với phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án thì phương thức trọng tài có nhiều ưu điểm Tuy nhiên, cũng theo thông lệ quốc tế, hoạt động của trọng tài thương mại phải được sự hỗ trợ, giám sát và đảm bảo từ phía các cơ quan tư pháp
Trên con đường phát triển và hội nhập, trọng tài trên lĩnh vực kinh tế của Việt Nam đang ngày càng đảm bảo tốt hơn cho quyền
tự do kinh doanh và tạo môi trường đầu tư thuận lợi Sự ra đời của Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam là bước phát triển mới rất quan trọng của thể chế trọng tài, ghi nhận
cơ chế xã hội hoá việc giải quyết tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Thể chế trọng tài thương mại
đã được gắn kết và đảm bảo bởi thể chế tư pháp Vấn đề đặt ra là các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cần sớm ra các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để Pháp lệnh có thể nhanh chóng đi vào đời sống thương mại góp phần thực hiện các cam kết
về hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay./