Là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc quy định các phương thức, xác lập cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình.. Theo
Trang 1
ghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đề ra nhiệm vụ cho Đảng và
Nhà nước ta trong giai đoạn tới là xây dựng
Nhà nước pháp quyền x* hội chủ nghĩa, x*
hội công bằng, dân chủ và văn minh Để
thực hiện thành công mục tiêu này của
Đảng đòi hỏi trong thời gian tới chúng ta
phải tiếp tục không ngừng phát huy dân
chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân
Hơn 50 năm qua, dưới sự l*nh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, nền dân chủ x*
hội chủ nghĩa đ* được xây dựng và đang
từng bước được hoàn thiện Hiến pháp là
một trong những yếu tố pháp lí cơ bản tạo
nền móng cho việc xây dựng, phát triển và
hoàn thiện nền dân chủ x* hội chủ nghĩa
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước có
hiệu lực pháp lí cao nhất đồng thời Hiến
pháp là phương tiện pháp lí cao nhất thể
hiện tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam
dưới hình thức những quy phạm pháp luật
Nội dung cơ bản của Hiến pháp là vấn đề tổ
chức quyền lực nhà nước, tổ chức bộ máy
nhà nước và ghi nhận các quyền tự do dân
chủ của công dân
Chính vì Hiến pháp đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc khẳng định
quyền tự do, dân chủ của cá nhân cho nên
tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà (9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đ* đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách mà Chính phủ cần phải thực hiện
Một trong sáu nhiệm vụ đó là xây dựng Hiến pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Trước chúng ta đ bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một
tiếp của Bác Hồ, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ đ* được soạn thảo Ngày 9/11/1946 Quốc hội khoá I đ*
thông qua bản Hiến pháp này
Điều 1 Hiến pháp 1946 tuyên bố: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Ngoài ra, Hiến pháp còn dành toàn
bộ Chương II để quy định các quyền tự
do, dân chủ cho công dân Việt Nam
Kế thừa và phát huy những giá trị dân chủ của Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp sau này của Nhà nước Việt Nam x* hội chủ
N
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
TS Vũ Hồng Anh *
Trang 2nghĩa đều khẳng định nguyên tắc quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời còn
thiết lập cơ chế bảo đảm sao cho việc thực
thi quyền lực nhà nước phục vụ cho lợi ích
của nhân dân và luôn nằm dưới sự kiểm
soát của nhân dân
Dưới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền
lực nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản
là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
I Hình thức dân chủ trực tiếp
Dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân
trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của
mình Đây là hình thức hữu hiệu tạo cho
nhân dân, với tính cách là chủ thể tối cao và
duy nhất của quyền lực nhà nước, khả năng
tham gia tích cực và chủ động vào các hoạt
động của Nhà nước
Là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp
đóng vai trò quan trọng trong việc quy định
các phương thức, xác lập cơ chế bảo đảm
cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực
tiếp của mình Theo quy định của Hiến
pháp hiện hành, hình thức dân chủ trực tiếp
được thực hiện bằng các phương thức sau:
Chế độ bầu, b*i miễn đại biểu Quốc hội,
đại biểu hội đồng nhân dân; chế độ gặp gỡ
tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại
biểu hội đồng nhân dân; quyền công dân tham
gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và
của địa phương, biểu quyết khi Nhà nước tổ
chức trưng cầu ý dân
Trong thời gian vừa qua, hình thức dân
chủ trực tiếp đ* ngày càng đóng vai trò tích
cực trong việc phát huy quyền làm chủ về
mọi mặt của nhân dân Tuy nhiên bên cạnh
mặt tích cực, thực tế thực hiện hình thức
dân chủ này còn bộc lộ một số hạn chế
trong các mặt sau đây:
1 Đối với chế độ bầu cử Chế độ bầu cử mà chúng ta áp dụng trong những năm vừa qua thể hiện tính ưu việt của nhà nước x* hội chủ nghĩa Tuy nhiên, các cuộc bầu cử vừa qua cho thấy đại
bộ phận quần chúng nhân dân chưa được tham gia vào giai đoạn đề cử ứng cử viên; phạm vi lựa chọn đại biểu trong số ứng cử viên của cử tri bị hạn chế bởi vì tỉ lệ chênh lệch giữa đại biểu và người ứng cử rất thấp;
cử tri không hoàn toàn nắm đầy đủ thông tin về tất cả các ứng cử viên trong đơn vị bầu cử, đặc biệt đối với những ứng cử viên
do trung ương giới thiệu về địa phương; hiện tượng vi phạm pháp luật bầu cử như bầu hộ, bầu thay còn diễn ra phổ biến
Trong điều kiện nền kinh tế x* hội ngày càng phát triển, trình độ văn hoá và nhận thức chính trị trong nhân dân ngày càng
được nâng lên một cách rõ rệt, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử Việc cải cách chế độ bầu cử phải được thực hiện một cách đồng
bộ từ khâu chia đơn vị bầu cử, ấn định số lượng đại biểu cho mỗi đơn vị bầu cử, giới thiệu ứng cử viên, hiệp thương cho đến giai
đoạn vận động tranh cử để tạo điều kiện cho cử tri tích cực tham gia vào quá trình bầu cử, bảo đảm mở rộng phạm vi người ứng cử cho cử tri lựa chọn, bảo đảm cho cử tri nắm được đầy đủ các thông tin về ứng cử viên, khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật về bầu cử Ngoài ra, trong thời gian tới chúng ta nên nghiên cứu mở rộng phạm vi cơ quan, chức danh được thành lập bằng con đường bầu cử
Trang 32 Đối với việc thực hiện chế độ bãi
nhiệm đại biểu
Chế độ b*i nhiệm đại biểu dân cử được
hình thành trên cơ sở nguyên tắc uỷ quyền
mệnh lệnh (imperative mandate) được các
nhà nước x* hội chủ nghĩa sử dụng không
những để khắc phục tính hình thức trong
hoạt động của các cơ quan dân cử nói
chung, các đại biểu dân cử nói riêng mà
còn là một trong những biện pháp để nhân
dân thực hiện quyền giám sát của mình
Theo nguyên tắc này, cử tri, thông qua bầu
cử, trao cho các đại biểu uỷ nhiệm thư đồng
thời có quyền b*i miễn đại biểu nếu đại
biểu không thực hiện hoặc không thực hiện
tốt uỷ nhiệm thư
Nguyên tắc uỷ nhiệm thư được các
nước x* hội chủ nghĩa áp dụng theo các
mức độ khác nhau Trong thực tế, chỉ có
Hiến pháp năm 1977 của Liên Xô áp dụng
nguyên tắc uỷ nhiệm thư một cách đầy đủ
nhất ở Việt Nam, các Hiến pháp 1946,
1959, 1980, 1992 không đề cập nguyên tắc
uỷ nhiệm thư nhưng cho phép cử tri b*i
nhiệm đại biểu dân cử khi đại biểu đó
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của
nhân dân Tuy nhiên, Hiến pháp cũng như
các văn bản luật khác chưa có điều khoản
nào xác định đại biểu phạm phải hành vi
hay thực hiện hoạt động như thế nào sẽ bị
coi là không xứng đáng với sự tín nhiệm
của nhân dân Điều này dẫn đến những
khó khăn nhất định khiến cho chế độ cử
tri b*i nhiệm đại biểu không thể thực
hiện được trong thực tế
Hiến pháp hiện hành bổ sung thêm quy
định cho phép cơ quan dân cử b*i nhiệm
những đại biểu thành viên không còn xứng
Thực
tế những lần b*i nhiệm đại biểu Quốc hội,
đại biểu hội đồng nhân dân cho thấy những
đại biểu bị b*i nhiệm vi phạm kỉ luật không phải trên cương vị đại biểu dân cử mà trên cương vị là người quản lí, l*nh đạo, kinh doanh hoặc cương vị khác Do đó, việc b*i nhiệm những cá nhân đó chưa thể hiện đầy
đủ tinh thần của chế độ b*i nhiệm đại biểu dân cử Muốn cho chế độ b*i nhiệm đại biểu thực sự trở thành một trong những phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, trong thời gian tới chúng
ta có thể khắc phục hạn chế này theo một trong những hướng sau:
Thứ nhất, áp dụng nguyên tắc uỷ nhiệm thư Theo phương án này, chúng ta phải sửa
đổi Luật bầu cử, bổ sung quy định buộc các ứng cử viên trong quá trình vận động tranh
cử phải cam kết với cử tri nơi đại biểu ra tranh cử về những hoạt động của mình trong trường hợp trúng cử Trong quá trình làm nhiệm vụ, đại biểu không thực hiện
đúng cam kết thì cử tri có quyền đặt vấn đề b*i nhiệm đại biểu Tuy nhiên, phương án này khó có thể áp dụng đối với đại biểu Quốc hội Bởi lẽ theo tinh thần của Điều 97 Hiến pháp, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước Vì vậy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, bên cạnh việc bảo
vệ lợi ích của người dân ở đơn vị bầu cử,
đại biểu Quốc hội còn phải tính đến lợi ích của nhân dân cả nước (lợi ích dân tộc)
Trang 4Mặt khác, thủ tục thực hiện chế độ cử
tri b*i nhiệm đại biểu cần phải được quy
định trong văn bản luật riêng chứ không chỉ
được điều chỉnh bởi một vài điều trong Luật
bầu cử như hiện nay Bởi vì, thủ tục b*i
nhiệm đại biểu rất phức tạp và chế độ cử tri
b*i nhiệm đại biểu dân cử cũng có ý nghĩa
chính trị như chế độ cử tri bầu ra người đại
diện của mình;
Thứ hai, chỉ áp dụng chế độ cơ quan
dân cử b*i nhiệm đại biểu thành viên của
mình khi đại biểu đó không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân nhưng vẫn
xây dựng cơ chế để nhân dân có thể tham
gia ở mức độ nhất định vào thủ tục này
Phương án này đ* được Hiến pháp năm
1946 đề cập Theo quy định của Điều 41
Hiến pháp năm 1946, Nghị viện phải xét
vấn đề b*i miễn nghị viên khi nhận được đề
nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay
thành phố đ* bầu ra nghị viên đó Trong
giai đoạn hiện nay, để áp dụng phương án
này cần quy định rõ nhiệm vụ của đại biểu,
xác định rõ những việc đại biểu không được
làm Đây chính là cơ sở để cử tri căn cứ vào
đó đánh giá mức độ tín nhiệm của mình đối
với đại biểu
3 Đối với chế độ gặp gỡ, tiếp xúc cử
tri của đại biểu dân cử
Mặc dù trong thời gian qua chúng ta đ*
có những nỗ lực cải tiến để bảo đảm nâng
cao chất lượng nhưng hoạt động này vẫn
chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân
dân Nguyên nhân chủ yếu là do đa số đại
biểu dân cử hoạt động theo chế độ không
chuyên trách, thời gian dành cho hoạt động
làm nhiệm vụ đại biểu không tương xứng;
điều kiện cơ sở vật chất chưa được quan tâm đúng mức; nhận thức của một số đại biểu, đặc biệt là đại biểu hội đồng nhân dân
về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác này chưa đầy đủ
Để nâng cao chất lượng hoạt động này của đại biểu dân cử, trong thời gian tới chúng ta cần phải tăng dần số đại biểu hoạt
động chuyên trách cả trong thành phần của Quốc hội và hội đồng nhân dân, tiến tới chuyên nghiệp hoá hoạt động của cơ quan dân cử; cải tiến phương pháp và hình thức thực hiện chế độ gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri theo hướng tăng số lần gặp gỡ, mở rộng phạm vi, đối tượng gặp gỡ chứ không chỉ dừng lại ở những người đại diện được lựa chọn từ trước; tăng cường cơ sở vật chất cho
đại biểu, bảo đảm sao cho mỗi đại biểu Quốc hội có văn phòng tại đơn vị bầu cử ra mình và được tuyển ít nhất một thư kí giúp việc
4 Đối với quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân
Trong thời gian qua, Nhà nước đ* tổ chức nhiều hoạt động lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào việc xây dựng Hiến pháp
và một số văn bản luật Mặc dù vậy, cho
đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể những vấn đề nào là vấn đề chung của cả nước, trước khi cơ quan nhà nước ban hành Hiến pháp hay văn bản luật nào đó cần phải đưa ra lấy ý kiến đóng góp của nhân dân; thủ tục lấy ý kiến đóng góp của nhân dân được tiến hành ra sao; cơ quan nhà nước nào chịu trách nhiệm thực
Trang 5hiện nhiệm vụ này Chính vì lí do nói trên
mà phạm vi những vấn đề được đưa ra tham
khảo ý kiến của nhân dân chỉ giới hạn ở
một số văn bản pháp luật Thiết nghĩ trong
thời gian tới chúng ta cần phải xây dựng và
ban hành văn bản luật quy định cụ thể về
vấn đề này nhằm mở rộng hơn nữa phạm vi
những vấn đề nhân dân được quyền tham
gia thảo luận, đóng góp ý kiến
Trưng cầu ý dân là hình thức trực tiếp
cao nhất thể hiện quyền lực nhân dân Nhận
thức sâu sắc vấn đề này, bản Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ - Hiến
pháp năm 1946 đ* dành 3 điều quy định
quyền phúc quyết của nhân dân (Điều 21,
32, 70) nhưng do hoàn cảnh đất nước có
chiến tranh nên quyền phúc quyết của nhân
dân Việt Nam không có điều kiện thực
hiện Hiến pháp năm 1992 tiếp tục phát huy
tinh thần của Hiến pháp năm 1946, quy
định cho công dân quyền biểu quyết khi
nhiên, gần một thập kỉ qua, quyền trưng cầu
ý dân cũng chưa một lần được thực hiện
trong thực tế Nguyên nhân cơ bản của sự
chậm trễ này là cho đến nay chúng ta vẫn
chưa xây dựng được cơ chế pháp lí để cụ
thể hoá quyền trưng cầu ý dân của công dân
Việt Nam Trong thời gian tới, để bảo đảm
cho quyền trưng cầu ý dân thực sự đi vào
cuộc sống, đòi hỏi chúng ta cần phải
nhanh chóng xây dựng và ban hành đạo
luật về trưng cầu ý dân Luật cần quy định
cụ thể những vấn đề nào Nhà nước phải
đưa ra để nhân dân biểu quyết; trình tự,
thủ tục tiến hành cuộc biểu quyết; kết quả
pháp lí của cuộc trưng cầu ý dân
II Hình thức dân chủ đại diện Hình thức dân chủ đại diện là hình thức cơ bản thông qua đó nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực nhà nước Hình thức dân chủ đại diện được vận hành theo cơ chế hiến định Theo cơ chế này, nhân dân bầu
ra cơ quan đại diện Cơ quan đại diện trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân nên còn
được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội thể hiện ở chỗ: Quốc hội thay mặt cho nhân dân cả nước quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như lập hiến, lập pháp, các chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế, x* hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; thành lập các cơ quan nhà nước trung ương; quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Tính chất quyền lực nhà nước của hội đồng nhân dân thể hiện ở vai trò của hội đồng nhân dân là cơ quan thay mặt nhân dân địa phương quyết định các biện pháp nhằm xây dựng địa phương về mọi mặt, bảo đảm phát triển kinh tế văn hoá, nâng cao đời sống của nhân dân; thành lập ra cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; thực hiện quyền giám sát hoạt
động của cơ quan này và các cơ quan nhà nước khác đóng trên địa bàn địa phương
Để bảo đảm cho hoạt động của cơ quan
đại diện luôn luôn thể hiện lợi ích của nhân dân, Hiến pháp trao cho nhân dân quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan
Trang 6dân cử, đại biểu dân cử đồng thời Hiến
pháp cũng quy định biện pháp chế tài đối
với đại biểu không xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân, cơ quan dân cử làm
thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân
dân
Hiệu quả của hình thức dân chủ đại
diện phụ thuộc chủ yếu vào kết quả hoạt
động của các cơ quan dân cử mà kết quả
hoạt động của cơ quan dân cử lại phụ thuộc
vào cách thức tổ chức và phương thức hoạt
động của chúng Trong những năm qua,
mặc dù chúng ta đ* tiến hành một số cải
cách tổ chức và hoạt động của Quốc hội và
hội đồng nhân dân, tuy nhiên những thay
đổi đó còn chậm trễ so với sự phát triển của
đời sống kinh tế x* hội của đất nước, đặc
biệt trong giai đoạn toàn cầu hoá nền kinh
tế thế giới hiện nay Vì vậy, hoạt động của
cơ quan dân cử chưa hoàn toàn đáp ứng
được sự mong đợi của nhân dân Có thể dễ
dàng nhận thấy sự hạn chế của hình thức
dân chủ đại diện là sự không tương xứng
giữa tính chất đại diện và quyền lực nhà
nước với phương thức tổ chức và hoạt động
bán chuyên nghiệp của cơ quan dân cử
Hoạt động lập pháp là một trong những
hoạt động quan trọng bậc nhất của Quốc
hội Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp
quyền x* hội chủ nghĩa, nhu cầu quản lí x*
hội bằng pháp luật đòi hỏi phải nhanh
chóng cải cách hoạt động lập pháp của
Quốc hội Vì hoạt động lập pháp của Quốc
hội bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức và cách
thức hoạt động của Quốc hội, do vậy đòi
hỏi chúng ta phải cải cách tổ chức và hoạt
động của cơ quan dân cử một cách toàn diện
Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan dân cử động chạm đến hàng loạt các điều khoản của Hiến pháp quy định
về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như các hình thức hoạt động của Quốc hội Để có thể đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, cần tiếp tục nghiên cứu để không những chuyển phương thức hoạt động của Quốc hội “từ tham luận
Quốc hội từ hoạt động bán chuyên nghiệp sang hoạt động chuyên nghiệp Đại biểu Quốc hội cần phải được tách ra khỏi các chức danh liên quan đến hoạt động hành pháp và tư pháp Điều này giúp cho người
đại diện của nhân dân toàn tâm, toàn ý với nhiệm vụ đại biểu của mình
Hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội đòi hỏi các uỷ ban thường trực của Quốc hội không những cần phải được tăng cường về số lượng mà còn phải được tăng cường thêm quyền hạn Thực tế hoạt
động của nghị viện ở các nước cho thấy, hàng năm nghị viện thông qua một số lượng lớn văn bản luật, thí dụ, Quốc hội Mĩ thông
Hiệu quả của hoạt động lập pháp này có sự đóng góp rất quan trọng của các uỷ ban Theo quy định của hiến pháp, ở nhiều nước các uỷ ban của nghị viện có quyền khởi xướng, tiếp nhận, chỉnh lí dự án luật Thậm chí ở một
số nước, trong một số trường hợp còn cho phép uỷ ban thường trực của nghị viện thông qua dự án luật.(6) Sự hoạt động tích cực có hiệu quả của các uỷ ban của nghị viện cho phép nghị viện, tại các phiên họp,
Trang 7chủ yếu tập trung thảo luận các vấn đề cơ
bản của dự án luật mà không sa đà vào các
vấn đề khác như về câu chữ, hành văn v.v
Điều này không những góp phần rút ngắn
thời gian thảo luận và thông qua mỗi dự án
luật mà còn nâng cao chất lượng của các
văn bản luật do nghị viện ban hành Thiết
nghĩ chúng ta cần vận dụng một cách hợp lí
mô hình này vào việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của Quốc hội nước ta
Quyền giám sát của Quốc hội đối với
hoạt động của các cơ quan nhà nước trung
ương, đặc biệt là đối với hoạt động của
Chính phủ là một trong những biểu hiện
quan trọng của quyền lực nhà nước cao nhất
của Quốc hội Quốc hội thực hiện quyền
giám sát thông qua hoạt động của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
uỷ ban của Quốc hội, thông qua kì họp
Quốc hội và hoạt động của các đại biểu
Quốc hội
Tại kì họp, Quốc hội thực hiện quyền
giám sát thông qua hình thức nghe báo cáo
hoạt động của các cơ quan nhà nước và hoạt
động chất vấn của đại biểu Quốc hội Thực
tế cho thấy các đại biểu sử dụng quyền chất
vấn chưa hoàn toàn phù hợp với nội dung và
tính chất của nó Những vấn đề đại biểu nêu
ra thường mang tính chất câu hỏi để thu
thập thông tin, nhiều câu hỏi lại không có
nội dung Trong nhiều trường hợp, việc trả
lời chất vấn của người bị chất vấn còn
chung chung, thiếu cụ thể Có những vấn đề
được đại biểu đề cập qua nhiều phiên họp
mà vẫn không nhận được câu trả lời thoả
đáng Để nâng cao hiệu quả của hình thức
dân chủ đại diện, chúng ta cũng cần phải
đổi mới hoạt động chất vấn của Quốc hội
Trong chất vấn nên chia thành hai hình
thức: Hình thức câu hỏi và hình thức điều trần Hình thức câu hỏi được đại biểu sử dụng để thu thập các thông tin cần thiết
Đại biểu có thể đặt câu hỏi bằng lời hoặc bằng văn bản Người phải trả lời có thể trả lời ngay tại phiên họp Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn do luật định
Để hạn chế những câu hỏi không rõ nội dung hoặc những câu hỏi liên quan đến bí mật quốc gia, cần quy định trong luật phạm
vi những vấn đề mà người phải trả lời có quyền không trả lời
Hình thức điều trần chỉ được áp dụng trong trường hợp quan chức cao cấp của Nhà nước không hoàn thành nhiệm vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ phạm phải hành vi vi phạm pháp luật Kết quả của hình thức này có thể dẫn đến sự b*i nhiệm khỏi việc đảm nhận chức vụ của quan chức đó./
(1).Xem: Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, H 1980, tr.356
(2) Chế độ cơ quan dân cử b*i nhiệm đại biểu thành viên đ* được Hiến pháp 1946 đề cập tại các Điều 41
và 61 Các bản Hiến pháp 1959 và 1980 chỉ cho phép cử tri b*i nhiệm đại biểu dân cử
(3) Các Hiến pháp 1959, 1980 không quy định trực tiếp quyền trưng cầu ý dân mà gián tiếp đề cập tại các điều quy định về quyền hạn của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội (khoản 5 Điều 53 Hiến pháp 1959) và Hội đồng nhà nước (khoản 6 Điều 84 Hiến pháp 1980)
(4).Xem: Lê Minh Thông, “Một số vấn đề về hoàn thiện các cơ sở hiến định của tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4/2000, tr.9
(5).Xem: Vũ Hồng Anh, “Tổ chức và hoạt động của nghị viện ở một số nước trên thế giới”, Nxb Chính trị quốc gia, H 2001, tr 236
(6).Xem: Vũ Hồng Anh Sđd, tr 69 -70