1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bàn về việc đổi mới tên gọi chương trình nội dung môn học luật kinh tế " pdf

6 372 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn Về Việc Đổi Mới Tên Gọi Chương Trình Nội Dung Môn Học Luật Kinh Tế
Tác giả PGS.TS. Lê Hồng Hạnh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 100,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Hồng Hạnh * ừ lâu, trong lí luận về pháp luật ở Việt Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm ngành luật, nhất là các ngành luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế.. Dướ

Trang 1

PGS.TS Lê Hồng Hạnh *

ừ lâu, trong lí luận về pháp luật ở Việt

Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

xung quanh khái niệm ngành luật, nhất là

các ngành luật điều chỉnh các quan hệ kinh

tế Những quan điểm này trong quá khứ cũng

như hiện nay chi phối khá nhiều đến chương

trình, giáo trình giảng dạy và ngay cả hoạt

động lập pháp Dưới ảnh hưởng của trường

phái luật học Xô viết trước đây cũng như ảnh

hưởng của các quan điểm của Đảng về xây

dựng kinh tế, việc coi luật kinh tế như là

môn học, ngành học theo m= số đào tạo sau

đại học là xu hướng phổ biến Tuy nhiên, có

thể thấy rằng quan điểm về luật kinh tế, nhất

là việc xác định mối quan hệ giữa nó với luật

thương mại, luật dân sự có nhiều điểm cần

phải được làm rõ Điều này có ý nghĩa đối

với việc xây dựng chương trình đào tạo của

Khoa pháp luật kinh tế nói riêng và của

Trường đại học luật Hà Nội nói chung Cần

phải làm rõ các khái niệm trên về mặt học

thuật, tạo dần tư duy mới và cách tiếp cận

mới đối với chúng Trên cơ sở của quan niệm

thống nhất về những khái niệm này, chúng ta

sẽ có định hướng tốt hơn cho việc đổi mới

chương trình, giáo trình đào tạo các lĩnh vực

pháp luật kinh tế, thương mại, dân sự, giảm

tối đa sự chồng chéo, mâu thuẫn, sự trùng

lặp Chương trình đào tạo tốt sẽ góp phần tạo

ra sự nhất quán trong hoạt động xây dựng

pháp luật kinh tế Để góp phần tạo ra sự

thống nhất này, chúng tôi xin đề cập một số vấn đề sau đây

1 Trước hết, cần phải có sự thay đổi trong nhận thức về việc phân định ngành luật Sự tồn tại của một hệ thống pháp luật

được phân thành nhiều ngành luật khác nhau với những phương pháp điều chỉnh khác nhau, đối tượng điều chỉnh khác nhau đ= từng được coi là tiêu chí xác định tính hoàn thiện của nó Thực tế này tồn tại khá lâu dài

ở một số nước, đặc biệt là các nước có truyền thống pháp luật XHCN Việt Nam cũng ở trong tình trạng này Sự phân chia hệ thống pháp luật theo các ngành cụ thể với những ranh giới “không thể bị phá vỡ” ảnh hưởng khá sâu đến quan niệm và học thuật ở các nước này Có những thời kì, các nhà khoa học đ= tranh luận hàng chục năm trời để xác

định lĩnh vực quan hệ cụ thể nào đó có nằm trong phạm vi ngành luật này hay ngành luật khác hay không và đặc biệt liệu có tồn tại luật kinh tế độc lập hay không? Những tranh luận này hầu như ít mang lại hiệu quả cho việc hoàn thiện chương trình giảng dạy hay

hệ thống pháp luật Những định nghĩa gò bó

về ngành luật độc lập, những lí giải cho sự tồn tại ngành luật độc lập chiếm tỉ lệ không nhỏ trong chương trình đào tạo của các trường luật, khoa luật ở các nước XHCN

T

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Xét dưới góc độ lịch sử thì việc phân chia

hệ thống pháp luật ra thành nhiều ngành luật

khác nhau là hệ quả của sự phát triển của các

quan hệ x= hội Các quan hệ x= hội thô sơ, ít

phức tạp có thể được điều chỉnh chung bằng

một văn bản pháp luật như kiểu Bộ luật Hồng

Đức của nước ta dưới triều Lê Thánh Tông

hay Luật Hamurapi của ấn Độ, Luật 12 bảng

của La M= Các văn bản pháp luật này điều

chỉnh nhiều quan hệ x= hội khác nhau mà

không có sự phân chia chúng thành những

lĩnh vực cụ thể như hình sự, dân sự, đất đai

hay hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, sự phát

triển của quan hệ x= hội đến thời kì nhất định

đ= trở nên đa dạng và phức tạp đến mức khó

có thể điều chỉnh chúng trong một văn bản

giản đơn như vậy Sự phân chia thành các

lĩnh vực cụ thể đ= góp phần nâng cao hiệu

quả tác động của pháp luật Giá trị này của

sự phân chia hệ thống pháp luật vẫn còn tồn

tại đến ngày nay Tuy nhiên, sự phát triển

theo đường xoáy trôn ốc của các quan hệ x=

hội đ= đạt đến mức mà sự xâm nhập và liên

hệ giữa chúng diễn ra ở mức độ khó cho

phép phân định được một cách đầy đủ ranh

giới giữa các ngành luật điều chỉnh chúng

Vì vậy, sự phân định hệ thống pháp luật ra

thành những ngành luật khác nhau hiện tại

chỉ mang tính ước lệ Ngày nay, chúng ta có

thể tìm thấy các quy định về tội phạm trong

luật môi trường, các quy định về thoả thuận

dân sự trong pháp lệnh xử phạt hành chính,

có thể tìm thấy các quy định về tài sản trong

luật hôn nhân và gia đình, tìm thấy các quy

định về thương mại trong Bộ luật dân sự hay

ngược lại Thực tế này đòi hỏi phải có cách

tiếp cận mới đối với việc phân chia ngành

luật Sự phát triển của bản thân hệ thống

pháp luật đ= vượt qua nhận thức truyền thống của chúng ta về ngành luật Vì vậy, không thể giữ nguyên nhận thức này để xây dựng chương trình và giáo trình đào tạo các môn luật, nhất là trong lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ x= hội năng động và phức tạp là quan hệ kinh tế Cách tiếp cận mới và nhận thức mới trong việc xây dựng chương trình đào tạo và giáo trình đào tạo luật hiện nay là không nên dựa quá nhiều vào tiêu chí ngành luật, nhất là ở những lĩnh vực có nhiều

sự xâm nhập lẫn nhau Với cách tiếp cận đó, cần lưu ý một số điểm sau đây:

- Không nên tìm cách xây dựng những

định nghĩa về ngành luật và tìm cách lí giải tính độc lập của nó trong chương trình đào tạo Điều này hầu như là không cần thiết đối với việc nâng cao nhận thức và năng lực chuyên môn của các cử nhân luật trong tương lai Trong thực tế, tất cả các giáo trình luật của Việt Nam đều có chương về đối tượng, phương pháp điều chỉnh của ngành luật Nội dung của các chương này về cơ bản giống nhau, chỉ có khác ở tên gọi Nếu giảm bớt

được vấn đề này thì sẽ rút gọn thời gian và dành nó cho việc lí giải các vấn đề cụ thể hơn

- H=y coi mỗi lĩnh vực luật như là môn học và có thể kết hợp trong đó những vấn đề vốn dĩ theo quan niệm truyền thống trước

đây thuộc về ngành luật khác Sự thoát li khỏi quan điểm truyền thống về tính bất di bất dịch của ngành luật độc lập cho phép kết hợp giới thiệu trong một môn học cụ thể cả những vấn đề mà nếu đặt trong bối cảnh của quan điểm truyền thống thuộc về ngành luật khác Điều này sẽ dễ mang lại hiệu quả cho

sự tiếp thụ của sinh viên, tạo sự nhất quán trong việc xem xét các vấn đề cụ thể của

Trang 3

chương trình Ví dụ, chúng ta có thể giới

thiệu trong môn học luật môi trường những

vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối

với hành vi xâm hại môi trường Nếu theo

quan niệm truyền thống thì vấn đề trách

nhiệm hình sự nhất thiết phải đưa về ngành

luật hình sự

- Chương trình mỗi môn học cũng như

chương trình đào tạo tổng thể cần phải được

sắp xếp theo học phần Mỗi học phần thể

hiện một hoặc một hai chế định pháp luật

nhất định Giữa các học phần này có mối liên

kết nhất định để tạo nên môn học song vẫn

có thể có sự độc lập tương đối nhằm tạo điều

kiện cho người học có thể chọn một vài học

phần mà không phải chọn toàn bộ môn học

Việc kết cấu như vậy nhất định sẽ loại được

sự trùng lặp Ví dụ, trong luật dân sự cũng

nghiên cứu về quan hệ dân sự có yếu tố nước

ngoài và trong tư pháp quốc tế cũng có chế

định này Nếu tiếp cận chương trình môn luật

dân sự một cách cứng nhắc thì nhất định sẽ

phải giới thiệu quan hệ dân sự có yếu tố nước

ngoài Theo quan điểm truyền thống thì luật

dân sự phải có vấn đề này

2 Với cách tiếp cận trên, chúng tôi thử

bàn về việc xây dựng chương trình môn học

luật kinh tế theo tên gọi hiện nay Trước hết

cần phân tích và định danh cho môn học luật

kinh tế hiện nay và xây dựng chương trình

môn học phù hợp với yêu cầu đổi mới

chương trình đào tạo của Trường đại học luật

Hà Nội Để làm được điều đó, trước hết cần

phải phân tích các khái niệm luật kinh tế,

luật thương mại, luật kinh doanh

Th ứ nh ất, kh ái ni ệm l uật ki nh tế

Luật kinh tế với tư cách là môn học, ngành

luật được thừa nhận rộng r=i ở nước ta trong

thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung Sự hình thành và phát triển của luật kinh tế ở các nước XHCN và các nước có khu vực kinh tế nhà nước lớn có cơ sở lí luận và thực tiễn của nó Tại những nước này, vai trò chỉ huy, điều tiết của nhà nước không chỉ bắt nguồn từ quyền lực mà bắt nguồn từ vai trò của chủ sở hữu Vì vậy, sự cần thiết có công

cụ kết hợp được với hai vị thế trên để điều tiết các hoạt động kinh tế trong x= hội là điều tất yếu Bắt nguồn từ thực tế này, nhiều chế

định quan trọng điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức XHCN được gắn với khái niệm kinh tế như hợp đồng kinh tế, trọng tài kinh

tế Tuy nhiên, phải thấy rằng kinh tế là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng Kinh tế được hiểu là toàn bộ việc sản xuất, phát triển và quản lí của cải vật chất của đất nước, của cộng đồng hay của doanh nghiệp Với nội hàm này thì khái niệm kinh tế bao hàm tất cả mọi hoạt động của các chủ thể, kể cả chủ thể kinh doanh, chủ thể quản lí cũng như các tổ chức khác Vì khái niệm kinh tế có nội hàm lớn như vậy nên khái niệm luật kinh tế cho ta

sự liên tưởng đến ngành luật bao trùm lên cả hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và quản lí toàn bộ các quản lí các quá trình đó Cách hiểu này chi phối khá

rõ sự hình thành và cấu trúc nội dung của môn luật kinh tế ở các nước XHCN trước đây

và ở Việt Nam hiện nay; mục tiêu của việc hình thành và phát triển của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế Tuy nhiên, để có được công cụ này không phải là dễ Cản trở chính không phải là vì do sự chống trả của luật dân

sự như nhiều người lầm tưởng Lí do chính là luật kinh tế khó có thể kết hợp được hai vị thế này và vì vậy hiệu quả điều tiết của nó

Trang 4

không được khẳng định trong thực tế ở các

nước XHCN trước đây và ở Việt Nam hiện

nay Đó là xét về thực tiễn Về lí luận việc

phân biệt quan hệ kinh tế với quan hệ dân sự

không thể thực hiện được triệt để vì các quan

hệ dân sự về bản chất cũng là các quan hệ

kinh tế Quan hệ đất đai, lao động, tài chính,

ngân hàng đều là quan hệ kinh tế Vì vậy,

khái niệm luật kinh tế dễ gây nhiều vướng

mắc về học thuật và nhận thức về môn học

này Chính vì vậy, khi đề cập các vấn đề liên

quan đến luật kinh tế, các nhà nghiên cứu,

giảng dạy môn học này đều giới hạn ở cách

hiểu theo nghĩa hẹp

Thứ hai, là khái niệm Luật kinh doanh

Khái niệm kinh doanh trong pháp luật Việt

Nam có nội hàm tương đối rộng Luật doanh

nghiệp định nghĩa kinh doanh là việc thực

hiện một hay một số công đoạn trong quá

trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay dịch

vụ nhằm thu lợi nhuận Kinh doanh là khái

niệm có nội hàm rộng được sử dụng để chỉ

bất cứ hoạt động nào nhằm kiếm lợi nhuận

hay kiếm sống Kinh doanh là khái niệm

thuần tuý mang bản chất tư, tức là chỉ liên

quan đến hoạt động của cá nhân mà mục

đích là tạo ra lợi nhuận hoặc kiếm sống

Khái niệm kinh doanh không phản ánh

những lợi ích công, sự chi phối của các yếu

tố công, ví dụ, khái niệm kinh doanh

(business)(1) trong pháp luật Hoa Kì, trong

pháp luật Singapo Vì khái niệm kinh doanh

có nội hàm như vậy nên luật kinh doanh

được coi là lĩnh vực bao gồm tất cả các quy

định pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ

của những người tham gia vào hoạt động

kinh doanh, duy trì sự cân bằng lợi ích giữa

họ, tức là giữa người sản xuất, người tiêu thụ,

người mua và người bán, người vay, người cho vay v.v Trong hệ thống đào tạo của nhiều nước, luật kinh doanh thường bao gồm những nội dung phản ánh lợi ích của doanh nghiệp hay thương nhân, ví dụ, giáo trình luật kinh doanh của Mĩ,(2) giáo trình luật kinh doanh của Anh (Nhà xuất bản Sweet & Maxwell).(3)

Với nội hàm hẹp và phản ánh khía cạnh tư như vậy nên luật kinh doanh không phù hợp với các những đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Cần phải có môn luật, lĩnh vực pháp luật có kết hợp cả yếu tố công (sự can thiệp của nhà nước) và yếu tố tư (hoạt động kinh doanh) Thứ ba, khái niệm luật thương mại Thương mại (commerce) là khái niệm từ lâu

được dùng để chỉ những hoạt động mua bán của những người được gọi là thương nhân Đây

là khái niệm có thể dùng theo nghĩa rộng (trade) và dùng theo nghĩa hẹp (commerce) Nếu dùng khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp thì điều này có nghĩa chúng ta sử dụng khái niệm thương mại theo cách tiếp cận của Bộ luật thương mại Pháp 1807 Luật thương mại của Việt Nam tiếp cận khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp này Nếu tiếp cận khái niệm thương mại theo nghĩa rộng thì nó có nội hàm lớn hơn rất nhiều so với khái niệm commerce Hiện nay, nhiều nước có bộ luật thương mại cũng đ= mở rộng phạm vi điều chỉnh của bộ luật này Bộ luật thương mại Pháp hiện hành qua nhiều lần bổ sung, sửa

đổi đ= thay đổi cơ bản khái niệm thương mại

mà Napoleon dùng khi soạn thảo Bộ luật thương mại (Code de Commerce) năm năm

1807 ở Mĩ khái niệm thương mại (trade)

được tiếp cận theo nghĩa rộng Quan điểm về

Trang 5

thương mại của Mĩ ảnh hưởng không ít tới

cấu trúc nội dung và cơ cấu của các thoả

thuận trong phạm vi Tổ chức thương mại thế

giới (WTO) Từ điển luật học của Hoa Kì

cũng định nghĩa thương mại (trade) là: “Sự

trao đổi, mua bán hàng hoá, tài sản hay bất

cứ hiện vật nào; giao thông, vận tải, thông tin

giữa các bang hay các vùng của bang”.(4) Khái

niệm thương mại được UCITRAL dùng cũng

theo nghĩa rộng Trong khái niệm thương mại

(trade) bao hàm thương mại (commerce) và

cả kinh doanh Hơn thế, khái niệm thương

mại theo cách tiếp cận rộng còn chứa đựng

một số yếu tố công liên quan đến vài trò điều

tiết của nhà nước như chế độ bảo hộ, chế độ

đối xử tối huệ quốc (MFN), chế độ đ=i ngộ

quốc gia (NT) Trong nhiều văn cảnh, khái

niệm kinh doanh, thương mại có thể dùng

thay thế cho nhau Tuy nhiên, việc xác định

tên gọi cho một môn học thì cần phải có sự

cân nhắc nghiên cứu để đảm bảo độ chính

xác cao hơn, phù hợp với thực tiễn đất nước

và xu thế hội nhập

3 Từ những phân tích trên, tôi cho rằng

môn luật kinh tế trong chương trình đào tạo

luật ở Việt Nam nói chung và ở Trường đại

học luật Hà Nội nói riêng nên đổi tên thành

luật thương mại Bên cạnh những vấn đề đ=

nêu ở trên, sự cần thiết phải đổi tên có thể

được lí giải bởi những yếu tố sau:

- Chương trình đào tạo của Khoa pháp

luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

cũng như các cơ sở đào tạo khác hiện tại

có sự trùng lặp giữa nội dung của Luật

thương mại năm 1999 với một số vấn đề

của luật kinh tế

- Cần tạo ra sự tương thích giữa các khái

niệm hiện đang dần được chuyển hoá vào

pháp luật nước ta do việc Việt Nam kí kết hoặc phê chuẩn các hiệp định thương mại song phương và đa phương Như chúng ta biết, với việc hình thành tổ chức thương mại quốc tế (WTO) mà nền tảng là các hiệp định GATT, GATS, TRIM, TRIPS v.v nội dung của khái niệm thương mại đ= được mở rộng theo cách tiếp cận của UCITRAL Nội dung của nó bao gồm cả đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ Hiệp định thương mại kí giữa Việt Nam và Hoa Kì cũng tiếp cận khái niệm thương mại theo hướng này Tuy nhiên, do cơ chế xây dựng pháp luật và thực trạng pháp luật hiện nay, việc sửa đổi Luật thương mại theo hướng mở rộng phạm vi của khái niệm này khó có thể thực hiện ngay được Vì vậy, các cơ sở đào tạo luật nên chuẩn bị cho xu hướng tương thích hoá khái niệm thương mại Nói cách khác, các sơ sở đào tạo luật cần có những bước đi tiên phong

- Việc đổi tên luật kinh tế thành luật thương mại còn có tác dụng làm cho nó phản

ánh đúng hơn thực tế kết cấu chương trình tổng thể của Khoa pháp luật kinh tế

Tuy nhiên, việc đổi tên chỉ là vấn đề định danh Quan trọng hơn là xác định cơ cấu và nội dung môn học Theo chúng tôi, việc xây dựng chương trình đào tạo luật thương mại trong theo xu hướng đổi mới cần đáp ứng các mục tiêu sau:

- Đảm bảo cung cấp được cho người học những kiến thức pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại phù hợp với yêu cầu của họ;

- Tránh sự trùng lặp với các phần kiến thức của các môn khác trong chương trình đào tạo của các môn như luật tài chính, luật ngân hàng,

Trang 6

luật thương mại, tư pháp quốc tế

- Đảm bảo tính tương thích, liên thông

với các môn học khác Ví dụ, sinh viên có

nhu cầu chỉ cần tích lũy một hoặc một vài

học phần trong môn luật thương mại thay vì

phải học toàn bộ môn học đó chẳng hạn,

sinh viên muốn đi sâu vào lĩnh vực tài chính,

thuế, có thể không học hết môn luật thương

mại mà chỉ đăng kí học những học phần có

liên quan như thuê mua tài chính, chứng

khoán Muốn như vậy, các học phần của môn

luật thương mại phải được kết cấu linh hoạt

và có sự độc lập tương đối về dung lượng

kiến thức

- Tăng cường được tính định hướng cho

sinh viên theo quan điểm về phát triển

(Growth Theory) trong lí thuyết giảng dạy

đại học Theo học thuyết này, giảng viên

phải tìm cách hướng sinh viên tự hoàn thiện

kiến thức của mình về luật thương mại một

cách chủ động, tự hoàn thiện cho mình cách

tiếp cận và xử lí các vấn đề phát sinh từ thực

tiễn thương mại

Cơ cấu môn luật thương mại có thể xác

định như sau:

a Về thời lượng: Luật thương mại có

thể dạy với thời lượng 165-180 tiết, tương

đương với 13-15 học trình theo cách xác

định chương trình hiện nay Thời lượng

này so với tổng số thời lượng cho các phần

học trong chương trình trước đây đ= giảm

rất nhiều Môn luật kinh tế theo chương

trình hiện hành của Trường đại học luật

Hà Nội là 180 tiết chưa kể 50 tiết giảng về

Luật thương mại năm 1999

b Nội dung môn học Luật thương mại trong chương trình đào tạo của Trường đại học luật Hà Nội, theo quan điểm của chúng tôi, cần bao gồm các vấn đề sau đây:

- Pháp luật về đầu tư và khái quát về các loại hình doanh nghiệp;

- Luật công ti;

- Hợp đồng thương mại - Những vấn đề lí luận;

- Pháp luật về thương mại hàng hoá;

- Pháp luật về thương mại dịch vụ;

- Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán;

- Pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền;

- Các giao dịch thương mại có bảo đảm;

- Pháp luật về sở hữu trí tuệ - Những khía cạnh thương mại;

- Giải quyết tranh chấp thương mại Phải thấy rằng nội dung của luật thương mại rất lớn Chính vì vậy, cùng với việc giảm thời lượng, cần phải đổi mới phương pháp dạy Trước mắt, việc giảng môn học này trên lớp chỉ đi sâu vào những vấn đề chính và sử dụng triệt để công nghệ thông tin để chuyển tải kiến thức Cần giảm bớt tối đa việc giới thiệu nội dung luật thực định mà để dành nó cho bản thân sinh viên thực hiện

c Vị trí môn học Môn học cần được cấu tạo trong chương trình năm thứ III của Trường đại học luật Hà Nội và được bố trí giảng sau một số môn như luật dân sự, luật nhà nước, luật lao động /

(1), (4).Xem: Black’s Law Dictionary

(2).Xem: Business Law Sixth Edition with UCC application Mc’Graw Hill, Inc 1983

(3).Xem: Charlessworrth’s Business Law, Sweet &Maxwell London 1997

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w