Trong khi ấy, những quy định pháp luật liên quan đến việc nghiên cứu và sử dụng các đặc điểm nhân thân của bị can trong hoạt động điều tra hình sự lại chưa đầy đủ, chưa cụ thể.. Trong kh
Trang 1ThS Bùi Kiên Điện * hững thông tin về đặc điểm nhân thân
của bị can có ý nghĩa rất quan trọng
đối với toàn bộ công tác giải quyết vụ án
hình sự nói chung, điều tra vụ án nói riêng
Những thông tin này là căn cứ không thể
thiếu của phần lớn các hành vi tố tụng và
quyết định tố tụng Trong khi ấy, những
quy định pháp luật liên quan đến việc
nghiên cứu và sử dụng các đặc điểm nhân
thân của bị can trong hoạt động điều tra
hình sự lại chưa đầy đủ, chưa cụ thể Đó là
thực tế khó chấp nhận và tác động tiêu cực
đến hiệu quả của công tác điều tra hình sự
trong thực tế Để hoàn thiện cơ sở pháp lí
của lĩnh vực hoạt động quan trọng này của
công tác điều tra hình sự, theo chúng tôi,
cần kịp thời hoàn thiện những quy định liên
quan đC có đồng thời bổ sung một số quy
định mới nhằm sớm đưa hoạt động này vào
nền nếp, hiệu quả theo các hướng sau đây:
Trước hết, phải hoàn thiện một số quy
định của Bộ luật hình sự (BLHS), Bộ luật tố
tụng hình sự (BLTTHS) có liên quan đến
vấn đề đang được xem xét Cụ thể, nên bổ
sung cụm từ “người có nhân thân tốt, người
chưa thành niên phạm tội" vào cuối đoạn 3
khoản 2 Điều 3 BLHS - điều luật quy định
về “nguyên tắc xử lí" tội phạm Theo quy
định của đoạn 3 khoản 2 Điều 3 BLHS hiện
hành thì nguyên tắc cơ bản được áp dụng
khi xử lí tội phạm là Nhà nước khoan hồng
đối với người tự thú, thành khẩn khai báo,
tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra Trong khi
ấy, theo tinh thần của các Điều 25, 46, 47,
69 BLHS (các điều luật quy định về miễn trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật, nguyên tắc
xử lí đối với người chưa thành niên phạm tội) thì những người phạm tội có nhân thân tốt, người chưa thành niên phạm tội là những đối tượng được hưởng sự khoan hồng của pháp luật khi phạm tội Tư tưởng nêu trên cần được xác định một cách rõ ràng, trong nguyên tắc xử lí tội phạm là khoa học và cần thiết Khi ấy, đoạn 3 Điều
3 BLHS sẽ có nội dung như sau: “Khoan hồng đối với người có nhân thân tốt, người chưa thành niên phạm tội" Việc quy định như vậy không chỉ phù hợp với quan điểm
xử lí tội phạm của Đảng và Nhà nước ta mà còn giúp điều tra viên nâng cao hơn nữa trách nhiệm thu thập đầy đủ các thông tin
cụ thể về đặc điểm nhân thân của bị can cũng như công tác đấu tranh với bị can, nhất là áp dụng thủ thuật giáo dục thuyết phục khi hỏi cung bị can trong thực tiễn Trong BLTTHS, theo chúng tôi, có nhiều quy định liên quan đến vấn đề được
N
* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2thảo luận cần có sự hoàn thiện, bổ sung
Trước hết, liên quan đến đối tượng chứng
minh trong các vụ án hình sự được quy
định tại Điều 47 BLTTHS hiện hành
Chúng tôi cho rằng kết cấu đang có của
điều luật là không khoa học, có thể dẫn đến
cách hiểu và áp dụng không thống nhất của
các chủ thể tiến hành tố tụng Theo tinh
thần của khoản 2, khoản 3 điều luật này thì
khi tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm
sát viên, thẩm phán phải thu thập chứng cứ
để làm rõ ai là người đC thực hiện hành vi
phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự
hay không, mục đích hoặc động cơ phạm
tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm của bị can, bị cáo và những
đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo Các
quy định có tính liệt kê như trên là vừa
thiếu lại vừa thừa Xét dưới góc độ lí luận
của khoa học luật hình sự thì toàn bộ nội
dung khoản 2 Điều 47 BLTTHS liên quan
đến hai trong số bốn yếu tố cấu thành tội
phạm là chủ thể và mặt chủ quan của tội
phạm nhưng còn thiếu tình tiết quan trọng
là độ tuổi của bị can, bị cáo Nếu xét dưới
góc độ của tội phạm học và khoa học điều
tra hình sự thì nội dung đó là những đặc
điểm cơ bản của nhân thân người phạm tội
và nhân thân bị can Vì vậy, khoản 2 Điều
47 BLTTHS có thể quy định lại như sau:
“2 Những đặc điểm nhân thân của bị
can, bị cáo có ý nghĩa đối với việc xử lí
vụ án" Đối với khoản 3 Điều 47 của
BLTTHS, do cụm từ “những đặc điểm
nhân thân của bị can, bị cáo" đC được
nói tới tại khoản 2 của Điều luật nên
không cần thiết phải nhắc lại Khi ấy,
khoản 3 Điều 47 sẽ có nội dung như sau:
“3 Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo".(1)
Khoản 5 Điều 44 BLTTHS hiện hành quy định về các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định Theo đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình
sự khi cần xác định 3 vấn đề sau đây thì các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định, không phụ thuộc vào
ý chí chủ quan của họ: "a Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
b Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; c Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo
đúng đắn đối với những tình tiết của vụ
án." Việc quy định như trên là hợp lí Nhưng trong thực tế điều tra vụ án hình sự nói riêng, giải quyết vụ án hình sự nói chung còn gặp trường hợp khác liên quan
đến vấn đề đang được trình bày ở mức độ khá phổ biến là việc xác định độ tuổi chính xác của người đC thực hiện hành vi phạm tội khi không thể xác định được bằng các cách thông thường khác (không có giấy khai sinh; không ai nhớ chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo; các giấy tờ tài liệu liên quan khác không có hoặc không đáng tin cậy ) Theo quy định của Điều 12 Bộ luật hình sự thì người thực hiện hành vi phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ đạt đến độ tuổi nhất
Trang 3định Nếu họ chưa đạt đến độ tuổi đó thì
chỉ có thể xử lí họ bằng biện pháp hành
chính, không được khởi tố về hình sự và
nếu đC khởi tố thì cơ quan điều tra phải ra
quyết định đình chỉ điều tra (khoản 3 Điều
89, khoản 1 Điều 139 BLTTHS) Vì vậy,
trong quá trình điều tra, nếu gặp trường
hợp này, cơ quan điều tra dù muốn hay
không cũng buộc phải trưng cầu giám định
pháp y để xác định tuổi chính xác của bị
can, bị cáo Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần
quy định đây cũng là một trường hợp bắt
buộc trưng cầu giám định trong BLTTHS
Khoản 5 Điều 44 BLTTHS sẽ được bổ sung
điểm d với nội dung như sau: "Tuổi của bị
can, bị cáo khi có nghi ngờ về tuổi chịu
trách nhiệm hình sự của họ."
Trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
trong nhiều trường hợp được coi là cần
thiết, có tác dụng tích cực đối với công tác
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự Nhưng đây là vấn đề khá nhạy cảm nên
khi các biện pháp đó được áp dụng một
cách không có căn cứ sẽ gây tác hại không
nhỏ đến hiệu quả của công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm, thậm chí cả công
tác đối nội, đối ngoại của đất nước Cho
nên, việc xác định một cách đầy đủ, chính
xác những căn cứ pháp lí để áp dụng các
biện pháp này có ý nghĩa rất quan trọng
Hiện nay, các căn cứ chung để áp dụng các
biện pháp ngăn chặn được xác định dựa
vào tinh thần của Điều 61 BLTTHS bao
gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; có
căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có
căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục
phạm tội; để bảo đảm thi hành án Ngoài
ra, trong thực tế khi việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cụ thể đối với bị can, bị cáo, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải dựa vào các đặc điểm nhân thân của bị can,
bị cáo như giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình của
họ cũng như mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà họ đC thực hiện Thực tế nêu trên cần được thể chế hoá thành nguyên tắc trong BLTTHS tại điều luật quy định về căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Đó có thể là Điều 61a với nội dung cụ thể như sau: “Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án cần dựa trên các căn cứ quy định tại Điều
61 BLTTHS, mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà bị can, bị cáo đC thực hiện và những đặc đặc điểm nhân thân của bị can,
bị cáo".(2)
Quy định như vậy vừa phù hợp với các điều luật khác của Chương V BLTTHS - các biện pháp ngăn chặn, vừa góp phần nâng cao trách nhiệm của điều tra viên khi quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn cụ thể đối với bị can, hạn chế vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nghiêm khắc này ở giai đoạn điều tra
Khi quy định về căn cứ khởi tố bị can, khoản 1 Điều 103 BLTTHS xác định: “Khi
có đủ căn cứ để xác định một người thực hiện hành vi pham tội thì cơ quan điều tra
ra quyết định khởi tố bị can” Quy định như trên là đúng nhưng chưa đủ bởi lẽ không phải đối với bất kì người phạm tội nào cũng đều có thể khởi tố bị can làm cơ
sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với họ Theo quy định của Điều 12
Trang 4BLHS thì chỉ những người đạt độ tuổi nhất
định do Bộ luật này quy định thì mới phải
chịu trách nhiệm hình sự Đối với người
phạm tội nhưng chưa đạt độ tuổi đó thì có
thể xử lí bằng biện pháp hành chính Cho
nên, khi quy định về “những căn cứ không
được khởi tố vụ án hình sự", Điều 89
BLTTHS ghi nhận 7 căn cứ, trong đó căn
cứ thứ 3 là: “Người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xF hội chưa đến tuổi chịu trách
nhiệm hình sự" Vì vậy, theo chúng tôi,
khoản 1 Điều 103 BLTTHS cần sửa lại như
sau: “Khi có đủ căn cứ để xác định một
người có đủ dấu hiệu quy định tại Điều 12
Bộ luật hình sự đC thực hiện tội phạm thì cơ
quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can"
Quy định như trên sẽ tránh cho cơ quan
điều tra khởi tố cả những trường hợp không
cần và không thể xử lí về hình sự theo quy
định của pháp luật
Điều 138 BLTTHS quy định về việc đề
nghị truy tố: “Khi có đầy đủ chứng cứ để
xác định có tội phạm và bị can thì cơ quan
điều tra làm bản kết luận điều tra và đề
nghị truy tố Bản kết luận điều tra trình
bày diễn biến của hành vi tội phạm, nêu rõ
các chứng cứ chứng minh tội phạm, ý kiến
đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lí do và
căn cứ” Bản kết luận điều tra không chỉ là
văn bản tố tụng phản ánh kết quả của toàn
bộ công tác điều tra do cơ quan điều tra
tiến hành, quan điểm xử lí của cơ quan này
mà còn là văn bản chứa đựng những thông
tin quan trọng nhất về hành vi tội phạm mà
bị can đC thực hiện cũng như những đặc
điểm nhân thân của bị can, làm cơ sở cho
việc đề xuất hướng giải quyết vụ án nói
chung, xử lí đối với bị can nói riêng Vì vậy, trong thực tế, khi làm bản kết luận
điều tra ở phần nội dung của văn bản, ngoài những tình tiết được quy định tại
Điều 138 BLTTHS, cơ quan điều tra thường phải trình bày cụ thể các tình tiết về nhân thân bị can Đó là điều hợp lí, bảo
đảm tính có căn cứ cho những đề xuất của mình đối với việc giải quyết vụ án, nhất là hình thức, mức độ của các biện pháp xử
lí bị can sau này Nhưng hiện nay, theo
Điều 138 BLTTHS, những thông tin về nhân thân bị can chưa được pháp luật quy định là những thông tin bắt buộc phải trình bày trong bản kết luận điều tra Để
đảm bảo tính khoa học của văn bản tố tụng quan trọng nêu trên cũng như tính có căn
cứ của các kết luận, đề xuất của cơ quan
điều tra nêu trong văn bản đó, chúng tôi đề nghị sửa lại khoản 1 Điều 138 BLTTHS theo hướng sau: “ Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu
rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những đặc điểm nhân thân cần chú ý của bị can, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án,
có nêu rõ lí do và căn cứ"
Để hoạt động nghiên cứu và sử dụng những đặc điểm nhân thân của bị can trong công tác điều tra hình sự đạt hiệu quả mong muốn, cùng với việc sớm bổ sung trong BLHS, BLTTHS một số đề xuất với nội dung cụ thể như đC trình bày, trong thời gian tới, Bộ công an cần chủ động giải quyết tốt một số công việc liên quan thuộc trách nhiệm, quyền hạn, quản lí của ngành
Đó là hướng thứ hai nhằm hoàn thiện các quy định pháp lí về nghiên cứu và sử dụng những đặc điểm nhân thân của bị can trong hoạt động điều tra hình sự Cụ thể:
Trang 5- Bộ cần ban hành văn bản quy định về
trách nhiệm của điều tra viên phải nghiên
cứu cụ thể, đầy đủ, sử dụng một cách có cơ
sở khoa học các đặc điểm nhân thân của bị
can trong toàn bộ công tác điều tra hình sự
(trong các hoạt động nhận tin báo, tố giác,
khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể,
truy nC bị can, hoàn thành các văn bản khi
kết thúc điều tra, nhất là khi làm bản kết
luận điều tra);
- Đối với việc tiến hành một số hoạt
động điều tra hoặc hành vi tố tụng có tính
phức tap và tính hệ trọng cao như hỏi cung
bị can, bắt, khám xét, truy nC bị can, Bộ đC
xây dựng được các văn bản hướng dẫn thực
hiện cụ thể Nhưng các văn bản đó chưa
xác định trách nhiệm của các điều tra viên
hoặc cán bộ trinh sát trong việc thu thập
nghiên cứu, sử dụng một cách đầy đủ,
nghiêm túc các đặc điểm nhân thân của bị
can để phục vụ cho việc tiến hành các hoạt
động này Trong khi đó, vấn đề nêu trên,
như đC được lí luận khẳng định và thực tiễn
kiểm nghiệm, có ý nghĩa rất quan trọng,
tác động lớn đến hiệu quả của các hoạt
động này Vì vậy, chúng tôi cho rằng sẽ là
hợp lí hơn khi bổ sung tinh thần đC nêu vào
trong các văn bản ấy nhằm định hướng cho
nhận thức và hoạt động trong thực tiễn của
điều tra viên, cán bộ trinh sát khi tiến hành
các hoạt động phức tạp và hệ trọng đó
- Cần phối hợp với Bộ tư pháp soạn
thảo và ban hành thông tư liên tịch quy
định về mối quan hệ phối hợp của hai
ngành trong lĩnh vực thu thập, xây dựng và
khai thác thông tin về các công dân khi cần
thiết phục vụ công tác điều tra, nhất là các
hoạt động khai sinh, khai tử, quản lí hộ
tịch, lập lí lịch tư pháp
Như đC khẳng định, đối tượng đấu tranh chủ yếu của công tác điều tra hình sự
là bị can Do đó, việc nắm vững đầy đủ và khai thác triệt để, khoa học mọi thông tin
về các đặc điểm nhân thân của đối tượng này sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho hoạt động
điều tra đạt hiệu quả cao trong thực tế Xây dựng được chế độ pháp lí chặt chẽ, hợp lí
điều chỉnh lĩnh vực phức tạp nêu trên không chỉ giúp hoạt động đó được diễn ra thuận lợi, tác động tích cực đến hiệu quả công tác điều tra mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ, tôn trọng một số quyền cơ bản của công dân có liên quan do Hiến pháp và pháp luật quy định./
(1) Việc sử dụng giới từ “về” trong cụm từ “những
đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo” như trong khoản 3 Điều 47 BLTTHS như hiện nay là không cần thiết, không đúng ngữ pháp Thực tế, những tình tiết này cũng là một đặc điểm tạo nên nhân thân của
bị can, bị cáo nhưng do tính độc lập tương đối và vai trò quan trọng của nó khi giải quyết vụ án nên
có thể tách riêng làm một yếu tố thuộc đối tượng chứng minh
(2) Quan điểm tương tự đC được tác giả Nguyễn Vạn Nguyên đề xuất Theo tác giả này thì: “Trong khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cùng với các căn cứ quy
định tại Điều 61 Bộ luật này, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án phải tính đến mức độ nghiêm trọng của tội phạm đF xảy ra, nhân thân, giới tính, việc làm, độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh gia
đình của bị can, bị cáo và các tình tiết khác” ở đây tác giả đC hiểu không đúng nội hàm của khái niệm nhân thân Các dấu hiệu giới tính, độ tuổi, hoàn cảnh gia đình của bị can, bị cáo thực ra là những đặc
điểm cụ thể nằm trong nhân thân của họ
Xem: Nguyễn Vạn Nguyên - Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng Nxb CAND, H.1995, tr 52