Tôn trọng chủ quyền của quốc gia trong việc xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị pháp lí của quốc gia vớ
Trang 1ThS Nông Quốc Bình *
ề mặt pháp lí, hôn nhân có yếu tố nước
ngoài là loại quan hệ dân sự đặc biệt
Tính đặc biệt của quan hệ này không chỉ thể
hiện ở việc nó được xác lập dựa trên cơ sở
tình yêu mà còn thể hiện trong các phương
pháp pháp lí điều chỉnh trong trường hợp có
xung đột pháp luật Việc điều chỉnh quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải tuân
theo một số nguyên tắc nhất định dựa trên
tính chất đặc thù của quan hệ này ở Việt
Nam, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài tuân thủ một số nguyên
tắc pháp lí cơ bản sau đây:
1 Tôn trọng chủ quyền của quốc gia
trong việc xác định pháp luật áp dụng
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính
trị pháp lí của quốc gia với hai nội dung chủ
yếu là quyền tối cao của quốc gia trong lĩnh
vực đối nội và đối ngoại Thực hiện chủ
quyền, quốc gia thông qua các hoạt động của
các cơ quan nhà nước như cơ quan lập pháp,
hành pháp và tư pháp để điều chỉnh các quan
hệ pháp lí trong đó có quan hệ hôn nhân
Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc
gia thể hiện rõ trong việc áp dụng hệ thuộc
luật nhân thân (Lex personalis) của các
đương sự để điều chỉnh quan hệ hôn nhân
của họ Luật nhân thân (Lex personalis) bao gồm hệ thuộc luật quốc tịch (Lex nationalis)
và hệ thuộc luật nơi cư trú (Lex domicilii) của
đương sự Việc xác định hệ thuộc luật quốc tịch và hệ thuộc luật nơi cư trú dựa trên dấu hiệu quốc tịch và nơi cư trú của đương sự
a áp dụng dấu hiệu quốc tịch để xác
định (Lex nationalis) Một trong những vấn đề pháp lí quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của hôn nhân là điều kiện kết hôn phải hợp pháp Không giống quan hệ kết hôn trong nước, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, cùng một lúc có ít nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh Ví dụ: Trong trường hợp các bên chủ thể khác quốc tịch thì có ít nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh để xác định tính hợp pháp về điều kiện kết hôn, đó là hệ thống pháp luật của các bên chủ thể mang quốc tịch Nói cách khác, trong trường hợp này đK có xung đột pháp luật về việc xác định điều kiện kết hôn
Để giải quyết hiện tượng xung đột trong việc xác định tính hợp pháp của điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật hầu hết các nước đều quy định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch (Lex nationalis) của các bên chủ
V
* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2thể để xác định điều kiện kết hôn của mỗi
bên Quy định này ghi nhận trong pháp luật
của các nước đK thể hiện nguyên tắc tôn
trọng chủ quyền quốc gia
Có thể nói, dùng dấu hiệu quốc tịch của
đương sự để xác định điều kiện kết hôn của
họ là thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền quốc gia bởi vì hai lí do sau đây:
Thứ nhất, quốc tịch của một người là mối
quan hệ pháp lí của người đó với nhà nước
nhất định Đây là mối quan hệ giữa công dân
với nhà nước, theo đó công dân có nghĩa vụ
với nhà nước đồng thời nhà nước cũng có
nghĩa vụ đối với công dân Như vậy, một
người với tư cách chủ thể trong quan hệ dân
sự nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng
phải chịu sự chi phối bởi pháp luật của nước
mình mang quốc tịch Sự chi phối này là tất
yếu mà không phụ thuộc vào nơi cư trú của
người đó Do đó, pháp luật của hầu hết các
nước đều quy định việc xác định điều kiện
kết hôn của các bên trong quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài là sẽ theo luật của nước
mà họ mang quốc tịch Việc quy định này
thể hiện quyền lực của nhà nước đối với công
dân của mình Theo quy định này, nước sở
tại, nơi cư trú của công dân nước ngoài,
phải tôn trọng Nói cách khác, nội dung
của quy định này đK thể hiện sự tôn trọng
chủ quyền quốc gia của nước sở tại đối với
các nước có công dân đang cư trú trên lKnh
thổ nước mình
Thứ hai, nhà nước có quyền tối cao trong
việc điều chỉnh tất cả các quan hệ đối nội
cũng như đối ngoại của mình, trong đó có
quan hệ hôn nhân Pháp luật của một nước
quy định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch để
xác định điều kiện kết hôn của công dân
nước mình trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài đK thể hiện chủ quyền quốc gia trong việc thực hiện chức năng của nhà nước Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 (gọi tắt là Luật HN&GĐ năm 2000) quy định: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, các bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn” Từ nội dung của quy định này có thể thấy việc xem xét điều kiện kết hôn của bên chủ thể là công dân Việt Nam sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam; xem xét điều kiện kết hôn của người nước ngoài sẽ căn cứ vào pháp luật mà người nước ngoài đó mang quốc tịch
Tuy nhiên, trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc khi người nước ngoài kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài việc phải tuân theo quy định pháp luật của nước mình, người nước ngoài còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện kết hôn (Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000)
Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc dùng dấu hiệu quốc tịch để xác định
điều kiện kết hôn của các chủ thể trong quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đồng thời quy định người nước ngoài còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về
điều kiện kết hôn nếu việc kết hôn của họ
được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không những khẳng định chủ quyền của Việt Nam mà còn thể hiện sự tôn trọng của Việt Nam đối với chủ quyền quốc
Trang 3gia của các nước hữu quan trong việc
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài
b Dùng dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể
để xác định (Lex domicilii)
Trong nhiều trường hợp, để giải quyết
xung đột pháp luật nói chung và xung đột
pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân nói riêng,
người ta phải áp dụng pháp luật nước ngoài
Việc xác định pháp luật nước ngoài có thể
được dựa trên các dấu hiệu khác nhau Một
trong những dấu hiệu cơ bản để xác định
pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là dấu
hiệu nơi cư trú của đương sự Theo đó đương
sự cư trú ở đâu thì pháp luật của nước đó sẽ
được áp dụng Việc áp dụng dấu hiệu nơi cư
trú của đương sự để xác định luật nơi cư trú
(Lex domicilii) nhằm điều chỉnh quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài thể hiện nguyên
tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia đối với
nước mà đương sự đang cư trú
Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
dấu hiệu nơi cư trú của đương sự được áp
dụng để xác định pháp luật điều chỉnh quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong
trường hợp không áp dụng dấu hiệu quốc
tịch của các bên Điều 104 Luật HN&GĐ
năm 2000 quy định: “Trong trường hợp các
bên trong quan hệ li hôn thường trú tại Việt
Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam”
(khoản 1 Điều 104 Luật HN&GĐ năm 2000)
Trong trường hợp, bên là công dân Việt Nam
không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm
yêu cầu li hôn thì giải quyết theo pháp luật
nước nơi thường trú chung của vợ và chồng
Như vậy, trong các trường hợp trên đây
pháp luật Việt Nam đK lấy dấu hiệu nơi cư
trú của chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài để xác định pháp luật áp dụng Nói cách khác, nơi cư trú của đương
sự sẽ là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định pháp luật áp dụng mà không phụ thuộc vào đương sự đó đang cư trú tại Việt Nam hay cư trú ở nước ngoài Việc lấy dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đK thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc chủ quyền quốc gia của Nhà nước Việt Nam
2 Bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
kí kết hoặc gia nhập
Về lí luận cũng như thực tế, tư pháp quốc
tế của hầu hết các nước đều đưa ra các cách thức giải quyết hiện tượng xung đột trong lĩnh vực hôn nhân Tuỳ theo từng trường hợp
mà các dấu hiệu như quốc tịch, nơi cư trú của các chủ thể, nơi tiến hành kết hôn, nơi tiến hành li hôn được dùng để xác định pháp luật áp dụng Tuy nhiên, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định để áp dụng hệ thống pháp luật đK được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì phải tuân theo một số điều kiện nhất định Nhìn chung hệ thống pháp luật được dẫn chiếu chỉ được áp dụng khi pháp luật trong nước có quy định cho phép áp dụng hoặc điều ước quốc tế có liên quan có quy định áp dụng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ vào khoản 1 Điều 100 Luật HN&GĐ năm 2000 thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt
Trang 4Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam
đK kí kết hoặc gia nhập Theo quy định này,
việc điều chỉnh các vấn đề hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài phải lấy nội dung
của các quy định của pháp luật Việt Nam và
các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên làm chuẩn Theo đó, hệ thống pháp luật
nước ngoài có khả năng được áp dụng để
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam hay không hoàn toàn phụ
thuộc vào việc nội dung của nó có phù hợp
với quy định của pháp luật Việt Nam hoặc
phù hợp với quy định của các điều ước quốc
tế mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia nhập hay
không
Về nguyên tắc, ưu tiên áp dụng giữa quy
định của pháp luật trong nước và điều ước
quốc tế mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia
nhập, khoản 2 Điều 7 Luật HN&GĐ năm
2000 quy định: “Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia
có quy định khác với quy định của Luật
HN&GĐ năm 2000 thì áp dụng quy định của
điều ước quốc tế”
Từ quy định của khoản 1 Điều 100 và
khoản 2 Điều 7 của Luật HN&GĐ năm
2000, việc bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài tại Việt Nam được thể hiện ở
một số nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, khi bảo vệ quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài thì các quy định của
pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế
mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia nhập phải
được ưu tiên áp dụng
Thứ hai, quy định của điều ước quốc tế
mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia nhập sẽ
được ưu tiên áp dụng trong trường hợp pháp
luật trong nước có quy định khác với điều
ước quốc tế đó
Thứ ba, trong trường hợp nếu không có các quy phạm được ghi nhận trong pháp luật trong nước và trong điều ước quốc tế mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia nhập thì các hệ thống pháp luật có khả năng tham gia điều chỉnh quan hệ hôn nhân này chỉ được áp dụng nếu nội dung của nó phù hợp với các nguyên tắc
được ghi nhận trong pháp luật trong nước của Việt Nam và trong điều ước quốc tế mà Việt Nam đK kí kết hoặc gia nhập
3 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân trên tinh thần tôn trọng pháp luật nước sở tại, pháp luật tế và tập quán quốc tế Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, quyền lợi của các chủ thể luôn được pháp luật Việt Nam bảo vệ Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau:
Đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, khoản 3 Điều 100 Luật HN&GĐ năm
2000 quy định: “Nhà nước Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế Quy định này không những khẳng
định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài mà nó còn thể hiện sự tôn trọng của Việt Nam đối với pháp luật nước sở tại và pháp luật quốc tế” Quy định này thể hiện quan điểm của Việt Nam trong việc tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với các nước hữu quan
(Xem tiếp trang 40)