Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về thẩm quyền giải quyết các việc về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở vùng biên giới, tại khoản 1 Điều 102 quy định: “Việc đăng kí kết
Trang 1Tạp chí luật học - 3
iện nay, quan hệ về mọi mặt giữa Việt
Nam với các nước, các tổ chức quốc tế
ngày càng phát triển Thực tế đó, đ& làm gia
tăng các giao lưu dân sự, thương mại có yếu tố
nước ngoài Cùng với đó, các quan hệ gia đình
có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ gia
đình ở vùng biên giới nói riêng ngày càng trở
nên phức tạp, đòi hỏi phải được pháp luật điều
chỉnh kịp thời Để điều chỉnh quan hệ này,
Nhà nước ta đ& ban hành Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn Nói
chung, các văn bản đó đ& tạo được khung pháp
lí góp phần tích cực điều chỉnh có hiệu quả các
quan hệ gia đình Đặc biệt, luật đ& có quy định
riêng áp dụng cho vùng biên giới, các quy định
này có tính khả thi, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên đương sự trong các quan
hệ gia đình
1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
quy định về thẩm quyền giải quyết các việc về
quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở vùng
biên giới, tại khoản 1 Điều 102 quy định:
“Việc đăng kí kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ
giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên
giới với công dân của nước láng giềng cùng cư
trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do Chính
phủ quy định” Đây là quy định “mở” của luật,
tức là các thủ tục về hành chính liên quan tới
các quan hệ trên sẽ được quy định trong văn
bản của Chính phủ Nghị định số 68/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 10/7/2002 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/CP) đ& dành Chương V quy định đăng kí kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới Điều 66 Nghị định số 68/CP quy định: Uỷ ban nhân dân cấp x&, nơi thường trú của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới thực hiện việc đăng
kí kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về đăng
kí hộ tịch Như vậy, thẩm quyền giải quyết các việc về đăng kí kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới (bao gồm các x&, phường, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 về quy chế khu vực biên giới đất liền của Cộng hòa XHCN Việt Nam) và công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam (công dân Lào, Trung Quốc, Campuchia)
sẽ thuộc thẩm quyền của uỷ ban nhân dân x& - nơi thường trú của công dân Việt Nam Đây là
sự cụ thế hóa quy định tại khoản 1 Điều 102
H
* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
ThS Nguyễn Hồng Bắc *
Trang 24 - Tạp chí luật học
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trước đây, những vấn đề trên được quy định
trong Nghị định số 184/CP của Chính phủ
ngày 30/11/1994 về thủ tục kết hôn, nuôi con
nuôi, đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài Do Nghị định quy định thẩm
quyền đăng kí các việc về gia đình có yếu tố
nước ngoài thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nên
hiện tượng không đăng kí nhận cha, mẹ, con,
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài ở khu vực biên giới là phổ
biến Việc Luật hôn nhân và gia đình quy định
thẩm quyền trên thuộc uỷ ban nhân dân x& là
phù hợp với thực tế và làm cho pháp luật có
tính khả thi cao, tạo điều kiện thuận lợi cho
công dân Việt Nam trong việc đăng kí nhận
cha, mẹ, con, nuôi con nuôi trong quan hệ với
công dân của nước láng giềng
2 Cùng với các quy định thẩm quyền trong
lĩnh vực quản lí nhà nước, Luật hôn nhân và
gia đình còn quy định thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp (tố tụng) liên quan đến các
quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở vùng
biên giới Khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và
gia đình quy định: “Tòa án nhân dân huyện,
quận, thị x1, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú
của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái
pháp luật, giải quyết việc li hôn, các tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha
mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con
nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư
trú ở khu vực biên giới với công dân của láng
giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt
Nam theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật Việt Nam” Quy định này
là hoàn toàn hợp lí vì xuất phát từ thực tế, công
dân Việt Nam sinh sống ở khu vực biên giới
lấy vợ, lấy chồng là người Trung Quốc, Lào,
Campuchia, giữa họ thường có mối quan hệ
gần gũi với nhau về điều kiện sinh sống, họ
quan niệm lấy nhau chỉ cần họ hàng chứng
kiến Đa số các trường hợp người dân giáp biên giới sống chung với nhau, sinh con đẻ cái, khi không hợp nhau thì tự giải quyết mà không
có sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đ& quy định tòa án cấp quận, huyện, thị x&, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết nhằm tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thực hiện tốt các quyền tố tụng dân sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ, ổn
định quan hệ x& hội cũng như để các quy định của luật đi vào cuộc sống ở các vùng biên giới Tòa án huyện, quận, thị x&, thành phố thuộc tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới áp dụng các quy
định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
để giải quyết
Trước đây, theo Pháp lệnh hôn nhân và gia
đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài năm 1993 thì các tranh chấp liên quan
đến quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài đều thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh Việc pháp luật quy định thẩm quyền thuộc tòa án cấp tỉnh giải quyết cũng xuất phát
từ nhiều lí do Đây là quan hệ phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết ở những cơ quan có thẩm quyền cao với những thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt Nhưng tất cả các tranh chấp trong quan hệ gia đình ở các khu vực biên giới đều thuộc tòa án cấp tỉnh giải quyết thì đó lại là điểm không hợp lí, bởi vì:
- Do đặc điểm của khu vực biên giới là xa trung tâm, sẽ rất khó khăn cho tòa án trong việc nắm bắt tình hình và đương sự
- Do có vị trí địa lí liền kề nhau nên đời sống của những người dân khác quốc tịch ở
đây rất gần gũi, việc dân cư các huyện, x& giáp biên qua lại giao lưu buôn bán là việc hết sức
Trang 3Tạp chí luật học - 5
bình thường nhưng thực tế đó lại phát sinh
nhiều quan hệ gia đình và tính chất ngày càng
phức tạp Khi phát sinh tranh chấp về các quan
hệ đó, do trình độ dân trí còn kém, ý thức pháp
luật hạn chế nên họ tự giải quyết mà không có
sự can thiệp của các cơ quan tư pháp
Để khắc phục điểm không hợp lí đó, Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thẩm
quyền giải quyết thuộc tòa án quận, huyện, thị
x&, thành phố thuộc tỉnh giải quyết là phù hợp
với thực tế hiện nay Việc phân định thẩm
quyền này một mặt đảm bảo thích ứng với
trình độ dân trí ở đây, đáp ứng được yêu cầu
bảo vệ qyền lợi kịp thời của công dân trong
quan hệ gia đình, mặt khác tránh được tình
trạng dồn ép công việc cho tòa án nhân dân
cấp tỉnh đồng thời tháo gỡ được khó khăn do
thực tiễn phát sinh đối với đồng bào ở khu vực
biên giới trong việc thực hiện quyền tham gia
tố tụng của mình Việc phân định thẩm quyền
cho tòa án cấp huyện giải quyết các việc gia
đình ở vùng biên giới hoàn toàn phù hợp với
chủ chương tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án
nhân dân cấp huyện đ& được Quốc hội khoá X
thảo luận trong kì họp lần thứ IX vừa qua
Hiện nay, ở một số tỉnh biên giới (Lào Cai,
Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng ) tình hình trẻ
em là người nước ngoài được các gia đình ở
vùng biên giới nhận về nuôi dưỡng không qua
thủ tục nhận con nuôi diễn ra khá phổ biến
Tình hình đó đ& gây ảnh hưởng xấu đến an
ninh chính trị ở địa phương Các cấp uỷ đảng,
chính quyền địa phương và các cơ quan chức
năng ở các tỉnh này đ& triển khai nhiều biện
pháp nhằm ngăn chặn hiện tượng trên như tăng
cường phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng
trong nhân dân, đặc biệt là pháp luật về quốc
tịch, hộ tịch, quản lí chặt chẽ công tác hộ tịch,
hộ khẩu, chú trọng việc lập hồ sơ quản lí chặt
chẽ trẻ em là người nước ngoài được nhận làm
con nuôi Tuy nhiên, tình hình vẫn diễn biến theo chiều hướng ngày càng phức tạp Trước thực tế đó, nhằm tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đăng kí nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi trong quan hệ với công dân các nước láng giềng, Nghị định số 68/CP quy định khá đơn giản về hồ sơ, giấy tờ, trình tự, thủ tục đăng kí các loại vụ việc này; giấy tờ của nước láng giềng cấp cho công dân của họ để sử dụng cho việc nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi với công dân Việt Nam ở khu vực biên giới không cần hợp pháp hóa l&nh sự và chỉ cần dịch (không chính thức) ra tiếng Việt, không cần công chứng bản dịch Thời hạn, trình tự, thủ tục, lệ phí nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi ở vùng biên giới được thực hiện như thủ tục áp dụng
đối với công dân Việt Nam trong nước theo quy định của pháp luật về đăng kí hộ tịch Như vậy, với đặc thù khác biệt ở khu vực biên giới, pháp luật nước ta đ& có quy định riêng (về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục, lệ phí) áp dụng trong quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở khu vực này Với các quy
định trên khi áp dụng trên thực tế sẽ làm cho luật có tính khả thi hơn và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới Tuy nhiên, để cho các quy định của luật đi vào cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải
có chương trình tổng thể bồi dưỡng kiến thức pháp luật nói chung và tư pháp quốc tế nói riêng cho các cán bộ pháp lí ở khu vực biên giới Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài trong nhân dân Việc tuyên truyền này phải được thực hiện bằng nhiều phương pháp, nhiều hình thức khác nhau và cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức x& hội, đoàn thể, quần chúng để tìm ra những hình thức, phương pháp thích hợp áp dụng cho vùng biên giới./