1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới " pptx

6 633 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 128,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực như việc Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia AFTA,

Trang 1

Ths Đỗ Ngân Bình *

ộ luật lao động được Quốc hội nước

Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 23/06/1994 và có hiệu lực

thi hành từ ngày 01/01/1995 Sau gần 7

năm thực hiện có thể khẳng định Bộ luật

lao động đ phát huy vai trò to lớn trong

đời sống x hội Về cơ bản, nội dung các

quy định của Bộ luật lao động phù hợp với

quan hệ lao động trong nền kinh tế thị

trường, tạo điều kiện cho các quan hệ này

phát triển hài hoà, ổn định Tuy nhiên,

bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ

luật lao động đ bộc lộ nhiều điểm bất

hợp lí Cụ thể là nhiều quy định còn

chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy

định còn chồng chéo, mâu thuẫn ảnh

hưởng đến quyền lợi của các bên tham

gia quan hệ lao động

Bên cạnh đó, sự thay đổi của điều kiện

kinh tế x hội nước ta trong gần 10 năm

qua đ chứng tỏ sự lạc hậu của một số quy

định trong Bộ luật lao động Cùng với sự

phát triển của nền kinh tế trong nước theo

xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực

(như việc Việt Nam gia nhập ASEAN,

tham gia AFTA, kí Hiệp định thương mại

Việt - Mĩ ), hàng loạt các văn bản pháp luật

mới đ được ban hành như: Luật doanh nghiệp, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài, Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước Sự xuất hiện của các văn bản này là phù hợp với thực tế nhưng có một số nội dung lại chưa phù hợp với quy định của Bộ luật lao động, do đó tạo ra sự không đồng bộ, thống nhất trong

hệ thống pháp luật Việt Nam Điều đó dẫn

đến nhu cầu tất yếu phải sửa đổi, bổ sung

Bộ luật lao động

Khi đánh giá cụ thể các điều khoản của

Bộ luật lao động, theo kết quả điều tra tình hình thực hiện Bộ luật lao động của dự án VIE - 97/003 thì có khoảng 20 điều khoản

được thực hiện ở mức độ thấp, khoảng 22

điều khoản hoàn toàn không thể thực hiện trong thực tế Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản này là yêu cầu bức xúc để

Bộ luật lao động đi vào cuộc sống, phát huy vai trò điều tiết các quan hệ lao động Sau thời gian nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của Bộ luật lao động, xem xét những

B

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

phương án, kiến nghị về việc sửa đổi, bổ

sung, ngày 02/04/2002 Quốc hội khoá X,

kì họp thứ 11 đ nhất trí thông qua Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật

lao động Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày

01/01/2003

Những mục tiêu cụ thể của Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao

động là:

- Loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn

giữa các quy định của Bộ luật lao động;

giữa Bộ luật lao động với các văn bản pháp

luật khác

- Hoàn thiện một số chính sách lao

động, việc làm, tạo sự linh hoạt, mềm dẻo

trong chính sách lao động, việc làm trong

bối cảnh hội nhập và cạnh tranh

- Từng bước tạo ra “sân chơi” bình

đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, tạo

ra sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của

các bên tham gia quan hệ lao động

- Góp phần cải cách kinh tế, cải cách

các thủ tục hành chính và phát triển x hội

Sau đây, chúng tôi phân tích cụ thể

những điều khoản được sửa đổi, bổ sung

trong Bộ luật lao động

1 Trong lĩnh vực việc làm

Quy định trong Bộ luật lao động có sự

mâu thuẫn giữa Điều 16 và Điều 132 Điều

16 quy định “người sử dụng lao động có

quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức

dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động”

thì khoản 1 Điều 132 lại quy định doanh

nghiệp đầu tư nước ngoài bắt buộc phải

tuyển lao động Việt Nam thông qua tổ

chức dịch vụ việc làm Quy định này không

những tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh

nghiệp trong nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà còn làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính phiền hà, gây tốn kém tiền bạc và thời gian của nhà đầu tư

Vì vậy, trong Luật sửa đổi bổ sung một

số điều của Bộ luật lao động, khoản 1

Điều 132 được sửa đổi đúng tinh thần của

Điều 16, đó là: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực tiếp tuyển lao

động Việt Nam hoặc thông qua tổ chức giới thiệu việc làm”

2 Đối với một số quy định về hợp

đồng lao động Hợp đồng lao động là chế định quan trọng của luật lao động Trong lần sửa đổi,

bổ sung này, để phát huy hơn nữa vai trò của chế định hợp đồng, nhiều quy định của

Bộ luật lao động đ được xem xét sửa đổi Thứ nhất, khoản 3 Điều 29 và khoản 4,

5 Điều 166 Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật lao động đ đề cập trực tiếp đến trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và cách xử lí Cụ thể thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc

về toà án nhân dân, thẩm quyền xử lí hợp

đồng vô hiệu do toà án nhân dân hoặc thanh tra lao động

Đây là điều khoản bổ sung rất quan trọng bởi trong Bộ luật lao động chưa có quy định nào trực tiếp đề cập vấn đề này,

do đó gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện Vấn đề là cần ban hành các quy định cụ thể hoá các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả để quy định này sớm đi vào cuộc sống

Trang 3

Thứ hai, để phù hợp với quy định tại

Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày

29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp nhà nước

thành công ti cổ phần, Nghị định số

103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 về giao,

bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh

nghiệp nhà nước, một số điều của Bộ luật

lao động như Điều 31, Điều 52 và Điều 66

đ được sửa đổi bổ sung Trong đó Điều 31

quy định: Khi doanh nghiệp sáp nhập, phân

chia, hợp nhất, chuyển quyền sở hữu,

quyền quản lí hoặc quyền sử dụng tài sản

thì người sử dụng lao động kế tiếp phải có

“phương án sử dụng lao động theo quy

định của pháp luật” Điều này đ thực sự

tháo gỡ một phần khó khăn cho các doanh

nghiệp Bởi khi doanh nghiệp nhà nước

phải tiến hành giao, bán, khoán, cho thuê

cũng là khi doanh nghiệp gặp khó khăn

trong sản xuất kinh doanh khó có thể thực

hiện các quan hệ lao động với người lao

động cũ, nếu buộc phải sử dụng tất cả các

lao động theo quy định tại Điều 31 sẽ gây

khó khăn cho doanh nghiệp và là một trong

những nguyên nhân hạn chế tiến trình đổi

mới doanh nghiệp

Hi vọng với quy định mới mềm dẻo,

linh hoạt hơn ở các Điều 31 (về sử dụng lao

động sau quá trình đổi mới doanh nghiệp),

Điều 52 (về tiếp tục thực hiện thoả ước lao

động tập thể sau quá trình đổi mới doanh

nghiệp) và Điều 66 (về giải quyết tiền

lương cho người lao động), Bộ luật lao

động được sửa đổi, bổ sung sẽ góp phần

cùng các quy định khác của Luật doanh

nghiệp, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày

29/06/1998 thúc đẩy nhanh tiến trình đổi

mới doanh nghiệp nhà nước hiện nay Thứ ba, một trong những vấn đề gây nhiều tranh ci nhất là việc chấm dứt hợp

đồng lao động và giải quyết quyền lợi cho các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến bất đồng xoay quanh vấn đề này nhưng với những quy định được sửa đổi, bổ sung tại Điều 37, Điều 38 và Điều 41 đ ít nhiều khắc phục được những vướng mắc của thực tiễn

Điều 37 được bổ sung thêm trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (điểm g khoản 1) Điều

38 được bổ sung trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ 12 tháng đến 36 tháng, khi người lao động bị ốm đau đ điều trị 6 tháng liền nhưng chưa hồi phục Đặc biệt

Điều 41 đ bổ sung hình thức chế tài đối với người lao động và người sử dụng lao

động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Quy định này sẽ góp phần hạn chế ở mức độ nhất định tình trạng chấm dứt hợp đồng trái pháp luật tuỳ tiện như hiện nay Cụ thể là ngoài các chế tài theo quy định của Bộ luật lao động, người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp

đồng lao động trái pháp luật còn phải bồi thường cho người lao động thêm 2 tháng lương (khoản 1 Điều 41 sửa đổi) và người lao động phải bồi thường nửa tháng lương khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (khoản 2 Điều 42)

3 Về thoả ước lao động tập thể

Có một số quy định về thoả ước lao

động tập thể được sửa đổi, bổ sung như

Trang 4

khoản 1 Điều 45, Điều 47, Điều 48, khoản

1 Điều 52 nhưng đáng chú ý nhất là việc

sửa đổi quy định về thời điểm có hiệu lực

của thoả ước tập thể Trong Bộ luật lao

động, thời điểm có hiệu lực của thoả ước

lao động tập thể bao gồm hai trường hợp:

- Thời điểm đó là ngày cơ quan lao

động cấp tỉnh đăng kí thoả ước tập thể;

- Thời điểm thoả ước lao động tập thể

đương nhiên có hiệu lực nếu sau 15 ngày (kể

từ ngày cơ quan lao động tỉnh nhận được bản

thoả ước) mà không có thông báo về việc

đăng kí

Quy định như trên đ gây khó khăn cho

cơ quan lao động tỉnh khi xem xét đăng kí

thoả ước (thời hạn quá ngắn); gây khó khăn

cho thanh tra lao động trong việc xử lí các

thoả ước lao động tập thể vô hiệu nhưng lại

đang được thực hiện tại doanh nghiệp trong

trường hợp đương nhiên có hiệu lực và

giảm hiệu quả áp dụng của thoả ước lao

động tập thể Vì vậy, trong lần sửa đổi này

Quốc hội đ nhất trí thông qua việc sửa đổi

khoản 2 Điều 47 như sau: “Thoả ước tập

thể có hiệu lực kể từ ngày hai bên thoả

thuận ghi trong thoả ước, trường hợp hai

bên không thoả thuận thì thoả ước có hiệu

lực kể từ ngày kí” Mặc dù đương nhiên có

hiệu lực, thoả ước tập thể vẫn phải được

đăng kí theo thủ tục luật định tại cơ quan

nhà nước có thẩm quyền

4 Những sửa đổi, bổ sung đối với

các quy định về tiền lương

Để các quy định về tiền lương thực

sự đi vào cuộc sống, những điểm bất

cập về tiền lương trong Bộ luật lao động

đ được xem xét, sửa đổi

Trước hết là sửa đổi thang, bảng lương,

Điều 57 Bộ luật lao động quy định: Chính phủ công bố thang lương, bảng lương để làm cơ sở tính bảo hiểm x hội, bảo hiểm y

tế, tiền lương làm thêm Quy định này mâu thuẫn với nguyên tắc tự do thoả thuận

về tiền lương được ghi nhận tại Điều 55 Bộ luật lao động, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong thực tế Kết quả là tại các doanh nghiệp tồn tại hai loại lương: Loại lương thoả thuận và được trả trong thực tế; loại lương theo thang bảng lương

và được ghi vào hợp đồng lao động, dẫn

đến vướng mắc trong việc đóng bảo hiểm x hội tại Điều 149 Theo quy định, người

sử dụng đóng 15% tổng quỹ lương (lương thực trả cho người lao động) còn người lao

động đóng 5% lương theo hợp đồng lao

động Còn khi tính mức trả bảo hiểm x hội cho người lao động chỉ căn cứ vào mức

đóng của người lao động, không căn cứ vào thang, bảng lương Vì sự mâu thuẫn giữa 3

điều khoản của Bộ luật lao động (Điều 55,

57 và 149) nên khi sửa đổi, Điều 57 được quy định lại là: “Chính phủ quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động để người sử dụng lao động xây dựng và áp dụng phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” Căn cứ vào các nguyên tắc

đó, người sử dụng lao động sẽ tự xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao

động phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quy định mềm dẻo, linh hoạt như vậy sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thống nhất hai loại lương như hiện nay, để thang, bảng lương do doanh

Trang 5

nghiệp tự xây dựng thực sự trở thành căn

cứ quan trọng để hai bên thoả thuận tiền

lương trong hợp đồng lao động và là cơ sở

để thu nộp bảo hiểm x hội

Ngoài ra, trong các quy định về tiền

lương còn sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 61

với mức lương làm thêm ngày lễ ít nhất

bằng 300% và Điều 64 về tiền thưởng cho

người lao động

5 Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Trong kinh tế thị trường với nhiều loại

hình doanh nghiệp khác nhau, nếu pháp luật

quy định quá cứng về thời giờ làm việc, đặc

biệt là thời giờ làm thêm sẽ gây khó khăn

cho doanh nghiệp Bộ luật lao động quy

định thời giờ làm thêm tối đa không quá

200 giờ/năm đ đẩy một số doanh ngiệp,

trong đó có các doanh nghiệp may mặc,

giầy da, làm hàng gia công cho Nhà nước

buộc phải vi phạm pháp luật là cho công

nhân làm thêm vượt quá hạn mức quy định

vào những thời điểm họ kí được hợp đồng

kinh tế, buộc phải làm liên tục để kịp thời

giao hàng Mặt khác, họ cũng bị đẩy vào

tình thế bế tắc khi bạn hàng nước ngoài do

phát hiện được việc vi phạm pháp luật lao

động của họ nên không muốn kí kết hợp

đồng kinh tế Nhằm từng bước tháo gỡ khó

khăn này cho các doanh nghiệp, tạo điều

kiện cho họ đứng vững và làm ăn trên thị

trường quốc tế, phù hợp với quy định của

một số nước trong khu vực Điều 69 đ

được sửa đổi theo hướng thời giờ làm thêm

không quá 300 giờ/năm

6 Đối với các quy định về kỉ luật lao động

Những hình thức kỉ luật được quy định

trong Bộ luật lao động là:

- Khiển trách (điểm a khoản 1 Điều 84);

- Chuyển làm công việc khác với mức lương thấp hơn, tối đa là 6 tháng (điểm b khoản 1 Điều 84 );

- Sa thải (khoản 1 Điều 85)

Hai hình thức kỉ luật sau gây rất nhiều vướng mắc cho các doanh nghiệp khi áp dụng Cụ thể nếu chuyển người lao động làm công việc khác, người sử dụng sẽ phải

đào tạo, hướng dẫn, thử việc và thay thế vào đó người lao động mới Điều này đặc biệt gây khó khăn khi người lao động bị kỉ luật làm việc trong dây chuyền sản xuất liên tục Ngoài ra, hết thời hạn bị kỉ luật, người lao động trở lại làm việc (theo quy

định) người sử dụng lại phải cho người lao

động mới nghỉ việc và phải trợ cấp thôi việc Vì vậy, việc bổ sung một số hình thức kỉ luật tại điểm b khoản 1 Điều 84 là cần thiết

Việc thực hiện khoản 1 Điều 85 về các trường hợp được phép sa thải người lao

động cũng nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp Đa số các chủ doanh nghiệp cho rằng chỉ khi người lao

động tự ý bỏ việc 7 ngày/tháng (theo quy

định tại Bộ luật lao động) mới được phép sa thải là bất hợp lí Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay, việc nâng cao ý thức kỉ luật của người lao động là hết sức cần thiết, nó ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá sức lao động và việc quản lí điều hành sản xuất trong doanh nghiệp Vì thế

họ đề nghị giảm số ngày tự ý nghỉ việc xuống 5 ngày hoặc 3 ngày/tháng

Để cân bằng lợi ích của cả hai bên trong quan hệ lao động, phù hợp với thực tế

Trang 6

khách quan của kinh tế thị trường và từng

bước nâng cao ý thức của người lao động,

điểm b khoản 1 Điều 84 được bổ sung các

hình thức kỉ luật như kéo dài thời hạn nâng

lương, cách chức bên cạnh hình thức cũ là

chuyển làm công việc khác Điểm c khoản

1 Điều 85 được sửa là: Người lao động tự ý

bỏ việc 5 ngày/tháng mà không có lí do

chính đáng sẽ bị sa thải

7 Về bảo hiểm xã hội

Khoản 1 Điều 140 đ có sự bổ sung

quan trọng: “Chính phủ quy định cụ thể

việc đào tạo lại đối với người lao động thất

nghiệp, tỉ lệ đóng bảo hiểm xC hội, điều

kiện và mức trợ cấp thất nghiệp, việc thành

lập, quản lí và sử dụng quỹ bảo hiểm thất

nghiệp”

Thực chất tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật

lao động đ bước đầu đề cập việc xây dựng

chế độ bảo hiểm mất việc làm song chưa có

hướng dẫn cụ thể Với quy định mới này

chúng ta hi vọng sẽ có văn bản pháp luật cụ

thể hoá vấn đề này để bảo hiểm thất nghiệp

thực sự đi vào cuộc sống, phát huy vai trò

bảo vệ người lao động

Về các trường hợp đóng bảo hiểm,

khoản 1 Điều 141 được sửa đổi đ thu hẹp

diện đóng bảo hiểm tự nguyện, chỉ bao

gồm hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3

tháng Như vậy, ở những nơi sử dụng dưới

10 lao động nếu kí hợp đồng lao động 3

tháng trở lên vẫn thuộc diện phải đóng bảo

hiểm x hội bắt buộc Quy định mới này

hợp lí hơn và đáp ứng nguyện vọng của

đông đảo người lao động

8 Đối với các quy định về giải quyết tranh chấp lao động

Có một số sửa đổi đáng chú ý tại Điều

163 về việc thành lập hội đồng hoà giải cơ

sở, theo đó hội đồng hoà giải cơ sở có thể

được thành lập ở cả các doanh nghiệp mới

có ban chấp hành công đoàn lâm thời Khoản 2 Điều 166 mở rộng các loại việc có thể đưa thẳng lên toà án mà không cần thông qua hội đồng hoà giải, bao gồm 5 trường hợp (trước kia quy định 3 trường hợp) Luật đ bổ sung quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động tại khoản 1 Điều 167

Việc sửa đổi, bổ sung theo hướng linh hoạt và mềm dẻo như trên đ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp lao

động, phù hợp với sự đa dạng của tranh chấp lao động trong nền kinh tế thị trường Ngoài những nội dung căn bản nêu trên, trong Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật lao động về hoạt động của công đoàn; quản lí và thanh tra nhà nước về lao động cũng được sửa đổi theo hướng phù hợp với nền kinh tế thị trường và tạo điều kiện cho quan hệ lao động phát triển hài hoà, ổn định

Mặc dù còn một số vướng mắc chưa thực sự được giải quyết triệt để trong lần sửa đổi, bổ sung này nhưng chúng ta hi vọng rằng sau khi chính thức có hiệu lực và triển khai trong thực tế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động sẽ thật sự phát huy tác dụng, đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay./

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w