Những người theo quan điểm này khẳng định trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội .1 - Quan điểm 2: Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của người phạm t
Trang 1ThS Phạm Mạnh Hùng * rách nhiệm hình sự là một trong những
thuật ngữ được dùng phổ biến trong
sách báo pháp lí và thực tiễn áp dụng pháp
luật hình sự Tuy nhiên, cho đến nay, xung
quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn
còn những ý kiến khác nhau
1 ở Liên Xô trước đây và Liên bang
Nga hiện nay, có nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự Có
thể nêu ra năm quan điểm chính như sau:
- Quan điểm 1: Trách nhiệm hình sự là
việc thực hiện chế tài pháp lí hình sự, nghĩa
là quan điểm này coi trách nhiệm hình sự
chính là việc áp dụng hình phạt Những
người theo quan điểm này khẳng định trách
nhiệm hình sự phát sinh từ khi áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội (1)
- Quan điểm 2: Trách nhiệm hình sự là
nghĩa vụ của người phạm tội phải chịu trách
nhiệm trước nhà nước vì việc thực hiện tội
phạm của họ trên cơ sở các quy phạm pháp
luật hình sự và trách nhiệm hình sự bắt đầu
từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội
phạm.(2)
- Quan điểm 3: Trách nhiệm hình sự là
tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể của quan hệ pháp luật, phát sinh từ việc
thực hiện tội phạm Những người theo quan
điểm này coi khái niệm “trách nhiệm hình
sự” như khái niệm độc lập với khái niệm
“thực hiện trách nhiệm hình sự” và cho
rằng trách nhiệm hình sự phát sinh từ thời
điểm người phạm tội thực hiện tội phạm,
còn thời điểm thực hiện trách nhiệm hình sự lại được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.(3)
- Quan điểm 4: Trách nhiệm hình sự là hậu quả của việc phạm tội, thể hiện ở các biện pháp cưỡng chế nhà nước và bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.(4)
- Quan điểm 5: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của tòa án nhân danh Nhà nước
đối với người phạm tội.(5)
2 Vấn đề án tích có thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự không? Trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau Một số nhà luật hình sự học cho rằng trong trường hợp một người phải chịu hình phạt thì trách nhiệm hình sự thể hiện ở hình phạt và do vậy trách nhiệm hình sự kết thúc ở thời điểm một người đ_ chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt Những người theo quan điểm này cho rằng án tích không thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự mà chỉ là hậu quả của việc chấp hành hình phạt.(6)
Một số nhà luật hình sự học khác lại cho rằng án tích là một phần của trách nhiệm hình sự Do vậy, thời điểm kết thúc của trách nhiệm hình sự là thời điểm một
T
* Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội
Trang 2người được xóa án tích.(7)
3 ở Việt Nam, cho đến nay, xung
quanh khái niệm trách nhiệm hình sự cũng
có những ý kiến khác nhau như:
- Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm
của một người đ thực hiện một tội phạm,
phải chịu một biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước là hình phạt về việc phạm tội của họ”;(8)
- Trách nhiệm hình sự là “hậu quả
pháp lí của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ
người đ gây ra tội phải chịu trách nhiệm
về hành vi của mình trước Nhà nước”;(9)
- Trách nhiệm hình sự “là trách nhiệm
của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
x hội được quy định trong pháp luật hình sự
bằng một hậu quả bất lợi do tòa án áp dụng tuỳ
thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi mà người đó đ thực hiện”;(10)
- Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm
của người phạm tội phải chịu những hậu
quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của
mình bao gồm: Nghĩa vụ phải chịu sự tác
động của hoạt động truy cứu trách
nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu
biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm
hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và
chịu mang án tích”;(11)
- Trách nhiệm hình sự là“hậu quả pháp
lí của việc thực hiện tội phạm và được thể
hiện bằng việc áp dụng đối với người
phạm tội một hoặc nhiều biện pháp
cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự
quy định”;(12)
- Trách nhiệm hình sự “là hậu quả
pháp lí của việc thực hiện tội phạm mà cá
nhân người phạm tội phải gánh chịu trước
Nhà nước về hành vi phạm tội của mình và
được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của Bộ luật hình sự”.(13)
4 Trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lí hình sự
áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không giống nhau Đúng như Брайнин Я M đ_ viết: “Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lí, còn hình phạt, cưỡng chế chỉ là một trong những phương pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự”.(14)
Trong Bộ luật hình
sự nước ta, giữa khái niệm trách nhiệm hình
sự và khái niệm hình phạt cũng được phân biệt qua một số quy định cụ thể Điều 2 BLHS quy định: “chỉ người nào phạm một tội đ được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, còn đoạn cuối Điều 26 BLHS thì quy định: “Hình phạt do tòa án quyết định” Điều 25 BLHS quy định về “miễn trách nhiệm hình sự”, còn Điều 54 BLHS lại quy định về
“miễn hình phạt”, trong đó ghi rõ: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”
Như vậy, trách nhiệm hình sự và hình phạt là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt Trách nhiệm hình sự
là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp
Trang 3cưỡng chế thể hiện nội dung của trách
nhiệm hình sự Ngoài hình phạt, trách
nhiệm hình sự còn có thể được thể hiện
dưới hình thức khác Chính vì thế, quan
điểm coi trách nhiệm hình sự chỉ là
trách nhiệm của người phải chịu biện pháp
cưỡng chế nhà nước là hình phạt là không
phù hợp
5 Quan điểm coi trách nhiệm hình sự là
nghĩa vụ của một người phải chịu các biện
pháp cưỡng chế nhà nước do việc người đó
thực hiện tội phạm, theo chúng tôi cũng
không phù hợp Về bản chất, nghĩa vụ pháp
lí và trách nhiệm pháp lí là khác nhau
Nghĩa vụ pháp lí nói lên khả năng có thể
phải chịu trách nhiệm pháp lí của một
người, còn trách nhiệm pháp lí chính là việc
thực hiện nghĩa vụ pháp lí trái với ý chí của
người có nghĩa vụ Do vậy, trách nhiệm
hình sự, với tính cách là một dạng của trách
nhiệm pháp lí, không phải là nghĩa vụ mà
một người có thể phải chịu hậu quả pháp lí
bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm
mà chính là hậu quả pháp lí bất lợi mà
người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do
việc người đó đ_ thực hiện tội phạm Đúng
như Братусь С.Н đ_ viết: “Trách nhiệm -
đó không phải là nghĩa vụ phải chịu những
hậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật
mà chính là hậu quả của nó trong tình
trạng bị cưỡng chế Trách nhiệm - đó là
nghĩa vụ đ được thực hiện bằng cưỡng chế
Nghĩa vụ thì có thể được thực hiện hoặc
không được thực hiện, nhưng khi đ bắt đầu
trách nhiệm, nghĩa là khi bộ máy cưỡng chế
đ đi vào hoạt động thì người có trách
nhiệm không được lựa chọn Người đó
không thể không thực hiện hành vi tạo
thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện”.(15)
6 Chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, phát sinh
từ việc thực hiện tội phạm và được thực hiện từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự Quan điểm này, vô hình trung, đ_ đồng nhất trách nhiệm hình sự với quan hệ pháp luật hình sự Thực chất, quan hệ pháp luật hình
sự và trách nhiệm hình sự là khác nhau Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh từ thời
điểm một người thực hiện tội phạm Từ thời
điểm người phạm tội thực hiện tội phạm, giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định Khi đó, người phạm tội bắt đầu có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình và Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Nhưng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ không trở thành trách nhiệm hình sự thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, nếu tội phạm
đ_ hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự không phải tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự
mà chính là hậu quả bất lợi mà người phạm tội phải phải chịu trước Nhà nước do người
đó thực hiện tội phạm Việc tách khái niệm
“thực hiện trách nhiệm hình sự” độc lập với khái niệm “trách nhiệm hình sự” thì có thể
được nhưng nếu chỉ coi trách nhiệm hình sự
Trang 4như nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi trước
Nhà nước thì không phù hợp
7 Chúng tôi cũng không đồng ý với
quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự là
hậu quả của việc phạm tội, thể hiện ở các
biện pháp cưỡng chế nhà nước và bắt đầu từ
khi truy cứu trách nhiệm hình sự Đúng là
từ thời điểm khởi tố bị can, nghĩa là thời
điểm bắt đầu của hoạt động truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với một người, các cơ
quan tiến hành tố tụng đ_ có thể áp dụng
các biện pháp cưỡng chế đối với người
phạm tội (thậm chí có những biện pháp
cưỡng chế còn được áp dụng từ trước khi
khởi tố bị can, ví dụ, biện pháp bắt người
trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm
tội quả tang, tạm giữ) Tuy nhiên, các biện
pháp cưỡng chế mà các cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng đối với một người trước khi
người đó có thể bị tòa án kết án bằng bản
án kết tội không thể là sự thể hiện của trách
nhiệm hình sự nếu sau đó, các cơ quan tiến
hành tố tụng đ_ ra các quyết định đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án vì hành vi của bị
can không cấu thành tội phạm hoặc có cơ
sở để miễn trách nhiệm hình sự hoặc tại
phiên tòa, tòa án ra bản án tuyên vô tội hoặc
tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với
người đ_ bị truy tố
Nếu chấp nhận quan điểm cho rằng
trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy cứu
trách nhiệm hình sự, nghĩa là từ khi khởi tố
thì trong trường hợp này, phải chăng trước
khi có bản án mà tòa án tuyên miễn trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội,
người đó đ_ phải chịu một phần trách nhiệm
hình sự? Điều này khó có thể chấp nhận
được Khi đ_ nói đến miễn trách nhiệm hình
sự là nói đến việc miễn toàn bộ hậu quả pháp lí thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự chứ không thể nói đến miễn một phần trách nhiệm hình sự Một người đ_ phải chịu trách nhiệm hình sự thì không thể nói đến miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó nữa Nếu người phạm tội đ_ phải chịu trách nhiệm hình sự trước khi có bản
án của tòa án thì toà án sẽ không thể nhân danh Nhà nước mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đ_ bị viện kiểm sát truy tố
Trước khi bị kết tội, một người có thể
đ_ bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm Những biện pháp ngăn chặn này được
áp dụng nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi cần bảo đảm thi hành án Về bản chất, các biện pháp ngăn chặn không phải là trách nhiệm hình sự Mặc dù các biện pháp ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội nhưng chúng không phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội Việc các cơ quan tiến hành tố tụng có áp dụng hay không áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với một người không phải là do đ_ xác định
được người đó phạm tội hay không phạm tội mà là ở chỗ có căn cứ để chứng tỏ nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì người đó có thể sẽ gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau này việc thi hành án sẽ
Trang 5gặp khó khăn Một người đ_ bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn vẫn có thể được miễn
trách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định
được là có các điều kiện để miễn trách
nhiệm hình sự Ngược lại, một người có thể
không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
nhưng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm
hình sự nếu sau đó tòa án tuyên bản án kết
tội đối với người đó và bản án đó đ_ có hiệu
lực pháp luật Bản thân thuật ngữ “các biện
pháp ngăn chặn” đ_ nói lên tính chất phòng
ngừa của các biện pháp này, đúng như
Eникеев З.Д đ_ viết: “Các biện pháp ngăn
chặn là một phạm trù tố tụng thuần tuý, có
ý nghĩa phòng ngừa”.(16)
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là
các biện pháp ngăn chặn được áp dụng
trước khi có bản án kết tội của toà án không
có ảnh hưởng gì đến trách nhiệm hình sự
mà người phạm tội phải chịu sau đó Một số
biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người
phạm tội cũng có thể chuyển thành bộ phận
cấu thành của trách nhiệm hình sự khi
người đ_ bị áp dụng các biện pháp ngăn
chặn sau đó bị tòa án kết án bằng bản án kết
tội có kèm theo việc quyết định một số loại
hình phạt nào đó Theo Điều 31 BLHS, nếu
người bị kết án cải tạo không giam giữ đ_ bị
tạm giữ, tạm giam trước khi chấp hành hình
phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian
tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian
chấp hành hình phạt cải tạo không giam
giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba
ngày cải tạo không giam giữ Còn theo Điều
33 BLHS, nếu người bị kết án phạt tù có
thời hạn đ_ bị tạm giữ, tạm giam trước khi
chấp hành hình phạt tù thì thời gian tạm
giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù Như vậy, khi người phạm tội bị tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đ_ áp dụng đối với người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn được chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa là một bộ phận của trách nhiệm hình sự
Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tư pháp cũng có thể được áp dụng đối với người phạm tội trước khi có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chúng không phải là biện pháp
để thực hiện trách nhiệm hình sự Người bị
áp dụng biện pháp tư pháp vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 44 BLHS, nếu người phạm tội đ_ bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó bị kết án phạt tù thì đối với người đó - thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù Điều này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh của người phạm tội trước khi bị kết án, giống như biện pháp tạm giữ, tạm giam, cũng có thể được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự
8 Theo quan điểm chúng tôi, nếu không có bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp luật thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người Điều 72 Hiến pháp năm 1992 nước ta đ_ khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư
Trang 6pháp hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội,
với nội dung như sau: “Không ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có
bản án kết tội của tòa án đ có hiệu lực
pháp luật” Nguyên tắc này một lần nữa
được nhắc lại tại Điều 10 Bộ luật tố tụng
hình sự Bản án kết tội của tòa án có hiệu
lực pháp luật là cơ sở pháp lí xác nhận
người phạm tội chính thức bị coi là có tội
Bản án kết tội của tòa án đối với người
phạm tội chính là hậu quả pháp lí thể hiện
một trong những nội dung quan trọng của
trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải
chịu trước Nhà nước Kể từ khi bản án kết
tội của tòa án có hiệu lực pháp luật, người
phạm tội bắt đầu phải chịu mang án tích
Chính vì vậy, chúng tôi đồng ý với quan
điểm cho rằng trách nhiệm hình sự được thể
hiện ở bản án kết tội của tòa án (bản án kết
tội có quyết định hình phạt hoặc bản án kết
tội có miễn hình phạt) và trách nhiệm hình
sự mà một người phải chịu trước Nhà nước
chỉ có thể được xác nhận một cách chính
thức khi bản án kết tội của toà án có hiệu
lực pháp luật
9 Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho
rằng án tích thực chất cũng chính là một
trong những hình thức thể hiện nội dung
của trách nhiệm hình sự Đây là một trong
những hình thức nghiêm khắc nhất của
trách nhiệm hình sự so với các dạng trách
nhiệm pháp lí khác Trách nhiệm hình sự và
các dạng trách nhiệm pháp lí khác có thể có
những điểm gần giống nhau về hình thức
thể hiện Ví dụ, trách nhiệm hình sự và
trách nhiệm hành chính đều có hình thức
chế tài là cảnh cáo, phạt tiền Nhưng cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự khác với cảnh cáo, phạt tiền, với tính cách là hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với hậu quả là người đó bị coi là có án tích án tích chỉ có thể được xoá khi đáp ứng những điều kiện do luật định (từ Điều
63 đến Điều 67 BLHS) án tích gắn liền với bản án kết tội đ_ có hiệu lực pháp luật của tòa án Một người bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật Đúng như Яkовлeв A.M đ_ viết: “án tích chưa được xóa có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một người đ chấp hành xong hình phạt quyết
định đối với người đó”.(17) Trong trường hợp một người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người
đó Người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS) và gắn với nó là việc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn những người không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau
Trên cơ sở các phân tích trên, theo chúng tôi, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về trách nhiệm hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực hiện tội phạm mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước, thể hiện ở bản án kết tội của toà án, cũng như hình phạt mà tòa
Trang 7án quyết định đối với người bị kết án và dấu
hiệu án tích của người đó./
(1).Xem: Caмощенко И.С, Фарукшин M.X ô Trách
nhiệm theo pháp luật Xô Viết ằ
, M 1971, tr 61 (tiếng Nga)
(2).Xem: Kурляндский В.И “Trách nhiệm hình sự
và các biện pháp tác động x_ hội”, M 1965, tr 32
(tiếng Nga)
(3).Xem: Лейкие Н.С “Nhân thân người phạm tội và
trách nhiệm hình sự”, Nxb Ленинградского
Университета, 1968, tr 31 (tiếng Nga); багжий -
Шaxмашов Л.В “Trách nhiệm hình sự và hình
phạt”, Nxb Mинск, 1976, tr 73 (tiếng Nga)
(4) Xem: Наумов A.В “Miễn trách nhiệm hình sự”
- Trong sách: Từ điển luật hình sự, Наумов A.В chủ
biên, Nhiều tác giả, Nxb Бek, M 1997, tr 335
(tiếng Nga)
(5).Xem: Заородников N.И “Về giới hạn trách
nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô
viết, 1967, số 7, tr 39 - 40 (tiếng Nga); Tkaчевский
Ю M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách
nhiệm hình sự” - Trong sách: Luật hình sự Xô viết
(Phần chung), Nxb Московского Университета,
1981, tr 29 (tiếng Nga);
(6).Xem: Пионтковский A A “Về khái niệm trách
nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô
viết, 1967, số 12, tr 44 (tiếng Nga); cũng xem:
Пионтковский A A Tập bài giảng Luật hình sự xô
viết, tập 3, M 1970, tr 12 (tiếng Nga); Гришанин
П.Ф “Cơ sở và phạm vi trách nhiệm của những
người tái phạm”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô
Viết, 1974, số 10, tr 92 (tiếng Nga); Maрцев A И
“Khái niệm và nội dung của trách nhiệm hình sự”-
Trong sách: Những vấn đề của cuộc đấu tranh chống
tội phạm, Омсk, 1976, tr 9 (tiếng Nga); Kовaлeв
M.И “Luật hình sự Xô viết”, Tập các bài giảng, tập
1, Nhập môn luật hình sự, Свердловск, 1971, tr
124 (tiếng Nga)
(7).Xem: Яковлев A M “Cuộc đấu tranh chống
tình trạng tái phạm”, M 1964, tr 35-38 (tiếng Nga);
Багрий - Шаxматов Л.В “Trách nhiệm hình sự và
hình phạt”, Sđd, tr 61- 62 (tiếng Nga); Tkaчевский
Ю.M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách
nhiệm hình sự” Chương 2 - Trong sách: Luật hình
sự xô viết (Phần chung), Nxb Московского Университета, 1981, tr 30 (tiếng Nga); cũng xem: Tkaчевский Ю M “Đạo luật hình sự” Chương 4 - Trong sách: Luật hình sự (Phần chung), Nxb Московского Университета, 1993, tr 77 (tiếng Nga); Наумов A В “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự” Chương 10 - Trong sách: Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb Спарк,
M 1996, tr 155 (tiếng Nga)
(8).Xem: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam”, (Phần chung), Đại học pháp lí Hà Nội, Nxb Pháp lí, H,
1984, tr 59 (9).Xem: “Mô hình lí luận về Bộ luật hình sự Việt Nam” (phần chung), TSKH Đào Trí úc chủ biên, Nxb Khoa học x_ hội, H, 1993, tr 41
(10) Xem: Đỗ Ngọc Quang “Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, H,
1997, tr 14
(11).Xem: Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn, “Thuật ngữ luật hình sự” - Trong sách: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H, 1999, tr 126
(12).Xem: Lê Cảm “Những vấn đề lí luận cơ bản về trách nhiệm hình sự” - Trong sách: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, tập 3, Nxb Công an nhân dân, H, 2000, tr 122
(13).Xem: Trần Văn Độ “Trách nhiệm hình sự” Chương 5 - Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), TSKH Lê Cảm chủ biên, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr 91
(14).Xem: Брайнин Я M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của nó trong luật hình sự Xô Viết”, M, 1963,
tr 11 (tiếng Nga)
(15).Xem: Братусь С.Н “Trách nhiệm pháp lí và pháp chế”, M, 1976, tr 103 (tiếng Nga)
(16).Xem: Eникеев З.Д “Các biện pháp ngăn chặn
có tính chất tố tụng hình sự”, Tạp chí Pháp luật,
1978, số 6, tr 64 (tiếng Nga)
(17).Xem: Яkовлeв A.M “Cuộc đấu tranh chống tình trạng tái phạm ”, sđd, tr 38 (tiếng Nga)