1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Khái niệm trách nhiệm hình sự " pot

8 574 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 119,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người theo quan điểm này khẳng định trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội .1 - Quan điểm 2: Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của người phạm t

Trang 1

ThS Phạm Mạnh Hùng * rách nhiệm hình sự là một trong những

thuật ngữ được dùng phổ biến trong

sách báo pháp lí và thực tiễn áp dụng pháp

luật hình sự Tuy nhiên, cho đến nay, xung

quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn

còn những ý kiến khác nhau

1 ở Liên Xô trước đây và Liên bang

Nga hiện nay, có nhiều quan điểm khác

nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự Có

thể nêu ra năm quan điểm chính như sau:

- Quan điểm 1: Trách nhiệm hình sự là

việc thực hiện chế tài pháp lí hình sự, nghĩa

là quan điểm này coi trách nhiệm hình sự

chính là việc áp dụng hình phạt Những

người theo quan điểm này khẳng định trách

nhiệm hình sự phát sinh từ khi áp dụng hình

phạt đối với người phạm tội (1)

- Quan điểm 2: Trách nhiệm hình sự là

nghĩa vụ của người phạm tội phải chịu trách

nhiệm trước nhà nước vì việc thực hiện tội

phạm của họ trên cơ sở các quy phạm pháp

luật hình sự và trách nhiệm hình sự bắt đầu

từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội

phạm.(2)

- Quan điểm 3: Trách nhiệm hình sự là

tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ

thể của quan hệ pháp luật, phát sinh từ việc

thực hiện tội phạm Những người theo quan

điểm này coi khái niệm “trách nhiệm hình

sự” như khái niệm độc lập với khái niệm

“thực hiện trách nhiệm hình sự” và cho

rằng trách nhiệm hình sự phát sinh từ thời

điểm người phạm tội thực hiện tội phạm,

còn thời điểm thực hiện trách nhiệm hình sự lại được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.(3)

- Quan điểm 4: Trách nhiệm hình sự là hậu quả của việc phạm tội, thể hiện ở các biện pháp cưỡng chế nhà nước và bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.(4)

- Quan điểm 5: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của tòa án nhân danh Nhà nước

đối với người phạm tội.(5)

2 Vấn đề án tích có thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự không? Trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau Một số nhà luật hình sự học cho rằng trong trường hợp một người phải chịu hình phạt thì trách nhiệm hình sự thể hiện ở hình phạt và do vậy trách nhiệm hình sự kết thúc ở thời điểm một người đ_ chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt Những người theo quan điểm này cho rằng án tích không thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự mà chỉ là hậu quả của việc chấp hành hình phạt.(6)

Một số nhà luật hình sự học khác lại cho rằng án tích là một phần của trách nhiệm hình sự Do vậy, thời điểm kết thúc của trách nhiệm hình sự là thời điểm một

T

* Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội

Trang 2

người được xóa án tích.(7)

3 ở Việt Nam, cho đến nay, xung

quanh khái niệm trách nhiệm hình sự cũng

có những ý kiến khác nhau như:

- Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm

của một người đ thực hiện một tội phạm,

phải chịu một biện pháp cưỡng chế của Nhà

nước là hình phạt về việc phạm tội của họ”;(8)

- Trách nhiệm hình sự là “hậu quả

pháp lí của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ

người đ gây ra tội phải chịu trách nhiệm

về hành vi của mình trước Nhà nước”;(9)

- Trách nhiệm hình sự “là trách nhiệm

của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho

x hội được quy định trong pháp luật hình sự

bằng một hậu quả bất lợi do tòa án áp dụng tuỳ

thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của

hành vi mà người đó đ thực hiện”;(10)

- Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm

của người phạm tội phải chịu những hậu

quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của

mình bao gồm: Nghĩa vụ phải chịu sự tác

động của hoạt động truy cứu trách

nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu

biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm

hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và

chịu mang án tích”;(11)

- Trách nhiệm hình sự là“hậu quả pháp

lí của việc thực hiện tội phạm và được thể

hiện bằng việc áp dụng đối với người

phạm tội một hoặc nhiều biện pháp

cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự

quy định”;(12)

- Trách nhiệm hình sự “là hậu quả

pháp lí của việc thực hiện tội phạm mà cá

nhân người phạm tội phải gánh chịu trước

Nhà nước về hành vi phạm tội của mình và

được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của Bộ luật hình sự”.(13)

4 Trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lí hình sự

áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không giống nhau Đúng như Брайнин Я M đ_ viết: “Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lí, còn hình phạt, cưỡng chế chỉ là một trong những phương pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự”.(14)

Trong Bộ luật hình

sự nước ta, giữa khái niệm trách nhiệm hình

sự và khái niệm hình phạt cũng được phân biệt qua một số quy định cụ thể Điều 2 BLHS quy định: “chỉ người nào phạm một tội đ được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, còn đoạn cuối Điều 26 BLHS thì quy định: “Hình phạt do tòa án quyết định” Điều 25 BLHS quy định về “miễn trách nhiệm hình sự”, còn Điều 54 BLHS lại quy định về

“miễn hình phạt”, trong đó ghi rõ: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”

Như vậy, trách nhiệm hình sự và hình phạt là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt Trách nhiệm hình sự

là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp

Trang 3

cưỡng chế thể hiện nội dung của trách

nhiệm hình sự Ngoài hình phạt, trách

nhiệm hình sự còn có thể được thể hiện

dưới hình thức khác Chính vì thế, quan

điểm coi trách nhiệm hình sự chỉ là

trách nhiệm của người phải chịu biện pháp

cưỡng chế nhà nước là hình phạt là không

phù hợp

5 Quan điểm coi trách nhiệm hình sự là

nghĩa vụ của một người phải chịu các biện

pháp cưỡng chế nhà nước do việc người đó

thực hiện tội phạm, theo chúng tôi cũng

không phù hợp Về bản chất, nghĩa vụ pháp

lí và trách nhiệm pháp lí là khác nhau

Nghĩa vụ pháp lí nói lên khả năng có thể

phải chịu trách nhiệm pháp lí của một

người, còn trách nhiệm pháp lí chính là việc

thực hiện nghĩa vụ pháp lí trái với ý chí của

người có nghĩa vụ Do vậy, trách nhiệm

hình sự, với tính cách là một dạng của trách

nhiệm pháp lí, không phải là nghĩa vụ mà

một người có thể phải chịu hậu quả pháp lí

bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm

mà chính là hậu quả pháp lí bất lợi mà

người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do

việc người đó đ_ thực hiện tội phạm Đúng

như Братусь С.Н đ_ viết: “Trách nhiệm -

đó không phải là nghĩa vụ phải chịu những

hậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật

mà chính là hậu quả của nó trong tình

trạng bị cưỡng chế Trách nhiệm - đó là

nghĩa vụ đ được thực hiện bằng cưỡng chế

Nghĩa vụ thì có thể được thực hiện hoặc

không được thực hiện, nhưng khi đ bắt đầu

trách nhiệm, nghĩa là khi bộ máy cưỡng chế

đ đi vào hoạt động thì người có trách

nhiệm không được lựa chọn Người đó

không thể không thực hiện hành vi tạo

thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện”.(15)

6 Chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, phát sinh

từ việc thực hiện tội phạm và được thực hiện từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự Quan điểm này, vô hình trung, đ_ đồng nhất trách nhiệm hình sự với quan hệ pháp luật hình sự Thực chất, quan hệ pháp luật hình

sự và trách nhiệm hình sự là khác nhau Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh từ thời

điểm một người thực hiện tội phạm Từ thời

điểm người phạm tội thực hiện tội phạm, giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định Khi đó, người phạm tội bắt đầu có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình và Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Nhưng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ không trở thành trách nhiệm hình sự thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, nếu tội phạm

đ_ hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự hoặc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự không phải tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự

mà chính là hậu quả bất lợi mà người phạm tội phải phải chịu trước Nhà nước do người

đó thực hiện tội phạm Việc tách khái niệm

“thực hiện trách nhiệm hình sự” độc lập với khái niệm “trách nhiệm hình sự” thì có thể

được nhưng nếu chỉ coi trách nhiệm hình sự

Trang 4

như nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi trước

Nhà nước thì không phù hợp

7 Chúng tôi cũng không đồng ý với

quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự là

hậu quả của việc phạm tội, thể hiện ở các

biện pháp cưỡng chế nhà nước và bắt đầu từ

khi truy cứu trách nhiệm hình sự Đúng là

từ thời điểm khởi tố bị can, nghĩa là thời

điểm bắt đầu của hoạt động truy cứu trách

nhiệm hình sự đối với một người, các cơ

quan tiến hành tố tụng đ_ có thể áp dụng

các biện pháp cưỡng chế đối với người

phạm tội (thậm chí có những biện pháp

cưỡng chế còn được áp dụng từ trước khi

khởi tố bị can, ví dụ, biện pháp bắt người

trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm

tội quả tang, tạm giữ) Tuy nhiên, các biện

pháp cưỡng chế mà các cơ quan tiến hành

tố tụng áp dụng đối với một người trước khi

người đó có thể bị tòa án kết án bằng bản

án kết tội không thể là sự thể hiện của trách

nhiệm hình sự nếu sau đó, các cơ quan tiến

hành tố tụng đ_ ra các quyết định đình chỉ

điều tra, đình chỉ vụ án vì hành vi của bị

can không cấu thành tội phạm hoặc có cơ

sở để miễn trách nhiệm hình sự hoặc tại

phiên tòa, tòa án ra bản án tuyên vô tội hoặc

tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với

người đ_ bị truy tố

Nếu chấp nhận quan điểm cho rằng

trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy cứu

trách nhiệm hình sự, nghĩa là từ khi khởi tố

thì trong trường hợp này, phải chăng trước

khi có bản án mà tòa án tuyên miễn trách

nhiệm hình sự đối với người phạm tội,

người đó đ_ phải chịu một phần trách nhiệm

hình sự? Điều này khó có thể chấp nhận

được Khi đ_ nói đến miễn trách nhiệm hình

sự là nói đến việc miễn toàn bộ hậu quả pháp lí thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự chứ không thể nói đến miễn một phần trách nhiệm hình sự Một người đ_ phải chịu trách nhiệm hình sự thì không thể nói đến miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó nữa Nếu người phạm tội đ_ phải chịu trách nhiệm hình sự trước khi có bản

án của tòa án thì toà án sẽ không thể nhân danh Nhà nước mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đ_ bị viện kiểm sát truy tố

Trước khi bị kết tội, một người có thể

đ_ bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo

đảm Những biện pháp ngăn chặn này được

áp dụng nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy

tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi cần bảo đảm thi hành án Về bản chất, các biện pháp ngăn chặn không phải là trách nhiệm hình sự Mặc dù các biện pháp ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội nhưng chúng không phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội Việc các cơ quan tiến hành tố tụng có áp dụng hay không áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với một người không phải là do đ_ xác định

được người đó phạm tội hay không phạm tội mà là ở chỗ có căn cứ để chứng tỏ nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì người đó có thể sẽ gây khó khăn cho việc

điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau này việc thi hành án sẽ

Trang 5

gặp khó khăn Một người đ_ bị áp dụng

biện pháp ngăn chặn vẫn có thể được miễn

trách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định

được là có các điều kiện để miễn trách

nhiệm hình sự Ngược lại, một người có thể

không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn

nhưng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm

hình sự nếu sau đó tòa án tuyên bản án kết

tội đối với người đó và bản án đó đ_ có hiệu

lực pháp luật Bản thân thuật ngữ “các biện

pháp ngăn chặn” đ_ nói lên tính chất phòng

ngừa của các biện pháp này, đúng như

Eникеев З.Д đ_ viết: “Các biện pháp ngăn

chặn là một phạm trù tố tụng thuần tuý, có

ý nghĩa phòng ngừa”.(16)

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là

các biện pháp ngăn chặn được áp dụng

trước khi có bản án kết tội của toà án không

có ảnh hưởng gì đến trách nhiệm hình sự

mà người phạm tội phải chịu sau đó Một số

biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người

phạm tội cũng có thể chuyển thành bộ phận

cấu thành của trách nhiệm hình sự khi

người đ_ bị áp dụng các biện pháp ngăn

chặn sau đó bị tòa án kết án bằng bản án kết

tội có kèm theo việc quyết định một số loại

hình phạt nào đó Theo Điều 31 BLHS, nếu

người bị kết án cải tạo không giam giữ đ_ bị

tạm giữ, tạm giam trước khi chấp hành hình

phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian

tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian

chấp hành hình phạt cải tạo không giam

giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba

ngày cải tạo không giam giữ Còn theo Điều

33 BLHS, nếu người bị kết án phạt tù có

thời hạn đ_ bị tạm giữ, tạm giam trước khi

chấp hành hình phạt tù thì thời gian tạm

giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù Như vậy, khi người phạm tội bị tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đ_ áp dụng đối với người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn được chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa là một bộ phận của trách nhiệm hình sự

Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tư pháp cũng có thể được áp dụng đối với người phạm tội trước khi có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chúng không phải là biện pháp

để thực hiện trách nhiệm hình sự Người bị

áp dụng biện pháp tư pháp vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 44 BLHS, nếu người phạm tội đ_ bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó bị kết án phạt tù thì đối với người đó - thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù Điều này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh của người phạm tội trước khi bị kết án, giống như biện pháp tạm giữ, tạm giam, cũng có thể được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự

8 Theo quan điểm chúng tôi, nếu không có bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp luật thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người Điều 72 Hiến pháp năm 1992 nước ta đ_ khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư

Trang 6

pháp hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội,

với nội dung như sau: “Không ai bị coi là

có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có

bản án kết tội của tòa án đ có hiệu lực

pháp luật” Nguyên tắc này một lần nữa

được nhắc lại tại Điều 10 Bộ luật tố tụng

hình sự Bản án kết tội của tòa án có hiệu

lực pháp luật là cơ sở pháp lí xác nhận

người phạm tội chính thức bị coi là có tội

Bản án kết tội của tòa án đối với người

phạm tội chính là hậu quả pháp lí thể hiện

một trong những nội dung quan trọng của

trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải

chịu trước Nhà nước Kể từ khi bản án kết

tội của tòa án có hiệu lực pháp luật, người

phạm tội bắt đầu phải chịu mang án tích

Chính vì vậy, chúng tôi đồng ý với quan

điểm cho rằng trách nhiệm hình sự được thể

hiện ở bản án kết tội của tòa án (bản án kết

tội có quyết định hình phạt hoặc bản án kết

tội có miễn hình phạt) và trách nhiệm hình

sự mà một người phải chịu trước Nhà nước

chỉ có thể được xác nhận một cách chính

thức khi bản án kết tội của toà án có hiệu

lực pháp luật

9 Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho

rằng án tích thực chất cũng chính là một

trong những hình thức thể hiện nội dung

của trách nhiệm hình sự Đây là một trong

những hình thức nghiêm khắc nhất của

trách nhiệm hình sự so với các dạng trách

nhiệm pháp lí khác Trách nhiệm hình sự và

các dạng trách nhiệm pháp lí khác có thể có

những điểm gần giống nhau về hình thức

thể hiện Ví dụ, trách nhiệm hình sự và

trách nhiệm hành chính đều có hình thức

chế tài là cảnh cáo, phạt tiền Nhưng cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự khác với cảnh cáo, phạt tiền, với tính cách là hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với hậu quả là người đó bị coi là có án tích án tích chỉ có thể được xoá khi đáp ứng những điều kiện do luật định (từ Điều

63 đến Điều 67 BLHS) án tích gắn liền với bản án kết tội đ_ có hiệu lực pháp luật của tòa án Một người bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật Đúng như Яkовлeв A.M đ_ viết: “án tích chưa được xóa có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một người đ chấp hành xong hình phạt quyết

định đối với người đó”.(17) Trong trường hợp một người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người

đó Người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS) và gắn với nó là việc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn những người không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau

Trên cơ sở các phân tích trên, theo chúng tôi, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về trách nhiệm hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực hiện tội phạm mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước, thể hiện ở bản án kết tội của toà án, cũng như hình phạt mà tòa

Trang 7

án quyết định đối với người bị kết án và dấu

hiệu án tích của người đó./

(1).Xem: Caмощенко И.С, Фарукшин M.X ô Trách

nhiệm theo pháp luật Xô Viết ằ

, M 1971, tr 61 (tiếng Nga)

(2).Xem: Kурляндский В.И “Trách nhiệm hình sự

và các biện pháp tác động x_ hội”, M 1965, tr 32

(tiếng Nga)

(3).Xem: Лейкие Н.С “Nhân thân người phạm tội và

trách nhiệm hình sự”, Nxb Ленинградского

Университета, 1968, tr 31 (tiếng Nga); багжий -

Шaxмашов Л.В “Trách nhiệm hình sự và hình

phạt”, Nxb Mинск, 1976, tr 73 (tiếng Nga)

(4) Xem: Наумов A.В “Miễn trách nhiệm hình sự”

- Trong sách: Từ điển luật hình sự, Наумов A.В chủ

biên, Nhiều tác giả, Nxb Бek, M 1997, tr 335

(tiếng Nga)

(5).Xem: Заородников N.И “Về giới hạn trách

nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô

viết, 1967, số 7, tr 39 - 40 (tiếng Nga); Tkaчевский

Ю M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách

nhiệm hình sự” - Trong sách: Luật hình sự Xô viết

(Phần chung), Nxb Московского Университета,

1981, tr 29 (tiếng Nga);

(6).Xem: Пионтковский A A “Về khái niệm trách

nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô

viết, 1967, số 12, tr 44 (tiếng Nga); cũng xem:

Пионтковский A A Tập bài giảng Luật hình sự xô

viết, tập 3, M 1970, tr 12 (tiếng Nga); Гришанин

П.Ф “Cơ sở và phạm vi trách nhiệm của những

người tái phạm”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô

Viết, 1974, số 10, tr 92 (tiếng Nga); Maрцев A И

“Khái niệm và nội dung của trách nhiệm hình sự”-

Trong sách: Những vấn đề của cuộc đấu tranh chống

tội phạm, Омсk, 1976, tr 9 (tiếng Nga); Kовaлeв

M.И “Luật hình sự Xô viết”, Tập các bài giảng, tập

1, Nhập môn luật hình sự, Свердловск, 1971, tr

124 (tiếng Nga)

(7).Xem: Яковлев A M “Cuộc đấu tranh chống

tình trạng tái phạm”, M 1964, tr 35-38 (tiếng Nga);

Багрий - Шаxматов Л.В “Trách nhiệm hình sự và

hình phạt”, Sđd, tr 61- 62 (tiếng Nga); Tkaчевский

Ю.M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách

nhiệm hình sự” Chương 2 - Trong sách: Luật hình

sự xô viết (Phần chung), Nxb Московского Университета, 1981, tr 30 (tiếng Nga); cũng xem: Tkaчевский Ю M “Đạo luật hình sự” Chương 4 - Trong sách: Luật hình sự (Phần chung), Nxb Московского Университета, 1993, tr 77 (tiếng Nga); Наумов A В “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự” Chương 10 - Trong sách: Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb Спарк,

M 1996, tr 155 (tiếng Nga)

(8).Xem: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam”, (Phần chung), Đại học pháp lí Hà Nội, Nxb Pháp lí, H,

1984, tr 59 (9).Xem: “Mô hình lí luận về Bộ luật hình sự Việt Nam” (phần chung), TSKH Đào Trí úc chủ biên, Nxb Khoa học x_ hội, H, 1993, tr 41

(10) Xem: Đỗ Ngọc Quang “Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, H,

1997, tr 14

(11).Xem: Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn, “Thuật ngữ luật hình sự” - Trong sách: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H, 1999, tr 126

(12).Xem: Lê Cảm “Những vấn đề lí luận cơ bản về trách nhiệm hình sự” - Trong sách: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, tập 3, Nxb Công an nhân dân, H, 2000, tr 122

(13).Xem: Trần Văn Độ “Trách nhiệm hình sự” Chương 5 - Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), TSKH Lê Cảm chủ biên, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr 91

(14).Xem: Брайнин Я M “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của nó trong luật hình sự Xô Viết”, M, 1963,

tr 11 (tiếng Nga)

(15).Xem: Братусь С.Н “Trách nhiệm pháp lí và pháp chế”, M, 1976, tr 103 (tiếng Nga)

(16).Xem: Eникеев З.Д “Các biện pháp ngăn chặn

có tính chất tố tụng hình sự”, Tạp chí Pháp luật,

1978, số 6, tr 64 (tiếng Nga)

(17).Xem: Яkовлeв A.M “Cuộc đấu tranh chống tình trạng tái phạm ”, sđd, tr 38 (tiếng Nga)

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w