1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cuả đương sự trong tố tụng dân sự " pot

6 1,1K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 103,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự có nghĩa là bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.. Thực tiễn giải

Trang 1

Tạp chí luật học - 3

ThS Nguyễn Công Bình *

ảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của đương sự là một trong những

nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự

Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 132

Hiến pháp 1992, Điều 9 Luật tổ chức tòa án

nhân dân và được cụ thể hóa trong Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

(PLTTGQCVADS) Việc ghi nhận nguyên tắc

này trong pháp luật là sự phản ánh khách quan

của hoạt động tố tụng dân sự vì mục đích của

tố tụng dân sự là bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của mọi chủ thể Mặt khác, trước tòa án

thì quyền lợi chỉ có nghĩa khi chứng minh

được sự tồn tại của nó

Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt là

“làm cho chắc chắn thực hiện được”.(1) Do

vậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của đương sự trong tố dụng dân sự là

làm cho đương sự chắc chắn thực hiện được

quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ

trước tòa án Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của đương sự được thực hiện thông qua

việc thực hiện các quyền tố tụng dân sự của

đương sự như: Quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi

yêu cầu, cung cấp chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ

quyền, lợi ích của mình Cho nên bảo đảm

quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

đương sự trong tố tụng dân sự có nghĩa là bảo

đảm cho đương sự thực hiện được các quyền,

nghĩa vụ tố tụng dân sự Thực tiễn giải quyết

các vụ án của tòa án cho thấy hoạt động tố

tụng dân sự là hoạt động phức tạp, đương sự trong nhiều trường hợp không thể tự bảo vệ

được quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu không có sự giúp đỡ của tòa án và những người khác Vì vậy, nội dung đầy đủ của nguyên tắc là bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tòa

án, bảo đảm cho đương sự được uỷ quyền cho người khác đại diện trong tố tụng, được người khác hỗ trợ pháp lí và trách nhiệm của toà án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện

được các quyền đó

Bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng là vấn đề rất quan trọng Vì chính thông qua việc thực hiện

được các quyền, nghĩa vụ tố tụng, các đương

sự mới đưa ra được yêu cầu, chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước tòa án một cách tốt nhất Căn cứ vào quy định tại

Điều 20 PLTTGQCVADS thì trong quá trình

tố tụng dân sự, tòa án phải bảo đảm cho các

đương sự thực hiện được các quyền sau:

- Quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi yêu cầu

và phản đối yêu cầu của đương sự bên kia;

- Quyền cung cấp chứng cứ, được biết chứng cứ do đương sự bên kia cung cấp, yêu cầu tòa án tiến hành những biện pháp điều tra

B

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

cần thiết;

- Quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện

pháp khẩn cấp tạm thời;

- Quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội

thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư kí tòa án,

người giám định, người phiên dịch;

- Quyền tham gia hoà giải, tham gia phiên

tòa;

- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của

tòa án

Khi tham gia tố tụng, các đương sự được

thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng

việc thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ

thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng nhận

thức, học vấn, sự hiểu biết pháp luật, kinh

nghiệm tham gia tố tụng, tâm lí của đương sự

và cả quan điểm của những người có thẩm

quyền của cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy,

ngoài các quyền trên, theo quy định tại Điều

21, 22 PLTTGQCVADS, trong quá trình tố

tụng tòa án còn phải bảo đảm cho các đương

sự thực hiện các quyền sau:

- Quyền uỷ quyền cho luật sư, bào chữa

viên nhân dân hoặc người khác đại diện trong

tố tụng dân sự;

- Quyền được người khác đại diện trong

trường hợp không có khả năng hành vi tố tụng

dân sự;

- Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân

dân hoặc người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của họ

Việc bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích

hợp pháp của đương sự trước tòa án luôn gắn

liền với trách nhiệm của tòa án Trong mỗi vụ

án cụ thể, tòa án phải xác định được đầy đủ

những ai là đương sự để triệu tập họ đến tham

gia tố tụng Nếu tòa án xác định thiếu hoặc bỏ

sót bất cứ đương sự nào và không triệu tập họ

đến tham gia tố tụng thì đều có thể dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng Các đương

sự phần lớn lần đầu tiên tham gia tố tụng nên chưa có kinh nghiệm, không biết mình có những quyền, nghĩa vụ tố tụng gì Là cơ quan xét xử, tòa án cần giải thích, giúp đỡ các

đương sự biết và thực hiện các quyền, nghĩa

vụ tố tụng của họ cho có hiệu quả Tòa án không được hạn chế đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ đj được pháp luật thừa nhận Trong tố tụng, nếu có đương

sự không có năng lực hành vi tố tụng, vắng mặt không có tin tức mà không có ai đại diện thì tòa án phải cử người đại diện cho họ Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc này đj đạt nhiều kết quả, tuy vậy, vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Một số

vụ án việc giải quyết kéo dài, gây khó khăn, thiệt hại cho đương sự Những hạn chế nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau cả về lập pháp và thực hiện pháp luật

Về lập pháp, vẫn còn tình trạng pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xj hội; trong nhiều lĩnh vực vẫn còn thiếu pháp luật để điều chỉnh hoặc tuy đủ nhưng chưa phù hợp Pháp luật tố tụng dân sự càng chậm đổi mới, sau nhiều năm Bộ luật dân sự được ban hành nhưng Nhà nước ta vẫn chưa ban hành Bộ luật

tố tụng dân sự Việc giải quyết các vụ án dân

sự phải căn cứ vào PLTTGQCVADS và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Nhiều vấn đề PLTTGQCVADS quy định còn đơn giản; nhiều vấn đề còn chưa được quy

định nên làm cho các tòa án lúng túng khi vận dụng Ví dụ, vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa, người bào chữa

Trang 3

Tạp chí luật học - 5

viên nhân dân, chi phí về đánh giá, về giám

định Có vấn đề pháp luật tố tụng quy định

chưa chặt chẽ làm đương sự có thể lạm dụng,

gây khó khăn cho tòa án và các đương sự khác

như việc tòa án chỉ được xét xử vắng mặt bị

đơn sau hai lần bị đơn đj được triệu tập hợp lệ

mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng

Về thực hiện pháp luật, do đội ngũ cán bộ

xét xử thiếu, chưa được đào tạo đầy đủ về

chuyên môn, nghiệp vụ, số lượng án phải giải

quyết nhiều nên không có thời gian để học

tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ,

nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngoài ra, các tổ chức

luật sư phát triển chậm cả về số lượng và chất

lượng, chưa đáp ứng nhu cầu xj hội Số lượng

luật sư ở các đoàn luật sư đj ít, cơ cấu lại không

hợp lí Nhiều đoàn luật sư có tỉ lệ luật sư kiêm

nhiệm không ít hoặc đj về hưu nên việc tham

gia tố tụng không tránh khỏi bị hạn chế

Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích

hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự,

theo chúng tôi bên cạnh việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật dân sự chúng ta phải sớm

hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự,

nhanh chóng ban hành Bộ luật tố tụng dân sự

để tạo hành lang pháp lí chuẩn mực làm cơ sở

cho hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và

những người tham gia tố tụng

Bộ luật tố tụng dân sự phải có đủ các quy

định đảm bảo cho các đương sự chủ động thực

hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng Theo quy

định của PLTTGQCVADS thì các đương sự

hầu như không chủ động được việc thực hiện

các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tuy

Điều 20 Pháp lệnh quy định đương sự có

quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng

cứ, được biết chứng cứ do bên kia cung cấp

nhưng trên thực tế không có cơ chế thực hiện

Sau khi thụ lí vụ án, tòa án thường triệu tập các đương sự đến để lấy lời khai, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án, đương sự không biết được chứng cứ, lí lẽ bên kia đưa ra

Điều này vừa bất lợi cho các đương sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, vừa gây cho tòa án khó khăn trong việc giải quyết vụ án Quy trình tố tụng cần được quy

định lại theo hướng khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp cho tòa án các chứng cứ, căn cứ pháp lí, lí lẽ chứng minh cho yêu cầu của họ Sau khi tòa án thụ lí vụ án, bị

đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải được tòa án cho biết yêu cầu, các chứng

cứ, các căn cứ pháp lí, lí lẽ người khởi kiện

đưa ra Nếu không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, đương sự phải đưa ra các chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí làm cơ sở cho việc không chấp nhận gửi cho tòa án Tòa án thẩm định lại các chứng cứ, khi cần thiết mới tiến hành điều tra thu thập thêm chứng cứ trước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử Cùng với việc đổi mới thủ tục tiến hành trước khi mở phiên tòa, thủ tục tiến hành phiên tòa cũng phải được đổi mới Theo PLTTGQCVADS, ngay sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử đj tiến hành thẩm vấn, sau đó mới cho tranh luận Trên thực tế, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên toà không

được tiến hành hoặc tiến hành rất hạn chế, có khi lặp lại như ở thủ tục xét hỏi Trong khi đó, việc tranh luận rất quan trọng, nó giúp tòa án làm sáng tỏ những vấn đề của vụ án mà nhiều khi chỉ qua xét hỏi đương sự, người làm chứng không thể biết được Vì vậy, cần quy định sau thủ tục bắt đầu phiên toà, toà án cho đương sự trình bày yêu cầu, bổ sung chứng cứ, tranh luận Khi việc tranh luận kết thúc, nếu có

Trang 4

điểm nào chưa rõ thì hội đồng xét xử mới hỏi

thêm Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý

kiến của viện kiểm sát và đề xuất hướng giải

quyết vụ án Thủ tục tiến hành phiên tòa phải

được quy định như vậy mới phản ánh được

bản chất dân chủ của tố tụng dân sự, tôn trọng

quyền tự định đoạt của đương sự Thủ tục tiến

hành phiên tòa dân sự được quy định trong

pháp luật tố tụng dân sự hiện hành mang

nhiều điểm tương tự như thủ tục tố tụng hình

sự nên hạn chế tính tích cực, chủ động của

đương sự trong tố tụng

Hiện nay, trong thực tiễn xét xử của tòa

án, lợi dụng vào quy định của Điều 44, 48

PLTTGQCVADS, nhiều đương sự cố ý không

đến tòa án khi được triệu tập để kéo dài quá

trình tố tụng, gây thiệt hại cho đương sự khác,

ljng phí thời gian, tiền của của tòa án Điều

đó càng phức tạp hơn khi trong vụ án có nhiều

đương sự Để tránh sự lạm dụng của đương sự,

cần quy định chặt chẽ hậu quả pháp lí việc họ

vắng mặt Theo chúng tôi, nếu đương sự đj

được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lí

do chính đáng, ngoài việc phạt tiền với mức

phạt hợp lí (khoảng 100.000đ đến 200.000đ)

thì tòa án được giải quyết vụ án vắng mặt

đương sự Trường hợp tòa án triệu tập hợp lệ

đương sự đến tham gia hoà giải mà trong các

đương sự nếu có người vắng mặt không có lí

do chính đáng thì tòa án vẫn quyết định đưa

vụ án ra xét xử, trừ trường hợp tòa án thấy cần

thiết phải hòa giải thì triệu tập lại Chúng tôi

ủng hộ cách giải quyết trong trường hợp vụ án

có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt,

có đương sự có mặt, tòa án hoà giải giữa

đương sự có mặt với nhau Nếu kết quả thoả

thuận của đương sự có mặt không ảnh hưởng

tới lợi ích của đương sự vắng mặt thì tòa án

cho lập biên bản ghi nhận sự thoả thuận đó Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vấn đề còn lại đối với đương sự vắng mặt và ghi nhận những vấn đề đương sự đj thỏa thuận được khi hòa giải trong bản án Trường hợp tòa án triệu tập hợp lệ đương sự đến tham gia phiên toà

mà đương sự vắng mặt không có lí do chính

đáng thì tòa án xét xử vắng mặt họ Trừ trường hợp tòa án thấy sự có mặt của họ là cần thiết cho việc xét xử thì hojn phiên tòa để triệu tập lại

Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định cụ thể tiêu chuẩn pháp lí của người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong tố tụng dân sự có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự Song vai trò đó chỉ có thể phát huy được khi họ có sự hiểu biết pháp lí và kinh nghiệm tham gia tố tụng Thông thường các luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là tốt nhất Ngoài luật sư, phải là những người có trình độ pháp lí nhất

định mới có thể tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự Những người không có trình độ pháp lí và kinh nghiệm tham gia tố tụng thì không thể bảo vệ tốt quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy

định đương sự có thể uỷ quyền hoặc nhờ luật sư hay người khác đại diện hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước tòa án là quá rộng Để bảo đảm việc tham gia tố tụng có hiệu quả của người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự pháp luật cần quy

định chỉ có luật sư hoặc người có trình độ pháp lí từ trung cấp luật trở lên thì đương sự

Trang 5

Tạp chí luật học - 7

mới được uỷ quyền đại diện hoặc nhờ bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án

Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế xj hội của

nước ta hiện nay, nếu quy định chỉ có luật sư,

người có trình độ pháp lí từ trung cấp luật trở

lên đương sự mới được uỷ quyền đại diện bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án

thì không thực tế và sẽ hạn chế quyền tham

gia tố tụng của đương sự Vì vậy, ngoài những

người đó, cần quy định đương sự được ủy

quyền cho người thân đại diện tham gia tố

tụng Đồng thời pháp luật cũng phải quy định

thủ tục uỷ quyền cho người đại diện, thủ tục

nhờ người bảo vệ quyền lợi của đương sự để

tránh tranh chấp trong việc thực hiện quyền,

nghĩa vụ của người đại diện, người bảo vệ

quyền lợi của đương sự

Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định đương

sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên được độc lập

tham gia tố tụng, được uỷ quyền cho người

khác thay mặt tham gia tố tụng Người chưa

đủ 18 tuổi, người mắc bệnh tâm thần, người bị

tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực

hành vi dân sự phải có người đại diện tham

gia tố tụng Khi cần thiết, tòa án có thể triệu

tập đương sự là người chưa đủ 18 tuổi đến

tham gia tố tụng cùng người đại diện Trong

mọi trường hợp, tòa án không được triệu tập

người mắc bệnh tâm thần đến tham gia tố

tụng Về vấn đề này cũng có quan điểm cho

rằng trong Bộ luật tố tụng dân sự mà chúng ta

đang tiến hành xây dựng cần có quy định

người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được độc

lập tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích

hợp pháp của họ trước tòa án Vì theo quy

định của Bộ luật lao động, người từ đủ 15 tuổi

có khả năng lao động có thể giao kết hợp

đồng lao động (Điều 6) và theo Bộ luật dân

sự, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ để thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự (Điều 22), nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình (Điều 611) Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy việc tham gia tố tụng dân sự của cá nhân khác với việc tham gia vào các quan hệ dân sự, lao động của cá nhân Khi tham gia tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ, dựa vào chứng cứ và pháp luật đưa ra lí lẽ để bảo

vệ quyền, lợi ích của mình Việc đó đòi hỏi

đương sự không những phải có đầy đủ lí trí để nhận thức, điều khiển hành vi của mình mà còn phải có sự hiểu biết về pháp luật nội dung

và pháp luật tố tụng Ngay cả người từ đủ 18 tuổi trở lên nếu không có sự hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng thì việc tham gia tố tụng của họ cũng không tránh khỏi những hạn chế Pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước còn quy định ở một số loại việc và một số cấp xét xử bắt buộc đương sự phải có luật sư đại diện

ở nước ta theo quy định của pháp luật, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể giao kết hợp đồng lao động, nếu có tài sản để thực hiện được nghĩa vụ dân sự thì được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự; khi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình nhưng không thể lấy đó là điều kiện để khẳng định họ có thể tự mình tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích trước tòa

án Vì vậy, không thể quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là người độc lập tham gia tố tụng mà chỉ nên quy định họ có quyền

Trang 6

tham gia tố tụng nhưng bắt buộc phải có

người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi

cùng tham gia tố tụng

Bộ luật tố tụng dân sự phải quy định cụ

thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của

những người tiến hành tố tụng dân sự Trong

pháp luật tố tụng dân sự hiện hành hầu như

không quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của những người tiến hành tố

tụng trong việc bảo đảm quyền bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của đương sự Điều đó dẫn

tới trên thực tế vừa khó áp dụng vừa không đề

cao được vai trò, trách nhiệm của những người

tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án

Trong trường hợp những người tiến hành tố

tụng cố ý thực hiện sai pháp luật cũng thiếu

căn cứ để xác định trách nhiệm của họ Hiện

nay, Điều 624 Bộ luật dân sự quy định trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm

quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Để có thể áp dụng điều luật này trên thực tế,

đề cao trách nhiệm cá nhân của những người

tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án

thì việc quy định cụ thể quyền hạn, nhiệm vụ

và trách nhiệm của những người tiến hành tố

tụng dân sự lại càng cần thiết

Về thực hiện pháp luật, phải nâng cao

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất

đạo đức của thẩm phán, luật sư

Hiện nay các vụ án xảy ra rất đa dạng,

phức tạp Người thẩm phán chỉ làm tròn được

nhiệm vụ của mình khi có trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của

người cán bộ xét xử Vì vậy, phải tổ chức việc

đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và

phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ xét

xử cho thẩm phán Để khuyến khích việc thẩm phán học tập nâng cao trình độ, phải tổ chức việc thi chuyên môn, nghiệp vụ khi bổ nhiệm,

bổ nhiệm lại thẩm phán và nâng ngạch thẩm phán

Ngoài ra, cũng phải củng cố và phát triển

đội ngũ luật sư Đội ngũ luật sư hiện nay phát triển chậm, chất lượng hạn chế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Trước mắt phải củng

cố đội ngũ luật sư hiện có, phát triển thêm các luật sư mới để đáp ứng nhu cầu của xj hội về hoạt động luật sư, nâng cao vai trò luật sư trong tố tụng dân sự Phải tổ chức việc đào tạo luật sư, bồi dưỡng kiến thức pháp lí và nghiệp

vụ cho luật sư Các luật sư hoạt động phải có hiệu quả, đúng pháp luật, bảo đảm luật pháp

được áp dụng công bằng và bất cứ vi phạm pháp luật nào cũng phải được xử lí và sửa chữa Mặt khác, cũng phải tăng cường công tác quản lí hoạt động nghiệp vụ của luật sư, thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất chính trị

và đạo đức nghề nghiệp cho luật sư, loại bỏ các luật sư phẩm chất chính trị, đạo đức kém

để thực hiện đường lối của Đảng là “Xây dựng

đội ngũ thẩm phán, thư kí tòa án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị đạo đức, chí công vô tư, có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo

đảm cho bộ máy trong sạch vững mạnh”(2)./

(1).Xem: “Từ điển tiếng Việt”, Nxb Đà Nẵng, tr.36 (2)Xem: “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII”

Ngày đăng: 08/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w