Cho nên bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự có nghĩa là bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.. Thực tiễn giải
Trang 1Tạp chí luật học - 3
ThS Nguyễn Công Bình *
ảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự là một trong những
nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 132
Hiến pháp 1992, Điều 9 Luật tổ chức tòa án
nhân dân và được cụ thể hóa trong Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
(PLTTGQCVADS) Việc ghi nhận nguyên tắc
này trong pháp luật là sự phản ánh khách quan
của hoạt động tố tụng dân sự vì mục đích của
tố tụng dân sự là bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mọi chủ thể Mặt khác, trước tòa án
thì quyền lợi chỉ có nghĩa khi chứng minh
được sự tồn tại của nó
Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt là
“làm cho chắc chắn thực hiện được”.(1) Do
vậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự trong tố dụng dân sự là
làm cho đương sự chắc chắn thực hiện được
quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
trước tòa án Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự được thực hiện thông qua
việc thực hiện các quyền tố tụng dân sự của
đương sự như: Quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi
yêu cầu, cung cấp chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ
quyền, lợi ích của mình Cho nên bảo đảm
quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự trong tố tụng dân sự có nghĩa là bảo
đảm cho đương sự thực hiện được các quyền,
nghĩa vụ tố tụng dân sự Thực tiễn giải quyết
các vụ án của tòa án cho thấy hoạt động tố
tụng dân sự là hoạt động phức tạp, đương sự trong nhiều trường hợp không thể tự bảo vệ
được quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu không có sự giúp đỡ của tòa án và những người khác Vì vậy, nội dung đầy đủ của nguyên tắc là bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tòa
án, bảo đảm cho đương sự được uỷ quyền cho người khác đại diện trong tố tụng, được người khác hỗ trợ pháp lí và trách nhiệm của toà án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện
được các quyền đó
Bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng là vấn đề rất quan trọng Vì chính thông qua việc thực hiện
được các quyền, nghĩa vụ tố tụng, các đương
sự mới đưa ra được yêu cầu, chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước tòa án một cách tốt nhất Căn cứ vào quy định tại
Điều 20 PLTTGQCVADS thì trong quá trình
tố tụng dân sự, tòa án phải bảo đảm cho các
đương sự thực hiện được các quyền sau:
- Quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi yêu cầu
và phản đối yêu cầu của đương sự bên kia;
- Quyền cung cấp chứng cứ, được biết chứng cứ do đương sự bên kia cung cấp, yêu cầu tòa án tiến hành những biện pháp điều tra
B
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2cần thiết;
- Quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
- Quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội
thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư kí tòa án,
người giám định, người phiên dịch;
- Quyền tham gia hoà giải, tham gia phiên
tòa;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của
tòa án
Khi tham gia tố tụng, các đương sự được
thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng
việc thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng nhận
thức, học vấn, sự hiểu biết pháp luật, kinh
nghiệm tham gia tố tụng, tâm lí của đương sự
và cả quan điểm của những người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy,
ngoài các quyền trên, theo quy định tại Điều
21, 22 PLTTGQCVADS, trong quá trình tố
tụng tòa án còn phải bảo đảm cho các đương
sự thực hiện các quyền sau:
- Quyền uỷ quyền cho luật sư, bào chữa
viên nhân dân hoặc người khác đại diện trong
tố tụng dân sự;
- Quyền được người khác đại diện trong
trường hợp không có khả năng hành vi tố tụng
dân sự;
- Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân
dân hoặc người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của họ
Việc bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự trước tòa án luôn gắn
liền với trách nhiệm của tòa án Trong mỗi vụ
án cụ thể, tòa án phải xác định được đầy đủ
những ai là đương sự để triệu tập họ đến tham
gia tố tụng Nếu tòa án xác định thiếu hoặc bỏ
sót bất cứ đương sự nào và không triệu tập họ
đến tham gia tố tụng thì đều có thể dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng Các đương
sự phần lớn lần đầu tiên tham gia tố tụng nên chưa có kinh nghiệm, không biết mình có những quyền, nghĩa vụ tố tụng gì Là cơ quan xét xử, tòa án cần giải thích, giúp đỡ các
đương sự biết và thực hiện các quyền, nghĩa
vụ tố tụng của họ cho có hiệu quả Tòa án không được hạn chế đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ đj được pháp luật thừa nhận Trong tố tụng, nếu có đương
sự không có năng lực hành vi tố tụng, vắng mặt không có tin tức mà không có ai đại diện thì tòa án phải cử người đại diện cho họ Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc này đj đạt nhiều kết quả, tuy vậy, vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Một số
vụ án việc giải quyết kéo dài, gây khó khăn, thiệt hại cho đương sự Những hạn chế nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau cả về lập pháp và thực hiện pháp luật
Về lập pháp, vẫn còn tình trạng pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xj hội; trong nhiều lĩnh vực vẫn còn thiếu pháp luật để điều chỉnh hoặc tuy đủ nhưng chưa phù hợp Pháp luật tố tụng dân sự càng chậm đổi mới, sau nhiều năm Bộ luật dân sự được ban hành nhưng Nhà nước ta vẫn chưa ban hành Bộ luật
tố tụng dân sự Việc giải quyết các vụ án dân
sự phải căn cứ vào PLTTGQCVADS và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Nhiều vấn đề PLTTGQCVADS quy định còn đơn giản; nhiều vấn đề còn chưa được quy
định nên làm cho các tòa án lúng túng khi vận dụng Ví dụ, vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa, người bào chữa
Trang 3Tạp chí luật học - 5
viên nhân dân, chi phí về đánh giá, về giám
định Có vấn đề pháp luật tố tụng quy định
chưa chặt chẽ làm đương sự có thể lạm dụng,
gây khó khăn cho tòa án và các đương sự khác
như việc tòa án chỉ được xét xử vắng mặt bị
đơn sau hai lần bị đơn đj được triệu tập hợp lệ
mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng
Về thực hiện pháp luật, do đội ngũ cán bộ
xét xử thiếu, chưa được đào tạo đầy đủ về
chuyên môn, nghiệp vụ, số lượng án phải giải
quyết nhiều nên không có thời gian để học
tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ,
nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngoài ra, các tổ chức
luật sư phát triển chậm cả về số lượng và chất
lượng, chưa đáp ứng nhu cầu xj hội Số lượng
luật sư ở các đoàn luật sư đj ít, cơ cấu lại không
hợp lí Nhiều đoàn luật sư có tỉ lệ luật sư kiêm
nhiệm không ít hoặc đj về hưu nên việc tham
gia tố tụng không tránh khỏi bị hạn chế
Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự,
theo chúng tôi bên cạnh việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật dân sự chúng ta phải sớm
hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự,
nhanh chóng ban hành Bộ luật tố tụng dân sự
để tạo hành lang pháp lí chuẩn mực làm cơ sở
cho hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và
những người tham gia tố tụng
Bộ luật tố tụng dân sự phải có đủ các quy
định đảm bảo cho các đương sự chủ động thực
hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng Theo quy
định của PLTTGQCVADS thì các đương sự
hầu như không chủ động được việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tuy
Điều 20 Pháp lệnh quy định đương sự có
quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng
cứ, được biết chứng cứ do bên kia cung cấp
nhưng trên thực tế không có cơ chế thực hiện
Sau khi thụ lí vụ án, tòa án thường triệu tập các đương sự đến để lấy lời khai, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án, đương sự không biết được chứng cứ, lí lẽ bên kia đưa ra
Điều này vừa bất lợi cho các đương sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, vừa gây cho tòa án khó khăn trong việc giải quyết vụ án Quy trình tố tụng cần được quy
định lại theo hướng khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp cho tòa án các chứng cứ, căn cứ pháp lí, lí lẽ chứng minh cho yêu cầu của họ Sau khi tòa án thụ lí vụ án, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải được tòa án cho biết yêu cầu, các chứng
cứ, các căn cứ pháp lí, lí lẽ người khởi kiện
đưa ra Nếu không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, đương sự phải đưa ra các chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí làm cơ sở cho việc không chấp nhận gửi cho tòa án Tòa án thẩm định lại các chứng cứ, khi cần thiết mới tiến hành điều tra thu thập thêm chứng cứ trước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử Cùng với việc đổi mới thủ tục tiến hành trước khi mở phiên tòa, thủ tục tiến hành phiên tòa cũng phải được đổi mới Theo PLTTGQCVADS, ngay sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử đj tiến hành thẩm vấn, sau đó mới cho tranh luận Trên thực tế, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên toà không
được tiến hành hoặc tiến hành rất hạn chế, có khi lặp lại như ở thủ tục xét hỏi Trong khi đó, việc tranh luận rất quan trọng, nó giúp tòa án làm sáng tỏ những vấn đề của vụ án mà nhiều khi chỉ qua xét hỏi đương sự, người làm chứng không thể biết được Vì vậy, cần quy định sau thủ tục bắt đầu phiên toà, toà án cho đương sự trình bày yêu cầu, bổ sung chứng cứ, tranh luận Khi việc tranh luận kết thúc, nếu có
Trang 4điểm nào chưa rõ thì hội đồng xét xử mới hỏi
thêm Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý
kiến của viện kiểm sát và đề xuất hướng giải
quyết vụ án Thủ tục tiến hành phiên tòa phải
được quy định như vậy mới phản ánh được
bản chất dân chủ của tố tụng dân sự, tôn trọng
quyền tự định đoạt của đương sự Thủ tục tiến
hành phiên tòa dân sự được quy định trong
pháp luật tố tụng dân sự hiện hành mang
nhiều điểm tương tự như thủ tục tố tụng hình
sự nên hạn chế tính tích cực, chủ động của
đương sự trong tố tụng
Hiện nay, trong thực tiễn xét xử của tòa
án, lợi dụng vào quy định của Điều 44, 48
PLTTGQCVADS, nhiều đương sự cố ý không
đến tòa án khi được triệu tập để kéo dài quá
trình tố tụng, gây thiệt hại cho đương sự khác,
ljng phí thời gian, tiền của của tòa án Điều
đó càng phức tạp hơn khi trong vụ án có nhiều
đương sự Để tránh sự lạm dụng của đương sự,
cần quy định chặt chẽ hậu quả pháp lí việc họ
vắng mặt Theo chúng tôi, nếu đương sự đj
được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lí
do chính đáng, ngoài việc phạt tiền với mức
phạt hợp lí (khoảng 100.000đ đến 200.000đ)
thì tòa án được giải quyết vụ án vắng mặt
đương sự Trường hợp tòa án triệu tập hợp lệ
đương sự đến tham gia hoà giải mà trong các
đương sự nếu có người vắng mặt không có lí
do chính đáng thì tòa án vẫn quyết định đưa
vụ án ra xét xử, trừ trường hợp tòa án thấy cần
thiết phải hòa giải thì triệu tập lại Chúng tôi
ủng hộ cách giải quyết trong trường hợp vụ án
có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt,
có đương sự có mặt, tòa án hoà giải giữa
đương sự có mặt với nhau Nếu kết quả thoả
thuận của đương sự có mặt không ảnh hưởng
tới lợi ích của đương sự vắng mặt thì tòa án
cho lập biên bản ghi nhận sự thoả thuận đó Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vấn đề còn lại đối với đương sự vắng mặt và ghi nhận những vấn đề đương sự đj thỏa thuận được khi hòa giải trong bản án Trường hợp tòa án triệu tập hợp lệ đương sự đến tham gia phiên toà
mà đương sự vắng mặt không có lí do chính
đáng thì tòa án xét xử vắng mặt họ Trừ trường hợp tòa án thấy sự có mặt của họ là cần thiết cho việc xét xử thì hojn phiên tòa để triệu tập lại
Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định cụ thể tiêu chuẩn pháp lí của người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong tố tụng dân sự có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự Song vai trò đó chỉ có thể phát huy được khi họ có sự hiểu biết pháp lí và kinh nghiệm tham gia tố tụng Thông thường các luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là tốt nhất Ngoài luật sư, phải là những người có trình độ pháp lí nhất
định mới có thể tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự Những người không có trình độ pháp lí và kinh nghiệm tham gia tố tụng thì không thể bảo vệ tốt quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy
định đương sự có thể uỷ quyền hoặc nhờ luật sư hay người khác đại diện hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước tòa án là quá rộng Để bảo đảm việc tham gia tố tụng có hiệu quả của người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự pháp luật cần quy
định chỉ có luật sư hoặc người có trình độ pháp lí từ trung cấp luật trở lên thì đương sự
Trang 5Tạp chí luật học - 7
mới được uỷ quyền đại diện hoặc nhờ bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án
Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế xj hội của
nước ta hiện nay, nếu quy định chỉ có luật sư,
người có trình độ pháp lí từ trung cấp luật trở
lên đương sự mới được uỷ quyền đại diện bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án
thì không thực tế và sẽ hạn chế quyền tham
gia tố tụng của đương sự Vì vậy, ngoài những
người đó, cần quy định đương sự được ủy
quyền cho người thân đại diện tham gia tố
tụng Đồng thời pháp luật cũng phải quy định
thủ tục uỷ quyền cho người đại diện, thủ tục
nhờ người bảo vệ quyền lợi của đương sự để
tránh tranh chấp trong việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của người đại diện, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự
Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định đương
sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên được độc lập
tham gia tố tụng, được uỷ quyền cho người
khác thay mặt tham gia tố tụng Người chưa
đủ 18 tuổi, người mắc bệnh tâm thần, người bị
tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực
hành vi dân sự phải có người đại diện tham
gia tố tụng Khi cần thiết, tòa án có thể triệu
tập đương sự là người chưa đủ 18 tuổi đến
tham gia tố tụng cùng người đại diện Trong
mọi trường hợp, tòa án không được triệu tập
người mắc bệnh tâm thần đến tham gia tố
tụng Về vấn đề này cũng có quan điểm cho
rằng trong Bộ luật tố tụng dân sự mà chúng ta
đang tiến hành xây dựng cần có quy định
người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được độc
lập tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của họ trước tòa án Vì theo quy
định của Bộ luật lao động, người từ đủ 15 tuổi
có khả năng lao động có thể giao kết hợp
đồng lao động (Điều 6) và theo Bộ luật dân
sự, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ để thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự (Điều 22), nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình (Điều 611) Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy việc tham gia tố tụng dân sự của cá nhân khác với việc tham gia vào các quan hệ dân sự, lao động của cá nhân Khi tham gia tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ, dựa vào chứng cứ và pháp luật đưa ra lí lẽ để bảo
vệ quyền, lợi ích của mình Việc đó đòi hỏi
đương sự không những phải có đầy đủ lí trí để nhận thức, điều khiển hành vi của mình mà còn phải có sự hiểu biết về pháp luật nội dung
và pháp luật tố tụng Ngay cả người từ đủ 18 tuổi trở lên nếu không có sự hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng thì việc tham gia tố tụng của họ cũng không tránh khỏi những hạn chế Pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước còn quy định ở một số loại việc và một số cấp xét xử bắt buộc đương sự phải có luật sư đại diện
ở nước ta theo quy định của pháp luật, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể giao kết hợp đồng lao động, nếu có tài sản để thực hiện được nghĩa vụ dân sự thì được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự; khi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình nhưng không thể lấy đó là điều kiện để khẳng định họ có thể tự mình tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích trước tòa
án Vì vậy, không thể quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là người độc lập tham gia tố tụng mà chỉ nên quy định họ có quyền
Trang 6tham gia tố tụng nhưng bắt buộc phải có
người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi
cùng tham gia tố tụng
Bộ luật tố tụng dân sự phải quy định cụ
thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
những người tiến hành tố tụng dân sự Trong
pháp luật tố tụng dân sự hiện hành hầu như
không quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của những người tiến hành tố
tụng trong việc bảo đảm quyền bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự Điều đó dẫn
tới trên thực tế vừa khó áp dụng vừa không đề
cao được vai trò, trách nhiệm của những người
tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án
Trong trường hợp những người tiến hành tố
tụng cố ý thực hiện sai pháp luật cũng thiếu
căn cứ để xác định trách nhiệm của họ Hiện
nay, Điều 624 Bộ luật dân sự quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Để có thể áp dụng điều luật này trên thực tế,
đề cao trách nhiệm cá nhân của những người
tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án
thì việc quy định cụ thể quyền hạn, nhiệm vụ
và trách nhiệm của những người tiến hành tố
tụng dân sự lại càng cần thiết
Về thực hiện pháp luật, phải nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất
đạo đức của thẩm phán, luật sư
Hiện nay các vụ án xảy ra rất đa dạng,
phức tạp Người thẩm phán chỉ làm tròn được
nhiệm vụ của mình khi có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của
người cán bộ xét xử Vì vậy, phải tổ chức việc
đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ xét
xử cho thẩm phán Để khuyến khích việc thẩm phán học tập nâng cao trình độ, phải tổ chức việc thi chuyên môn, nghiệp vụ khi bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại thẩm phán và nâng ngạch thẩm phán
Ngoài ra, cũng phải củng cố và phát triển
đội ngũ luật sư Đội ngũ luật sư hiện nay phát triển chậm, chất lượng hạn chế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Trước mắt phải củng
cố đội ngũ luật sư hiện có, phát triển thêm các luật sư mới để đáp ứng nhu cầu của xj hội về hoạt động luật sư, nâng cao vai trò luật sư trong tố tụng dân sự Phải tổ chức việc đào tạo luật sư, bồi dưỡng kiến thức pháp lí và nghiệp
vụ cho luật sư Các luật sư hoạt động phải có hiệu quả, đúng pháp luật, bảo đảm luật pháp
được áp dụng công bằng và bất cứ vi phạm pháp luật nào cũng phải được xử lí và sửa chữa Mặt khác, cũng phải tăng cường công tác quản lí hoạt động nghiệp vụ của luật sư, thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất chính trị
và đạo đức nghề nghiệp cho luật sư, loại bỏ các luật sư phẩm chất chính trị, đạo đức kém
để thực hiện đường lối của Đảng là “Xây dựng
đội ngũ thẩm phán, thư kí tòa án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị đạo đức, chí công vô tư, có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo
đảm cho bộ máy trong sạch vững mạnh”(2)./
(1).Xem: “Từ điển tiếng Việt”, Nxb Đà Nẵng, tr.36 (2)Xem: “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII”