1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quyền phản tố và thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự

10 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 856,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TỐ TỤNG DÂN SỰ Đề bài “Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự” MỤC LỤC MỞ ĐẦU Trong các quyền con người được Hiến p.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN

TỐ TỤNG DÂN SỰ

Đề bài:

“Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn

trong tố tụng dân sự”

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Trong các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận thì quyền công dân có ý nghĩa rất quan trọng Theo đó, công dân được phép xử sự theo một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thoả mãn lợi ích của mình Quyền năng này được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách thức bảo vệ khác trong việc bảo vệ quyền dân sự, một trong những quyền đó

có quyền phản tố của bị đơn Quy định về yêu cầu phản tố của bị đơn tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền tố tụng của bị đơn, bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh, toàn diện các yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự. Do đó bài viết dưới đây

em xin phân tích về: “Quyền phản tố và thực hiện quyền phản tố của bị đơn

trong tố tụng dân sự.”

NỘI DUNG

Trang 2

• Quyền phản tố và thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự

Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình (tức là kiện ngược trở lại với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn), nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có yêu cầu chặt chẽ với nhau Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiện thành một vụ án dân sự mới Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi có việc nguyên đơn kiện bị đơn và Toà án có thẩm quyền thụ lý vụ việc đối với yêu cầu của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và có đơn yêu cầu toà án giải quyết những vấn đề có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn trong cùng một vụ án dân sự

Tức là, khi bị khởi kiện trong một vụ án dân sự, bị đơn có quyền đưa ra ý kiến hoặc yêu cầu phản tố Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều bị đơn đã bỏ qua yêu cầu phản tố của mình do không biết mình có quyền này đã được quy định cụ thể trong luật hoặc không hiểu rõ những quyền của mình trong tố tụng dân sự

“Phản tố” là một thuật ngữ pháp lý có gốc từ tiếng Hán nên thường gây khó hiểu cho người mới tiếp cận, nhưng cơ bản có thể được hiểu đây là một quyền của người “bị tố” – người bị kiện hay chính là bị đơn đưa ra những yêu cầu

“phản” lại với những “tố – yêu cầu của người khởi kiện”, “phản” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng có tính độc lập với yêu cầu khởi kiện nhưng sự đối lập không chỉ bao gồm việc loại trừ trực tiếp yêu cầu của nguyên đơn mà có thể theo hướng bù trừ nghĩa vụ được nêu trong yêu cầu của nguyên đơn Thoạt nghe thì thấy rằng yêu cầu phản tố này có sự tương đồng với việc đưa ra ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện do các yêu cầu này đều liên hệ mật thiết với yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, nhưng thực tế thì hai yêu cầu này lại hoàn toàn khác biệt về hệ quả pháp lý và mỗi bên trong vụ án đều phải hiểu rõ các quyền này để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

• Thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố.

So với quy định BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử BLTTDS năm 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ được chấp

nhận “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” (Khoản 3 Điều 200) Quy định này giúp

Trang 3

cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn của Tòa án được chủ động

và hợp lý hơn, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án

• Nội dung của yêu cầu phản tố.

Yêu cầu phản tố chỉ được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 200, Bộ luật TTDS 2015:

“a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

Ví dụ: “A có đơn khởi kiện yêu cầu B phải trả lại tiền thuê nhà còn nợ

của năm 2005 là năm triệu đồng Bị đơn B có yêu cầu đòi nguyên đơn A phải thanh toán cho mình tiền sửa chữa nhà bị hư hỏng và tiền thuế sử dụng đất mà bị đơn đã nộp thay cho nguyên đơn là ba triệu đồng Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn B được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A” Như vậy nghĩa vụ bù trừ ở đây là nghĩa vụ trả tiền cụ thể số tiền bên B nợ tiền thuê nhà của bên A có thể được bù trừ với số tiền bên B đã

bỏ ra sửa chữa căn nhà

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

Ví dụ: A có chiếc xe ô tô thuộc sở hữu riêng đã bán cho C, nhưng nói

với con (B là con của A) là cho C thuê mỗi tháng năm triệu đồng Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong một năm qua là sáu mươi triệu đồng C có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu xe ô tô và có tranh chấp Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của C, thì dẫn đến không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của B đòi C thanh toán tiền thuê xe ô tô.” Trường hợp này yêu cầu phản tố của C đã loại trừ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”.

Ví dụ: “Chị M khởi kiện yêu cầu anh N phải trợ cấp nuôi con P một

Trang 4

tháng ba trăm ngàn đồng Anh N có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án xác định P không phải là con của anh” Trường hợp này, yêu cầu của anh N không bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của chị M cũng không làm triệt tiêu yêu cầu của chị M Yêu cầu của chị M vẫn chính đáng nếu như P là con anh N, tuy nhiên việc giải quyết yêu cầu này sẽ dẫn tới kết luận cuối cùng về việc giải quyết yêu cầu của chị M

Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về điều khoản này, nên có thể dựa theo tinh thần Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP Trên thực tế, các yêu cầu của nguyên đơn có thể phức tạp hơn, và việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn cũng có thể trên nhiều phương diện, có thể thuộc đồng thời 3 trường hợp trên hoặc chỉ thuộc một trường hợp,… và việc chấp nhận yêu cầu phản tố một phần dựa trên quan điểm của thẩm phán giải quyết vụ việc

• Trình tự thủ tục phản tố.

Điều 202 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.” Theo tinh thần của điều luật, thủ tục yêu cầu

phản tố sẽ được thực hiện như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn quy định tại các Điều 189, 190, 191, 192 của BLTTDS năm 2015

Khi tiến hành khởi kiện tại tòa án, cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn khởi kiện để nộp cho tòa án có thẩm quyền Đây là quy định bắt buộc, mọi hình thức khởi kiện không có đơn khởi kiện đều không hợp lệ Khi phản tố, bị đơn phải ghi rõ nội dung cơ bản quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 Sau khi nhận được yêu cầu phản tố của bị đơn, tòa án phải xem xét yêu cầu của bị đơn, trước hết yêu cầu phản tố của bị đơn có thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 BLTTDS về các trường hợp yêu cầu phản tố được chấp nhận Nếu thỏa mãn, tòa án cần phải xem xét đến những điều kiện để thụ lý như vấn đề vầ thẩm quyền, tạm ứng án phí… tóa

án có thể trả lại đơn khởi kiện nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều

192 Nếu thấy yêu cầu phản tố thuộc thẩm quyền của tóa án, thì tòa án phải thông báo ngay cho người phản tố để họ đến tòa nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Sau khi đã thụ lý yêu cầu phản tố, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ohari thông báo cho nguyên đơn và những người liên quan biết đến việc tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn Nhưng người được thông báo phải nộp cho toàn án bản

Trang 5

ý kiến của mình đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và tại liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) theo quy định tại điều 170 và 200 BLTTDS 2015

Cần lưu ý trong trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn

để giải quyết trong cùng một vụ án thì ngày thụ lý vụ án để tính thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được xác định như sau:

Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lí vụ án là ngày tòa án nhận được đơn yêu cầu phản tố của bị đơn cùng các tài liệu, chứng

cứ kèm theo

Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lí vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho tòa biên lại nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố thì ngày thụ lí vụ án

được xác định như sau: thứ nhất, là ngày toàn án nhận được đơn yêu cầu

phản tố cuối cùng nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải

nộp tiền tạm ứng án phí Thứ hai, là ngày người nộp cuối cùng cho tòa biên

lai nộp tiền tạm ứng án phí

• Hậu quả pháp lý.

Trường hợp yêu cầu phản tố không được chấp nhận:

Khoản 6 Điều 72 BLTTDS quy định: “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ

án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”. Như vậy, trường hợp yêu cầu

phản tố của bị đơn không đử các điều kiện quy định và từ đó, không được Tòa án chấp thuận thì bị đơn có quyền khởi kiện một vụ án khác đối với yêu cầu phản tố của mình

Trường hợp yêu cầu phản tố được chấp nhận:

Trong trường hợp yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận thì yêu cầu này được Tòa án xem xét giải quyết như đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, tức bị đơn sẽ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình tương tự như nguyên đơn với yêu cầu khởi kiện, cụ thể như sau:

• Nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm Đồng thời, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn

Trang 6

được trình bày yêu cầu phản tố; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản

tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án

Trường hợp đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo khoản

2, Điều 217, Bộ luật TTDS 2015:

Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp

lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

• Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

• Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

• Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án

ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

Nếu bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt lần hai mà không có người đại diện tham gia phiên tòa sơ thẩm thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa

án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật theo điểm c Khoản 2 Điều

227 BLTTDS 2015

Trang 7

• Một số vướng mắc trên thực tiễn.

Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề yêu cầu phản tố và thực tiễn giải quyết các vụ án có yêu cầu phản tố hiện tại, thực tiễn

có một số vướng cụ thể như sau:

• Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất có phải là yêu cầu phản tố?

Khác với quy định trước đây, BLTTDS năm 2015 không quy định bắt buộc đương sự phải có đơn yêu cầu hủy quyết định cá biệt Mà BTTDS năm 2015 quy định tại khoản 2 Điều 34 như sau: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,

tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.” Tuy nhiên, nếu đương sự có yêu cầu Tòa án hủy quyết định cá biệt thì Tòa án cũng phải xem xét, giải quyết

Trong các vụ án có yêu cầu về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nhiều nhất là các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất Đó là trường hợp nguyên đơn là bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị đơn là bên đang trực tiếp sử dụng đất tranh chấp nên bị đơn yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn liên quan đến phần đất tranh chấp Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn trong trường hợp nêu trên thực tiễn hiện nay vẫn còn nhận thức khác nhau

Có quan điểm cho rằng yêu cầu này của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố nhưng cũng có quan điểm cho rằng yêu cầu này của bị đơn là yêu cầu phản tố Theo quan điểm cá nhân em, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là yêu cầu hủy quyết định cá biệt trong vụ án dân sự được quy định tại Điều 34 BLTTDS Theo quy định tại khoản 2 Điều

34 của BLTTDS thì: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự

Trang 8

mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.” Như vậy, khi có căn cứ cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rõ ràng trái pháp luật thì Tòa án có quyền quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó mà không phụ thuộc vào việc có đương sự yêu cầu hay không Bản chất của yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án dân sự là yêu cầu khiếu kiện hành chính nhưng sẽ được giải quyết trong cùng vụ án dân sự Nếu trong vụ án hành chính thì cơ quan ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người bị kiện thì trong vụ án dân sự cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Như vậy, chủ thể mà bị đơn hướng tới và “có tranh chấp” là cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn chứ không phải là nguyên đơn Và trong vụ án dân sự thì cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thường là UBND cấp huyện) không có yêu cầu độc lập gì nên không

thỏa mãn được điều kiện: “bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với …, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập” quy định tại

khoản 1 Điều 200 BLTTDS Mặt khác, khi giải quyết vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án bắt buộc phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn Qua đó mới có căn cứ quyết định chấp nhận hay không không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn

Do đó, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn trong trường hợp trên là không độc lập với yêu cầu của nguyên đơn Chính vì vậy

mà yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn không phải

là yêu cầu phản tố vì không thỏa mãn các điều kiện của yêu cầu phản tố

• Trường hợp, bị đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố sau khi Tòa án

mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hoặc tại phiên tòa thì giải quyết như thế nào?

Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được

quy định cụ thể trong BLTTDS năm 2015 nhưng có hướng dẫn tại mục 7 phần IV Văn bản số: 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án

nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ có giải đáp Cụ thể như sau:

• Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi

Trang 9

kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

• Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,

công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của

họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

Tuy nhiên, thời điểm thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn thì BLTTDS năm 2015 không quy định và hiện nay Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa có hướng dẫn hoặc giải đáp cụ thể Điều này dẫn đến sự lúng túng hoặc áp dụng pháp luật không thống nhất của các Thẩm phán Theo

em, mặc dù BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể về thời điểm thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng trong quá trình giải quyết vụ

án, Tòa án nên vận dụng và áp dụng pháp luật tương tự như hướng dẫn về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

• Sau khi Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án mới đưa thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án và người này có yêu cầu độc lập thì bị đơn có được quyền đưa ra yêu cầu phản tố?

Theo quy định tại Điều 210 của BLTTDS năm 2015 thì tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đương sự có quyền đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia

tố tụng trong vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án nếu Tòa án thấy cần thiết thì cũng có quyền đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án Như vậy, vấn đề đặt ra là sau khi Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án mới đưa thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án và người này có yêu cầu độc lập thì bị đơn có được quyền đưa ra yêu cầu phản tố không Về nguyên tắc, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải thì bị đơn không

có quyền đưa ra yêu cầu phản tố Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, trong trường hợp nêu trên thì bị đơn vẫn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với

Trang 10

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Để việc áp dụng pháp luật về yêu cầu phản tố trong vụ án dân sự nói chung được thống nhất trong thực tiễn, thì cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn hoặc giải đáp cụ thể các vướng mắc nêu trên Nhất là cần giải đáp hoặc hướng dẫn một số trường hợp cụ thể về yêu cầu phản tố và thời điểm bị đơn

có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố

KẾT LUẬN

Trên đây là quan điểm các nhân em về quyền phản tố và thực hiện quyền phản

tố của bị đơn trong tố tụng dân sự Do trình độ hạn chế nên bài làm không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được thầy cô chỉ bảo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb.

CAND, Hà Nội, 2017;

• Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

• Nghị quyết số 05/2012/NQ – HĐTP, Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của

Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

• Giải đáp số 01/2017/GĐ – TANDTC, Giải đáp về một số nghiệp vụ.

• Dương Tấn Thanh-TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh về Yêu cầu phản

tố theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và vướng mắc trong thực tiễn

• https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2485

• https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-phan-to-cua-bi-don-trong-to-tung-dan-su

Ngày đăng: 14/09/2022, 17:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w