1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề miễn trừ quốc gia

14 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 825,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề tài Đánh giá các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề miễn trừ quốc gia Hà Nội, 2020 MỤC.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Đề tài:

Đánh giá các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành

về vấn đề miễn trừ quốc gia

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Khi nền kinh tế toàn cầu phát triển, quốc gia ngày càng tham gia nhiều vào các quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là các hợp đồng dân sự, kinh doanh, thương mại, với các cá nhân, pháp nhân nước ngoài Tuy nhiên trong quan hệ tư pháp quốc tế thì quốc gia là một chủ thể vô cùng đặc biệt bởi các quốc gia có chủ quyền, tự quyền quyết định các vấn đề của quốc gia, và được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Nhưng như vậy phần nào tạo nên sự bất bình đẳng trong các giao dịch, hợp đồng Vì vậy ngày nay càng ngày càng nhiều quốc gia đã chấp nhận từ

bỏ quyền miễn trừ khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, và Việt Nam cũng như

vậy Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài “Đánh giá các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề miễn trừ quốc gia” làm đề

bài bài tập của mình

Trang 3

NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận chung về quyền miễn trừ quốc gia

1 Tính chất đặc biệt của quốc gia khi tham gia quan hệ quốc tế

Trong tư pháp quốc tế, quốc gia cũng tham gia vào các quan hệ quốc tế trong một số trường hợp như tham gia quan hệ tài chính quốc tế (phát hành trái phiếu quốc tế tại nước ngoài ), tham gia vào các quan hệ hợp đồng (kí các hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư, ký hợp đồng mua sắm chính phủ với công ty nước ngoài, ), tham gia vào quan hệ thừa kế (thừa kế di sản của công dân Việt Nam ở nước ngoài khi không có người thừa kế, ),

Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói riêng thì quốc gia vẫn giữ chủ quyền quốc gia và có toàn quyền quyết định các vấn đề lập pháp, hành pháp, tư pháp, các vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia mình Hơn nữa, khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, các quốc gia đều bình đẳng với nhau về mặt chủ quyền, do

đó các nước không có quyền xét xử lẫn nhau tại tòa án của nước mình trong trường hợp xảy ra tranh chấp mà chỉ có thể giải quyết tranh chấp thông qua con đường đàm phán, thương lượng, hòa giải theo các nguyên tắc của luật quốc tế Theo nguyên tắc miễn trừ quốc gia, quốc gia có quyền miễn trừ khi tham gia quan hệ quốc tế Cụ thể, quốc gia không bị đem ra xét xử tại tòa án; không bị áp dụng các biện pháp bảo đảm sơ bộ; không bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án; tài sản quốc gia là bất khả xâm phạm Đến hiện nay vẫn có hai quan điểm về miễn trừ quốc gia, chính là học thuyết miễn trừ tuyệt đối và miễn trừ tương đối

Trang 4

2 Nguyên tắc miễn trừ của quốc gia

Quyền miễn trừ của quốc gia được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia là: trong quan hệ tư pháp quốc tế, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không một cơ quan nào được phép xét xử, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo cho vụ kiện , thi hành án đối với quốc gia cũng như áp dụng các biện pháp như tịch thu, sai áp, bắt giữ, các tài sản thuộc sở hữu quốc gia

Nguyên tắc quyền miễn trừ quốc gia đảm bảo cho các quốc gia khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp và miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu quốc gia Nguyên tắc này cũng giống như nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau xuất phát từ nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại, đó là bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Ngày nay, khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, nhiều quốc gia đã chuyển

từ quyền miễn trừ tuyệt đối sang quyền miễn trừ tương đối Theo đó, trong một

số trường hợp khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ quốc gia

3 Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia

Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên

1963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách

cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc về quyền miễn trừ tài phán

và miễn trừ tài sản của quốc gia

Trang 5

Theo điểm b, khoản 1, Điều 2 Công ước Liên hiệp quốc thì “quốc gia” bao gồm:

- Quốc gia và các cơ quan của chính phủ

- Các đơn vị hợp thành của một quốc gia liên bang hoặc các đặc khu chính trị của quốc gia để thực hiện chủ quyền quốc gia

- Các cơ quan của quốc gia hay chủ thể khác có quyền tiến hành hoặc đang tiến hành các hoạt động thực tế để thực hiện chủ quyền quốc gia

- Các cơ quan đại diện cho quốc gia

Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia theo Công ước Liên hiệp quốc bao gồm:

Đầu tiên, quyền miễn trừ xét xử và miễn trừ về tài sản Một trong các nội

dung quan trọng của quyền miễn trừ quốc gia là quyền miễn trừ xét xử Điều 5

Công ước đã quy định: “Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ xét xử đối với hoạt động của quốc gia cũng như tài sản của quốc gia tại tòa án của quốc gia khác” Tương tự, điều 6 Công ước cũng khẳng định “Quốc gia cam kết không thực hiện quyền tài phán tại tòa án quốc gia mình để chống lại quốc gia khác”.

Theo giải thích tại điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước, “tòa án” được hiểu là bất

kỳ cơ quan nào của nhà nước có chức năng xét xử mà không phụ thuộc vào tên gọi của quốc gia đó

Quyền miễn trừ xét xử của quốc gia gắn liền với quyền miễn trừ với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia Theo đó, tài sản của quốc gia do tự quốc gia đó định đoạt, không một chủ thể nào được chiếm đoạt hay xâm phạm tài sản của quốc gia bằng bất cứ hình thức nào Tài sản của quốc gia không thể bị bắt giữ, tịch thu khi không có sự đồng ý của quốc gia Các quốc gia là thành viên của công ước phải đảm bảo quyền miễn trừ xét xử và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác

Trang 6

Thứ hai, quyền miễn trừ về áp dụng các biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ

kiện liên quan đến quốc gia Trong khi giải quyết một tranh chấp dân sự tại tòa

án, để giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, khách quan, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên thì tòa án thường áp dụng một số biện pháp như kê biên, tịch thu tài sản đang tranh chấp, cấm hoặc buộc các đương sự thực hiện một số hành vi như cấm đi khỏi nơi cư trú, không được thực hiện hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định, Đây chính là những biện pháp đảm bảo sơ

bộ cho vụ kiện, tránh trường hợp tẩu tán tài sản, trốn khỏi nơi cư trú

Quyền miễn trừ áp dụng biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia tức là không một cơ quan tư pháp nào được phép áo dụng các biện pháp nói trên (như kê biên, tịch thu tài sản của quốc gia ) trừ trường hợp quốc gia ấy cho phép

Thứ ba, quyền miễn trừ về thi hành án Quyền miễn trừ về thi hành án của

một quốc gia được hiểu là quốc gia được quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định của tòa án Trong Công ước của Liên hợp quốc

về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia thì cũng có những trường hợp quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ Điều này được quy định

tại Điều 10 của Công ước “ Nếu quốc gia tham gia giao dịch thương mại với một

cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế, thuộc thẩm quyền của tòa án quốc gia khác, thì quốc gia không được viện dẫn quyền miễn trừ đối với những tranh chấp phát sinh từ giao dịch đó ”

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp, quốc gia đều được sử dụng quyền miễn trừ Để thúc đẩy sự phát triển của giao lưu quốc tế, đảm bảo sự bình đẳng, bảo đảm quyền, lợi ích của các đương sự khi tham gia vào quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ tư pháp quốc tế nói riêng, rất nhiều hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới đã quy định những trường hợp quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Điều 10 Công ước Liên hiệp quốc về quyền miễn trừ tài

Trang 7

phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định : “Nếu quốc gia tham gia giao dịch thương mại với một cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế, thuộc thẩm quyền tòa án của một quốc gia khác, thì quốc gia không được viện dẫn quyền miễn trừ với các vụ kiện phát sinh từ từ các giao dịch đó ”

II Quy định của pháp luật Việt Nam về miễn trừ quốc gia

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có văn bản pháp luật riêng quy định về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước ngoài, tuy nhiên nguyên tắc chung vẫn được ghi nhận trong Khoản 4, Điều 2, Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam như

sau “Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền

ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao” Quy định này cho thấy Việt Nam

tôn trọng quyền miễn trừ của quốc gia nước ngoài, đồng thời quyền miễn trừ của nhân viên ngoại giao, nhân viên lãnh sự cũng được thực hiện theo các quy định của Công ước Vienna 1961, Công ước Vienna 1963 bởi Việt Nam là thành viên của hai công ước này

1 Tư cách pháp lý của nhà nước khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế

Về tư cách pháp lý của Nhà nước Việt Nam trong các quan hệ tư pháp

quốc tế mà Nhà nước tham gia Điều 97 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở

Trang 8

địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 99 và Điều 100 của Bộ luật này”

2 Trách nhiệm dân sự của nhà nước trong tư pháp quốc tế

Về trách nhiệm dân sự của nhà nước khi tham gia các quan hệ dân sự,

Điều 99 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu

và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho pháp nhân ”(Khoản 1) Như vậy, quyền miễn trừ tài sản của nhà nước chỉ đặt ra đối với tài sản do nhà nước là chủ sở hữu và quản lý trực tiếp Đó chính là “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” được quy định tại Điều 197 Bộ luật Dân sự Theo Nghị định số

23/2010/NĐ-CP ngày 12/3/2010 của Chính phủ về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, tài sản thuộc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam ở nước ngoài bao gồm: Tài sản là đất đai, trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện, trao đổi theo hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước sở tại; bất động sản thuê theo hiệp định, hoặc do cơ quan đại diện, cơ quan khác ký hợp đồng thuê là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà nước Việt Nam trong thời gian hiệp định hay hợp đồng có hiệu lực Ngoài ra tài sản của Nhà nước còn bao gồm các tài sản mà Nhà nước Việt Nam được thừa kế ở nước ngoài, tài sản mà Nhà nước Việt Nam được tài trợ, viện trợ, được tặng cho từ các chính phủ nước ngoài, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức, cá nhân khác

Trang 9

Các pháp nhân do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước, cơ quan nhà nước trung ương hay cơ quan nhà nước địa phương Và ngược lại, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương cũng không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập ra, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân này theo quy đinh của pháp luật Điều này được quy định tại khoản 2, Điều 99, Bộ luật Dân sự 2015

“Pháp nhân do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương” và khoản 3, Điều 99, Bộ luật Dân sự 2015 “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật” Những quy định này đã phân định rõ ràng về trách

nhiệm dân sự của nhà nước với trách nhiệm của các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ dân sự, tạo ra sự yên tâm, chủ động cho các chủ thể khi xác lập các giao dịch dân sự đối với nhà nước, đồng thời góp phần huy động việc đầu tư của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là cá nhân, pháp nhân nước vào vào Việt Nam

Quyền miễn trừ tài sản của nhà nước không đặt ra đối với tài sản của các

Trang 10

tham gia các giao dịch dân sự với các chủ thể nước ngoài bên cạnh việc phải năm vững các quy định của pháp luật trong nước còn phải nắm vững các quy định và thông lệ quốc tế để bảo vệ quyền lợi của chính doanh nghiệp mình Thực

tế hiện nay cho thấy, khi các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả doanh nghiệp nhà nước) tham gia vào các giao dịch dân sự theo nghĩa rộng với các chủ thể nước ngoài, nếu vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết thì các chủ thể nước ngoài đều có thể khởi kiện các doanh nghiệp đó ra tòa án nước ngoài và áp dụng các biện pháp bắt giữ, tịch thu tài sản của doanh nghiệp Việt Nam để tại nước ngoài để đảm bảo cho vụ kiện

3 Những trường hợp nhà nước không được hưởng quyền miễn trừ

Khoản 1, Điều 100, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định những trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài như sau:

“a) Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ” Luật quốc tế và luật quốc gia hầu

hết đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia vào mối quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài Khi tham gia vào quan hệ tư Pháp quốc tế, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ, tuy nhiên, nếu điều ước quốc tế có quy định về việc

từ bỏ quyền miễn trừ thì quốc gia là thành viễn phải tuân theo quy định đó

“b) Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ”.

Khác với trường hợp trên, quyền miễn trừ của quốc gia quy định trong các Điều ước quốc tế, thì việc từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong trường hợp này xuất phát từ sự thỏa thuận, thống nhất của các bên trong quan hệ Đặc trưng của quan

hệ dân sự là sự tự do ý chí nên nhà nước, cơ quan nhà nước Việt Nam trong quan

Ngày đăng: 14/09/2022, 12:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w