BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI CỦA LUẬT QUỐC TẾ Đề tài Các học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia, sự hình thành và phát triển Hà Nội, 2020 MỤC LỤC LỜI MỞ.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI CỦA LUẬT QUỐC TẾ
Đề tài:
Các học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia,
sự hình thành và phát triển
Hà Nội, 2020
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I Một số vấn đề lý luận về quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế .3
1 Quốc gia – chủ thể đặc biệt của luật quốc tế 3
2 Khái niệm quyền miễn trừ của quốc gia 4
3 Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia 4
II Lịch sử hình thành và phát triển của các học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia 6
1 Học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối 6
2 Học thuyết quyền miễn trừ tương đối 9
KẾT LUẬN 13
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong tư pháp quốc tế, quốc gia là một chủ thể vô cùng đặc biệt, bởi mỗi quốc gia đều có chủ quyền, có quyền quyết định với mọi vấn đề của quốc gia mình nên có quyền được miễn trừ tư pháp, không thể bị xét xử bởi tòa án của quốc gia khác cũng không thể bị cưỡng chế để thi hành một phán quyết của tòa
án quốc gia khác Tuy nhiên liệu có phải trong mọi trường hợp khi quốc gia tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế đều được hưởng quyền miễn trừ hay không? Để
tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài “Các học thuyết về quyền
miễn trừ của quốc gia, sự hình thành và phát triển” để làm đề tài bài tập của
mình
NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận về quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế
1 Quốc gia – chủ thể đặc biệt của luật quốc tế
Trong tư pháp quốc tế, quốc gia cũng tham gia vào các quan hệ quốc tế trong một số trường hợp như phát hành trái phiếu quốc tế tại nước ngoài, kí các hợp đồng đầu tư, thừa kế di sản của công dân Việt Nam ở nước ngoài khi không
có người thừa kế,
Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói riêng thì quốc gia vẫn giữ chủ quyền quốc gia và có toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia mình Hơn nữa, khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, các quốc gia cho dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng với nhau về chủ quyền, dẫn đến việc các quốc gia
Trang 4không có quyền xét xử lẫn nhau khi có tranh chấp mà chỉ có thể giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng và hòa giải Trong một số trường hợp, quốc gia có quyền miễn trừ khi tham gia quan hệ quốc tế
2 Khái niệm quyền miễn trừ của quốc gia
Quyền miễn trừ của quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia là trong quan hệ tư pháp quốc tế, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không một cơ quan nào được phép xét xử, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo cho vụ kiện , thi hành
án đối với quốc gia cũng như áp dụng các biện pháp như tịch thu, sai áp, bắt giữ, các tài sản thuộc sở hữu quốc gia
Nguyên tắc quyền miễn trừ quốc gia đảm bảo cho các quốc gia khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp và miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu quốc gia Nguyên tắc này cũng giống như nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau xuất phát từ nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại, đó là bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
Ngày nay, khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, nhiều quốc gia đã chuyển
từ quyền miễn trừ tuyệt đối sang quyền miễn trừ tương đối Theo đó, trong một
số trường hợp khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế, quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ quốc gia
3 Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia
Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên
Trang 51963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách
cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia Nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia theo Công ước Liên hiệp quốc bao gồm:
Thứ nhất, quyền miễn trừ xét xử và miễn trừ về tài sản Một trong các nội
dung quan trọng của quyền miễn trừ quốc gia là quyền miễn trừ xét xử Điều 5
Công ước đã quy định: “Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ xét xử đối với
hoạt động của quốc gia cũng như tài sản của quốc gia tại tòa án của quốc gia khác” Tương tự, điều 6 Công ước cũng khẳng định “Quốc gia cam kết không thực hiện quyền tài phán tại tòa án quốc gia mình để chống lại quốc gia khác”.
Theo giải thích tại điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước, “tòa án” được hiểu là bất
kỳ cơ quan nào của nhà nước có chức năng xét xử mà không phụ thuộc vào tên gọi của quốc gia đó
Quyền miễn trừ xét xử của quốc gia gắn liền với quyền miễn trừ với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia Theo đó, tài sản của quốc gia do tự quốc gia đó định đoạt, không một chủ thể nào được chiếm đoạt hay xâm phạm tài sản của quốc gia bằng bất cứ hình thức nào Tài sản của quốc gia không thể bị bắt giữ, tịch thu khi không có sự đồng ý của quốc gia Các quốc gia là thành viên của công ước phải đảm bảo quyền miễn trừ xét xử và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác
Thứ hai, quyền miễn trừ về áp dụng các biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ
kiện liên quan đến quốc gia
Trong khi giải quyết một tranh chấp dân sự tại tòa án, để giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, khách quan, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên thì tòa án thường áp dụng một số biện pháp như kê biên, tịch thu tài sản đang tranh chấp, cấm hoặc buộc các đương sự thực hiện một số hành vi như cấm
đi khỏi nơi cư trú, không được thực hiện hoạt động kinh doanh trong một thời
Trang 6gian nhất định, Đây chính là những biện pháp đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện, tránh trường hợp tẩu tán tài sản, trốn khỏi nơi cư trú
Quyền miễn trừ áp dụng biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia tức là không một cơ quan tư pháp nào được phép áo dụng các biện pháp nói trên (như kê biên, tịch thu tài sản của quốc gia ) trừ trường hợp quốc gia ấy cho phép
Thứ ba, quyền miễn trừ về thi hành án Quyền miễn trừ về thi hành án của
một quốc gia được hiểu là quốc gia được quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định của tòa án
Trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia thì cũng có những trường hợp quốc gia không được
hưởng quyền miễn trừ Điều này được quy định tại Điều 10 của Công ước “ Nếu
quốc gia tham gia giao dịch thương mại với một cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế, thuộc thẩm quyền của tòa án quốc gia khác, thì quốc gia không được viện dẫn quyền miễn trừ đối với những tranh chấp phát sinh từ giao dịch đó ”
II Lịch sử hình thành và phát triển của các học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia
Hiện nay có hai học thuyết về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế, chính là học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối và học thuyết quyền miễn trừ tương đối (hay còn gọi là quyền miễn trừ chức năng)
1 Học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối
Theo quan điểm học thuyết này, quốc gia phải được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ hoàn cảnh nào Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền
Trang 7vượt lên trên chủ quyền quốc gia Thậm chí quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu hay với tư cách cá nhân Khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia các mối quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong bất kỳ trường hợp nào mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế
Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia trong quan hệ quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi từ lâu như một tập quán quốc tế Từ thế kỷ XVII, thuyết miễn trừ tuyệt đối đã được áp dụng phổ biến ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Một trong những thực tiễn xét xử đầu tiên về học thuyết miễn trừ tuyệt đối của quốc gia khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế là vụ kiện The Schooner Exchange vs McFaddon được tòa án Hoa Kỳ xét xử vào năm 1812 Tháng 8 năm
1811, một chiếc tàu hải quân Pháp đã ghé vào thành phố Philadelphia (tiểu bang Pennsylvania, Mỹ) để tránh thời tiết xấu, hai công dân Mỹ là John McFaddon và đồng sự của anh là Greetham đã nộp đơn kiện lên tòa án địa phương (tòa án Pennsylvania), yêu cầu tòa án cho họ được sở hữu lại con tàu đó vì đây chính là con tàu của họ mà đã bị Pháp tịch thu vào năm 1810 Tòa án Pennsylvania đã bác đơn kiện của hai người Tuy nhiên tòa án lưu động của liên bang lại ra quyết định trái với quyết định của tòa án Pennsylvania và kháng cáo lên tòa tối cao Thẩm phán tòa án tối cao khi đó là ông Marshall đã cho rằng tòa án cần phải từ chối thụ lý vụ việc vì con tàu này là tài sản quốc gia nên được hưởng quyền miễn
trừ quốc gia Thẩm phán Marshall cho rằng “Nếu các tình tiết của vụ việc được
đưa ra là chính xác, tàu Exchange là tàu quân sự thuộc sở hữu của nhà nước đang thực hiện chủ quyền của quốc gia nước ngoài có quan hệ hữu hảo với Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và( )đang ở trong lãnh thổ của Hoa Kỳ ( )
sẽ được hưởng quyền miễn trừ tài phán” Tòa án Hoa Kỳ là tòa án đầu tiên thể
Trang 8hiện các quan điểm và đưa ra giải thích rõ ràng cho khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia
Có thể nói, học thuyết miễn trừ tuyệt đối là một cơ sở lý luận vững chắc
và cũng là nền tảng đầu tiên của pháp luật về quyền miễn trừ quốc gia nói chung
và quyền miễn trừ tư pháp quốc gia nói riêng Với sự ra đời của học thuyết, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và quyền bình đẳng của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ quốc tế đã được bảo đảm tuyệt đối Nó bảo đảm các quốc gia có
vị trí ngang nhau trong quan hệ quốc tế, góp phần tạo nên một trật tự ổn định trong quan hệ quốc tế Học thuyết này đã được vận dụng khi giải quyết các vụ kiện khác mà một bên đương sự là quốc gia như vụ kiện Parlement Belge (1880),
vụ kiện Porto Alexandre (1920), vụ kiện Cristiana (1938), vụ kiện Pesaro (1926), Tòa án Anh và Hoa Kỳ đều thể hiện quan điểm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia là tuyệt đối và không phân biệt giữa hành vi mang tính chất thương mại hay tính chất chủ quyền quốc gia của quốc gia nước ngoài Chẳng hạn, trong
vụ việc Berizzi Bros Co v The Pesaro (1926), tòa án tối cao Hoa Kỳ đã cho một
con tàu thương mại thuộc sở hữu của chính phủ Italia quyền miễn trừ vì “tất cả
các con tàu thuộc sở hữu và được sử dụng bởi chính phủ một nước ( ) vì mục đích thúc đẩy thương mại của công dân nước đó hoặc phát triển kinh tế ( ) đều
là các con tàu thuộc sở hữu công tương tự như tàu quân sự” Phán quyết của tòa
phúc thẩm Anh trong vụ Parlment Belge (1880) cũng khẳng định “sự độc lập
tuyệt đối của các quốc gia có chủ quyền và sự thân thiện quốc tế nên mỗi quốc gia đều phải từ chối thực hiện thẩm quyền tài phán của quốc gia thông qua tòa
án của nước mình, bất kỳ thẩm quyền tài phán theo lãnh thổ nào ”
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, tòa án của nhiều quốc gia ở châu
Âu cũng áp dụng học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia khi giải quyết các vụ kiện liên quan đến một bên đương sự là một quốc gia Giữa thế kỷ XX, phần lớn các quốc gia vẫn thừa nhận quyền miễn trừ tuyệt đối cho các quốc gia
Trang 9nước ngoài Tuy nhiên, từ sau cách mạng tháng 10 Nga, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, với sự xuất hiện của một loạt quốc gia theo chế độ Xã hội chủ nghĩa, một mô hình kinh tế mới ra đời mà ở đó quốc gia trực tiếp tham gia vào quan hệ kinh tế với tư cách là một bên chủ thể, các công ty quốc gia nắm độc quyền kinh doanh trong nền kinh tế thì một vấn đề mới đặt ra là liệu các công ty nhà nước này có được hưởng quyền miễn trừ của quốc gia sở hữu nó hay không khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại với chủ thể nước ngoài Chính thực tiễn này đã dẫn đến sự xuất hiện của Thuyết quyền miễn trừ tương đối hay còn gọi là quyền miễn trừ chức năng
2 Học thuyết quyền miễn trừ tương đối
Trong bối cảnh của quá trình công nghiệp hóa diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, quốc gia ngày càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động thương mại, đặc biệt
là thông qua mô hình doanh nghiệp nhà nước của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa Do các quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối khi tham gia vào tất cả các quan hệ thuộc lĩnh vực dân sự, vì vậy các doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà nước cũng được hưởng những quyền miễn trừ này Chính điều này đã làm cho nhà nước cũng như các doanh nghiệp nhà nước có vị thế đặc biệt, được hưởng một số đặc quyền so với các doanh nghiệp tư nhân khi tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, có yếu tố nước ngoài Chính điều này đã tạo ra sự bất bình đẳng trong các quan hệ dân sự, thương mại, khiến các cá nhân, pháp nhân tư nhân lo ngại khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài mà bên còn lại là các quốc gia hoặc là các doanh nghiệp nhà nước
Nhằm hạn chế sự bất bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động mang tính chất thương mại, dân sự thuần túy, các học giả, nhà nghiên cứu tại các nước tư bản chủ nghĩa đã khởi xướng học thuyết quyền miễn trừ tương
Trang 10đối của quốc gia khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, học thuyết miễn trừ tương đối đầu tiên xuất hiện tại các nước châu
Âu lục địa vào những năm đầu của thế kỷ XX, trong đó Bỉ, Italy và Hy Lạp là những quốc gia đầu tiên ghi nhận học thuyết này Những quan điểm đầu tiên về quyền miễn trừ tương đối đã được nêu tại tòa phúc thẩm của Bỉ năm 1840 nhưng khi đó, quan điểm này đã không nhận được sự chấp thuận của Tòa án Đến năm
1903, trong vụ kiện Societe Anonyme de Chemins de Fer Liegeois Luxembourgeois v The Netherlands, tòa án của Bỉ đã đưa ra quan điểm về quyền miễn trừ tương đối, theo đó, Hà Lan có thể bị kiện đối với việc chậm thanh toán theo hợp đồng có liên quan đến việc mở rộng đường sắt tại Eindhoven Bình luận về vụ việc này, tòa án tối cao của Áo đã phân tích học
thuyết miễn trừ tương đối như sau “Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước
ngoài chỉ được viện dẫn nếu chủ quyền quốc gia đó bị ảnh hưởng bởi việc xét xử đó; đó là các vụ kiện có liên quan đến các hoạt động thuộc đời sống chính trị của một quốc gia Trong trường hợp quốc gia ( ) không chỉ giới hạn trong vai trò chính trị mà còn chiếm hữu và sở hữu tài sản, giao kết các hợp đồng và thậm chí giao kết các hợp đồng thương mại, quốc gia đó không còn là chủ thể có quyền lực tối cao, mà chỉ thực hiện các hoạt động mà các cá nhân có thể thực hiện ”
Trên thực tế, theo một số nhà nghiên cứu phương Tây, không phải chỉ đến nửa đầu thế kỷ XX mới quan hiện quan điểm về quyền miễn trừ tương đối mà ngay trong phán quyết vụ kiện The Schooner Exchange v McFaddon – vụ kiện điển hình cho học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước cũng đã xuất hiện mầm mống của thuyết miễn trừ tương đối Cụ thể, trong phán quyết của thẩm phán Marshall, ông đã chú ý đến việc phân biệt giữa một tàu quân sự phục
vụ cho mục đích công (tàu Schooner Exchange) với những chiếc tàu thương mại phục vụ mục đích tư nhân