Để đánh giá khả năng dịch chuyển đường AD do thị trường điều khiển hay do chính phủ can thiệp, ta phải khảo sát kĩ hơn bốn bộ phận cấu thành tổng cầu: Tiêu dùng ©, đầu tư T, chi mua hàng
Trang 1THÀNH VIÊN NHÓM 4
LAI NGỌC THẢO
TRẦN THỊ QUỲNH NHƯ
LÊ HIẾU NHÂN
NGUYỄN THỊ THẢO LY
NGUYỄN QUANG HUY
LÊ HOÀI PHONG
NGUYỄN THỊ HỒNG PHÚC
TRẦN THẢO UYÊN
CHƯƠNG 4 CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 4.1 TỔNG CHI TIÊU
Trong chương trình đầu tiên chúng ta đã có một cái nhìn tổng quan về việc cân bằng vĩ mô được thiết lập như thế nào Tại điểm cân bằng thị trường, sản lượng có thể thấp hơn mục tiêu đầy đủ việc làm Điều này sẽ chấm dứt nếu đường tổng cầu dịch chuyển sang phải Tuy vậy,, Keynes nói đường AD do thị trường điều khiển có thể không dịch chuyển khi cần thiết như thế nền kinh tế sẽ sa lầy vào khủng hoảng Để ra khỏi tình trạng suy thoái, chính phủ phải can thiệp và dịch chuyển đường AD về bên phải
Để đánh giá khả năng dịch chuyển đường AD do thị trường điều khiển hay do chính phủ can thiệp, ta phải khảo sát kĩ hơn bốn bộ phận cấu thành tổng cầu: Tiêu dùng ©, đầu tư (T), chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (X-M)
4.1.1 Tiêu dùng hộ gia đình
Tiêu dùng là chi tiêu của người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ cuối dùng
Các quyết định tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau bao gồm thu nhập, lãi suất, giá cả, của cải, sự mong đợi (kỳ vọng) Chi tiêu cho tiêu dùng có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với mức thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập khả dụng là thu nhập mà người tiêu dùng thật sự được quyền sử dụng Đây là phần còn lại của thu nhập cá nhân sau khi trừ thuế cá nhân Thu nhập khả dụng
là lượng thu nhập mà NTD thực sự có thể chọn lựa giữa việc chi tiêu hay không chi tiêu (tiết kiệm) trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 2Thu nhập khả dụng(Yd)= Tiêu dùng © + Tiết kiệm (S) Tiêu dùng hay tiết kiệm
Phần của tổng thu nhập khả dụng được chi cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định được gọi là khuynh hướng (thiên hướng) tiêu dùng trung bình Khuynh hướng tiêu dùng trung bình (APC - Average Propensity to Consume) phản ánh tỷ trọng của tiêu dùng trong thu nhập khả dụng Cũng có thể hiểu đó là mức tiêu dùng trong một đơn vị thu nhập khả dụng Ta có thể tính APC như sau:
APC = Tổng tiêu dùng/Tổng thu nhập khả dụng = C/Yd
Vì thu nhập khả dụng bằng tiêu dùng cộng tiết kiệm nên ta có công thức tính khuynh hướng tiết kiệm trung bình (APS) như sau:
APS = Tổng tiết kiệm/Tổng thu nhập khả dụng = S/Yd
Khuynh hướng tiêu dùng trung bình, APC (Average Propensity to Consume) phản ánh tỷ trọng của tiêu dùng trong thu nhập khả dụng
APC + APS = 1
Khuynh hướng tiết kiệm biên, MPS (Marginal Propensity to Saving) phản ánh lượng thay đổi của tiết kiệm khi thu nhập khả dụng thay đổi một đơn vị
MPC = Thay đổi trong tiêu dùng/Thay đổi trong thu nhập khả dụng =
deltaC/deltaYd
Khuynh hướng tiết kiệm trung bình, APS (Average Propensity to Saving) phản ánh tỷ trọng của tiết kiệm trong thu nhập khả dụng
MPS = Thay đổi tiết kiệm/Thay đổi trong thu nhập khả dụng = deltaS/deltaYd
= 1 - MPC Hàm tiêu dùng
Phần của tổng thu nhập khả dụng được chi cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định được gọi là khuynh hướng (thiên hướng) tiêu dùng trung bình Khuynh hướng tiêu dùng trung bình (APC - Average Propensity to Consume) phản ánh tỷ trọng của tiêu dùng trong thu nhập khả dụng Cũng có thể hiểu đó là mức tiêu dùng trong một đơn vị thu nhập khả dụng Ta có thể tính APC như sau:
Trang 3MPC và MPS cho chúng ta biết người tiêu dùng sẽ phản ứng như thế nào đối với những thay đổi trong thu nhập Điều này rất có giá trị trong việc dự đoán tổng cầu
có dịch chuyển hay không và khi nào thì dịch chuyển Để có thể dự đoán được, chúng ta phải miêu tả cụ thể hơn về hành vi tiêu dùng Theo Keynes, tiêu dùng không hoàn toàn được xác định bởi thu nhập hiện thời Những người không có thu nhập trong một giai đoạn nhất định vẫn phải mua hàng hóa và dịch vụ Chúng ta cũng thấy rằng việc chi tiêu của mọi người cũng thay đổi ngay cả khi thu nhập không thay đổi Điều này có nghĩa là thu nhập không phải là yếu tố quyết định duy nhất của tiêu dùng Nhũng nhân tố quyết định ngoài thu nhập của tiêu dùng gồm có:
Của cải
Những kỳ vọng (dự đoán)
Tuổi tác
Tín dụng
Keynes đã xác định hai loại chi tiêu tiêu dùng: tiêu dùng không bị ảnh hưởng bởi thu nhập hiện thời và tiêu dùng do thu nhập hiện thời quyết định Như vậy:
Tổng tiêu dùng = Tiêu dùng tự định + Tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập Những nhân tố quyết định tiêu dùng khác nhau này được tóm tắt bằng một phương trình gọi là hàm tiêu dùng như sau:
C = C0 + MPC Yd Trong đó: C là tiêu dùng hiện thời
Trong đó : C0 là tiêu dùng tự định
MPC là khuynh hướng tiêu dùng biên
Yd là thu nhập khả dụng
Hàm tiêu dùng này đưa ra một căn cứ cho việc dự đoán những thay đổi trong thu nhập khả dụng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chi tiêu tiêu dùng và các yếu tố ngoài thu nhập ảnh hưởng như thế nào đến tiêu dùng
Dựa vào đẳng thức Yd = C + S ta suy ra hàm tiết kiệm:
S = - C0} + (1 - MPC) * Yd
(Phần đồ thị các bạn mở sách trang 116 đọc thêm nha )
Chuyển dịch của hàm tiêu dùng
Trang 4Mặc dù hàm tiêu dùng là một công cụ tiện lợi để dự đoán hành vi tiêu dùng nhưng qui mô của nó cũng có thể thay đổi Đường tiêu dùng C có thể dịch chuyển sang một
vị trí khác Ở trên đã lưu ý tiêu dùng tự định phụ thuộc vào những yếu tố ngoài thu nhập Giả sử nếu người tiêu dùng lạc quan hơn về tương lai Điều này sẽ làm tăng tiêu dùng dự định và hàm tiêu dùng dịch chuyển lên trên Nếu người tiêu dùng trở nền
bi quan hơn thì hàm tiêu dùng sẽ dịch chuyển xuống phía dưới
4.1.2 Rò rỉ và thêm vào
Nếu toàn bộ thu nhập không được chi tiêu hết thì việc chuyển động của thu nhập theo luồng luân chuyển không còn liên tục nữa mà đường luân chuyển bị rò rỉ Tiết kiệm là nguyên nhân trước hết gây ra sự rò rỉ như thế - một phần thu nhập không trực tiếp quay trở lại với thị trường sản phẩm như việc chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
Tiết kiệm cũng không phải là nguồn rò rỉ duy nhất Nhập khẩu cũng là sự rò rỉ trong luồng luân chuyển Khi người tiêu dùng mua hàng nhập khẩu, những chi tiêu của họ sẽ rời bỏ (rò rỉ) luồng luân chuyển trong nước, và số tiền đó chạy đến các nhà sản xuất nước ngoài
Thuế cũng là một hình thức rò rỉ Thuế bị lấy ra khỏi luồng luân chuyển Các hộ gia đình không có cơ hội để tiêu phần thu nhập đó
Các khoản bơm thêm vào (việc thêm chi tiêu vào luồng luân chuyển thu nhập) gồm đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu sẽ giúp bù lại sự rò rỉ từ tiết kiệm,
4.1.3 Đầu tư
- Những dự đoán (kỳ vọng): mong muốn đầu tư của doanh nghiệp phản ánh những dự đoán của nó về doanh số bán ra và lợi nhuận trong tương lai
- Lãi suất: các doanh nghiệp thường phải vay tiền để xây dựng nhà máy hoặc mua thiết bị Họ sẽ phải tính chi phí của việc đi vay, được phản ánh trong mức lãi suất
mà họ phải trả Lãi suất càng cao chí phí đầu tư càng lớn
- Công nghệ và đổi mới: Nhu cầu đối với đầu tư tăng lên như là kết quả của việc
vi mạch hóa và đổi mới sáng tạo Đầu tư tự định – không phụ thuộc vào đầu tư thu nhập hiện có
4.1.4 Chi tiêu chính phủ
Chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa của dịch vụ không trực tiếp liên quan đến thu nhập Các quyết định chi tiêu của chính phủ không bị hạn chế bởi khoản thu sẵn có từ thuế
Trang 5Thuế tỷ lệ thuận với sản lượng quốc gia, do đó, khi sản lượng trong nền kinh tế tăng lên sẽ góp phần làm tăng nguồn thu từ thuế, hay khi nền kinh tế suy giảm tốc độ tăng trưởng sẽ ảnh hưởng đến thuế
Nếu gọi T là thuế ròng với T = Tx – Tr (T là mọi khoản thu của chính phủ được xem là thuế và Tr là chi chuyển nhượng) Mức độ thặng dư hay thâm hụt ngân sách có thể biểu thị bằng B = T – G hoặc % (B/Y) thì trạng thái ngân sách của chính phủ được xác định khi:
T > G: ngân sách chính phủ thặng dư
T < G: ngân sách chính phủ thâm hụt
T = G: ngân sách chính phủ cân bằng
4.1.5 Xuất khẩu ròng
Cấu thành cuối cùng của tổng cầu là xuất khẩu ròng NX, nó bằng tổng kim ngạch xuất khẩu trừ đi tổng kim ngạch nhập khẩu Nhập khẩu được quyết định bởi thu nhập
và sản lượng trong nước, bởi tỷ số giữa giá trong nước so với giá quốc tế và bởi tỷ giá hối đoái Xuất khẩu (tức nhập khẩu của các nước khác) Được quyết định bởi thu nhập
và sản lượng của nước ngoài, bởi mức giá tương đối và tỷ giá hối đoái
Sự khác biệt giữa sản lượng mong muốn (trong điều kiện việc làm đầy đủ) và chi tiêu mong muốn được gọi là khoảng cách suy thoái Có việc làm và ổn định giá cả sẽ chỉ đạt được nếu như tổng chi tiêu mong muốn bằng đúng sản lượng mong muốn Tuy nhiên, điều đó dường như là không thực hiện được
4.2 Quá trình số nhân
Giả sử nền kinh tế đang tiến triển suôn sẻ trong điều kiện việc làm đầy đủ thì xuất hiện một khoảng cách suy thoái 100 tỷ/năm Khoảng cách này có thể là hậu quả từ sự giảm sút lòng tin của người tiêu dùng làm dịch chuyển hàm tiêu dùng xuống phía dưới, hoặc có thể là do sự giảm sút trong các dự đoán của các doanh nghiệp làm giảm chi tiêu đầu tư
Chúng ta có thể thấy quá trình số nhân vận hành bằng cách xem xét điều gì xảy ra với 100 tỷ khi nó quay quanh một vòng tuần hoàn
Tổng thay đổi trong chi tiêu = số nhân x thay đổi ban đầu trong tổng chi tiêu
Với số nhân = 1/(1-MPC)
Trang 6Tóm lại, đặc trưng cơ bản của quá trình điều chỉnh này là:
● Các nhà sản xuất cắt giảm sản lượng và việc làm khi sản lượng vượt quá chi tiêu mong muốn
● Mất mát thu nhập gây ra sự giảm sút chi tiêu cho tiêu dùng
● Giảm sút chi tiêu cho tiêu dùng dẫn tới cắt giảm sản xuất hơn nữa, mất nhiều thu nhập hơn và tiêu dùng tiếp tục ít đi
Quá trình giảm sút như vậy còn tiếp tục cho tới khi sản lượng đạt mức cân bằng tức
là sản lượng ở mức tổng chi tiêu bằng mức sản xuất Tại điểm này, không còn nguyên nhân gì gây ra những thay đổi về sản lượng vì mọi thứ sản xuất ra đều đã được bán hết
Những phân tích theo trường phái Keynes về chi tiêu, về sự rò rỉ, thêm vào và số nhân vẽ nên bức tranh khắc nghiệt cho triển vọng ổn định vĩ mô Kết luận cơ bản của Keynes là nền kinh tế không tự điều chỉnh được Thay vào đó, nền kinh tế có thể ổn định ở một cân bằng mà tại đó có quá nhiều người thất nghiệp hoặc cho phép giá cả tăng quá xa Những hậu quả vi mô không mongợi này nảy sinh từ bản chất của luồng luân chuyển Sản xuất tạo ra thu nhập tài trợ cho chi tiêu Chi tiêu đó lại quyết định nhà sản xuất sẽ bán bao nhiêu sản lượng Điều Keynes nhấn mạnh là những khoản rò
rỉ phá vỡ luồng luân chuyển này Nếu các khoản rò rỉ và thêm vào cân bằng thì không
có vấn đề rắc rối còn nếu không được như thế (tổng cầu quá nhỏ hoặc quá lớn) thì nền kinh tế sẽ gặp phải thất nghiệp hoặc lạm phát Do đó, Keynes đã kết luận rằng Chính phủ phải can thiệp để quản lý tổng cầu, có nghĩa là phải tăng tổng cầu khi nó sụt giảm
và giảm tổng cầu khi nó quá cao
4.3 Chính sách tài khóa
Để dự đoán các thay đổi trong hành vi chi tiêu ảnh hưởng thế nào đến sản lượng và giá cả, chúng ta sử dụng mô hình tổng cung (AS) và tổng cầu (AD)
4.3.1 Chính sách tài khóa mở rộng
Cân bằng kinh tế vĩ mô ở xảy ra ở QE GDP đầy đủ xảy ra ở QF Do vậy nền kinh
tế xảy ra gặp phải 1 khoảng cách xảy ra ở GDP
Mục tiêu là dịch chuyển đường tổng cầu sang phải
Tăng chi tiêu chính phủ ( G)
Trang 7Chi tiêu chính phủ tăng lên là một hình thức chính sach kích thích tài khóa
Chính phủ không cần lắp đầy toàn bộ thiếu hụt tổng cầ, vì theo hiệu ứng số nhân thì mõi đồng chi tiêu tăng thêm sẽ làm cho tổng chi tiêu tăng lên gấp nhiều lần Công thức tính sự kích thích tài chính mong muốn là:
Kích thích tài chính mong muốn = Thiếu hụt AD/ Số nhân
Hiệu ứng lấn át
Cho rằng khi chính phủ tăng chi tiêu sẽ làm mở rộng tổng cầu, và quy mô tăng thêm của tổng cầu nhất thiết phải lớn hơn tổng chi tiêu của chính phủ Sự suy giảm tổng cầu vì lãi suất tăng khi chính phủ thực hiện chính sách tài chính mở rộng được gọi là hiệu ứng lấn át ( crowding out effect) Tổng cầu giảm làm giảm bớ mức sản lượng cân bằng
Cắt giảm thuế
Chính phủ không chỉ mua hàng hóa dịch vụ mà còn đánh thuế Bằng cách hạ thuế, chính phủ làm tăng thu nhập khả dụng Ở khuynh hướng tiêu dùng biên MPC Người tiêu dùng không chi hết mỗi đồng có được từ cắt giảm thuế mà họ sẽ tiết kiệm một phần và chi tiêu một phần
Tăng ban đầu trong tiêu dùng = MPC * số thuế cắt giảm
Việc tăng tiêu dùng ban đầu do cắt giảm thuế đưa quá trình số nhân vào hoạt động
và kết quả là làm đường tổng cầu dịch chuyển sang phải
Không có nghĩa là việc cắt giảm thuế là không nên làm, mà chỉ có nghĩa là cần giảm thuế nhiều hơn so với lượng chi tiêu mong muốn thêm vào Do đó:
Số thuế cắt giảm mong muốn = Thiếu hụt AD/ ( số nhân * MPC)
4.3.2 Chính sách tài khóa thu hẹp
Kiềm chế tài khóa mong muốn = Lượng dư thừa AD/Số nhân
Cắt giảm chi tiêu chính phủ
Đầu tiên, ta tính kiềm chế tài khóa mong muốn, như trên đã tính Sau đó cắt giảm chi tiêu Chính phủ đúng bằng số đó
Cắt giảm chi tiêu Chính phủ (G) = Kiềm chế tài khóa mong muốn
Trang 8Tăng thuế
Bởi vì khi tăng thuế người tiêu dùng giảm cả tiêu dùng giảm cả tiêu dùng lẫn tiết kiệm nên thuế phải được tăng thêm nhiều hơn mức kiềm chế tài khóa mong muốn Tăng thuế mong muốn = Kiềm chế tài khóa mong muốn/MPC
Nói cách khác, những thay đổi trong thuế phải luôn lớn hơn thay đổi mong muốn trong những khoản rò rỉ hay các khoản thêm vào Việc lớn hơn bao nhiêu là tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu dùng biên
Những nguyên tắc chỉ đạo tài khóa
Khi nền kinh tế bị trì trệ, Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để kích thích nó bằng việc mua hàng nhiều hơn, cắt giảm thuế Khi nền kinh tế lên cơn sốt, Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa thu hẹp để giảm sức ép lạm phát bằng cách giảm chi tiêu, tăng thuế
Chính sách tài khóa mở rộng
Kích thích tài khóa mong muốn = Thiếu hụt AD/Số nhân
Lựa chọn chính sách Khối lượng
Tăng sức mua của chính phủ Kích thích tài khóa mong muốn Cắt giảm thuế Kích thích tài khóa mong muốn/MPC
Chính sách tài khóa thu hẹp
Kiềm chế tài khóa mong muốn = Dư thừa AD/Số nhân
Lựa chọn chính sách Khối lượng
· Giảm sức mua của chính phủ Kiềm chế tài khóa mong muốn
· Tăng thuế Kiềm chế tài khóa mong muốn/MPC
4.3.3 Các nhân tố ổn định tự động
Nhân tố ổn định tự động hay nhân tố ổn định nội thân là một nhân tố mà bản thân
nó có tác dụng tự hạn chế những biến động của nền kinh tế
Nhân tố tự ổn định quan trọng nhất là hệ thống thuế, đặc biệt là thuế thu nhập vì thuế tăng hay giảm theo giá trị của chi tiêu và sản lượng
Trang 9Các khoản chi chuyển nhượng cũng hoạt động như một nhân tố ổn định tự động.
4.3.4 Ngân sách cân đối theo chu kỳ
Chính phủ nên áp dụng một kiểu ngân sách gọi là “ngân sách cân đổi theo chu kỳ” Theo đó, ngân sách nên thâm hụt trong thời kỳ suy thoái nhưng tình trạng suy
thoái phải được khắc phục bằng sự thặng dư trong thời kỳ hưng thịnh
Trang 10CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Bài tập 1.
- Nền kinh tế sẽ ổn định ở một vị trí cân bằng mà tại đó có quá nhiều người thất nghiệp hay lạm phát cao
- Đánh giá khoảng cách GDP bằng việc dịch chuyển đường tổng cầu Để lấp đầy khoảng cách GDP thì đường tổng cầu phải dịch chuyển lớn hơn khoảng cách GDP
để bù cho mức giá đang thay đổi Dịch chuyển mong muốn bằng thiếu hụt (hoặc dư thừa) tổng cầu
Bài tập 2.
Khi cùng lúc các khoản chi chuyển nhượng và thuế đều tăng lên làm dịch chuyển đường tổng cầu sang trái Ảnh hưởng trực tiếp của tăng thuế là giảm thu nhập khả dụng Người ta sẽ phản ứng bằng cách giảm tiêu dùng Khi người tiêu dùng “ thắt lưng buộc bụng” thì họ sẽ khởi động quá trình số nhân và dẫn tới sự dịch chuyển lớn hơn nhiều của tổng cầu
Bài tập3.
Nếu AS nằm ngang thì thiếu hụt AD sẽ quyết định mức sản lượng của nền kinh tế Đường AS càng dốc thì thiếu hụt AD càng lớn
Bài tập 4.
Chính sách tài khóa Vì Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế; thêm nữa chính sách tài khóa khá linh động nên có thể xem như là một công cụ ổn định tự động
Bài tập 5.
Vì công thức tính tổng cầu là AD= C+ I+ G + X - M mà chính phủ chi 3 tỷ có nghĩa
là G= 3 tỷ nên tổng cầu tăng hơn 3 tỷ
Bài tập 6.
Nếu các nhà hoạch định chính sách không làm gì cả thì: AD giảm, C giảm
Việc có thể làm
Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng: Giảm thuế