1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot

67 623 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển Đông pot
Tác giả Bảo Cường
Trường học Học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Khoa Học Dầu Khí
Thể loại Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tướng Nguyễn TấnDũng và lãnh đạo các nước trên đã trao đổi sâu rộng, cởi mở,thân tình và nhất trí cao về nhiềubiện pháp cụ thể nhằm thúc đẩyquan hệ song phương với từngnước trên nhiề

Trang 3

tIN TøC - Sù KIÖN

năm nay, đồng chí

Đinh La Thăng Ủy

viên TW Đảng, Bí thư Đảng uỷ,

Chủ tịch HĐQT Petrovietnam

-Thành viên chính thức của Đoàn

cấp cao Chính phủ ta do Thủ

tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn

đầu đã tới thăm chính thức các

nước khu vực Trung Đông bao

gồm: Các tiểu vương quốc Ả Rập

(UAE) từ ngày 15/2-18/2; Nhà

nước Ca-ta từ ngày 7/3-10/3 và

Nhà nước Cô-oét từ ngày

10/3-12/3

Trong các cuộc tiếp xúc,

lãnh đạo các nước này đều bày

tỏ khâm phục cuộc đấu tranh anh

dũng vì độc lập tự do của nhân

dân ta trước đây cũng như

những thành tựu to lớn mà Việt

Nam đã đạt được trong công

cuộc đổi mới hơn 20 năm qua

Thủ tướng Nguyễn TấnDũng và lãnh đạo các nước trên

đã trao đổi sâu rộng, cởi mở,thân tình và nhất trí cao về nhiềubiện pháp cụ thể nhằm thúc đẩyquan hệ song phương với từngnước trên nhiều lĩnh vực như:

Dầu khí, tài chính, lao động,nông nghiệp …

Đặc biệt trong lĩnh vực dầukhí Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

đã đề nghị các cấp lãnh đạo nhànước Ca-ta cho phépPetrovietnam được tham gia các

dự án dầu khí và đầu tư xâydựng nhà máy sản xuất phânđạm đồng thời mời Ca-ta thamgia đầu tư vào các dự án dầu khítại Việt Nam theo tinh thần thoảthuận hợp tác giữa Petrovietnam

và Công ty Dầu khí Quốc gia

Ca-ta đã ký cuối năm 2007 Trongcác buổi hội đàm với Thủ tướng,

hội kiến Quốc vương, tiếp Bộtrưởng Dầu mỏ Cô-oét và thămnhà máy lọc dầu Mina Abdullah,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vàđoàn đại biểu cấp cao Chính phủ

ta cùng lãnh đạo các cấp của nhànước Cô-oét đã cho rằng dầu khí

là lĩnh vực hợp tác đang pháttriển tích cực giữa Việt Nam vàCô-oét Hiện Tổng công ty Dầukhí quốc tế Cô-oét (KPI) vàPetrovietnam đang cùng các đốitác Nhật Bản là Công ty Hoá chất(MCI) và Công ty Idemitsu Kosan(IKC) triển khai dự án nhà máylọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hoá).Nhà máy đặt ở khu kinh tếNghi Sơn, khi hoàn thành vàonăm 2013 sẽ có công suất200.000 thùng dầu mỗi ngàytương đương công suất 10 triệutấn/năm Phía Việt Nam góp vốn25,1% KPI và IKC cùng góp vốn

Petrovietnam tăng cường hợp tác đầu tư

với các nước khu vực Trung Đông

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu cấp cao thăm nhà máy lọc dầu Mina Abdullah

Trang 4

tIN TøC - Sù KIÖN

dÇu khÝ - Sè 3/2009

35,1% còn lại MCI góp 4,7% Phía Cô-oét sẽ

cung cấp toàn bộ nhu cầu dầu thô của nhà

máy vào khoảng 10 triệu tấn mỗi năm theo giai

đoạn đầu và tăng lên 20 triệu tấn khi mở rộng

dự án Tổng mức đầu tư của nhà máy lọc dầu

Nghi Sơn là 6,2 tỷ USD

Có thể nói với kết quả tốt đẹp của chuyến

thăm các nước Trung Đông của đoàn cấp cao

Chính phủ ta tạo cho Petrovietnam có nhiều cơhội để tăng cường hợp tác đầu tư với cácnước khu vực này, nhằm thực hiện chươngtrình hợp tác đầu tư ra nước ngoài của Tậpđoàn đã được Chính phủ các nước phê

Tin và ảnh: BẢO CƯỜNG

Petrovietnam và Petronic ký Thoả thuận hợp tác

Centeno, Ủy viên Trung ương Đảng Mặt

trận dân tộc giải phóng Sandino, Chủ tịch Tổng

công ty Dầu khí Quốc gia Nicaragua, trong các

ngày 22-23 tháng 3 năm 2009, ông Đinh La

Thăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội

đồng Quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

(Petrovietnam) dẫn đầu đoàn Lãnh đạo cấp cao

của Tập đoàn và một số đơn vị thành viên đã

đến công tác và làm việc tại Nicaragua

Tại thủ đô Nicaragua, đoàn công tác của

Petrovietnam đã có các buổi làm việc với Tổng

công ty Dầu khí Quốc gia Nicaragua, Bộ Năng

lượng và Khai mỏ, Viện Năng lượng Nicaragua

để thảo luận các cơ hội hợp tác Chiều

23/3/2009, Petrovietnam và Tổng công ty Dầukhí Quốc gia Nicaragua (Petronic) đã ký Thỏathuận Hợp tác tổng thể trong lĩnh vực dầu khí vàThỏa thuận Nghiên cứu chung để đánh giá tiềmnăng dầu khí một số lô ngoài khơi Nicaraguadưới sự chứng kiến của Tổng thống NicaraguaDaniel Ortega

Nicaragua nằm ở khu vực Trung - Nam Mỹ,nơi Petrovietnam đang có chiến lược đẩy mạnhtìm kiếm các cơ hội đầu tư mới Tại khu vựcnày, Tập đoàn đã có các hợp đồng dầu khí tại

Cu Ba, Venezuela, Peru và đang tiếp tục tìm

DUY HIẾU

có Quyết định số 1133/QĐ-BCTthực hiện chương trình hành động Quốc gia

thúc đẩy quan hệ Việt Nam - châu Phi của

Chính phủ giai đoạn 2008 - 2010

Mục tiêu của chương trình là thúc đẩy

hợp tác kinh tế, thương mại với thị trường

châu Phi, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt

hàng Việt Nam có lợi thế, tăng cường các

biện pháp trao đổi thương mại hai chiều để

giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh

tranh, đa dạng hoá ngành hàng xuất khẩu và

nhập khẩu, chú trọng việc nhập khẩu nguyên

liệu từ châu Phi nhất là dầu khí và gỗ

Theo chương trình của Bộ Công

thương, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

(Petrovietnam) tích cực đàm phán và thamgia các hoạt động hợp tác đầu tư trong lĩnhvực tìm kiếm thăm dò và khai thác với cácnước có tiềm năng về dầu khí ở châu Phi như

Ai Cập, Marốc, Libi, Camơrun, Nigiêria… đểtìm kiếm các cơ hội hợp tác mới Bên cạnh

đó, Petrovietnam mở rộng các hoạt động dầukhí thông qua việc tăng cường hoạt động tiếpxúc, thăm dò với các đối tác tại các nước mà

ta đã có thoả thuận hợp tác và tích cực triểnkhai các dự án đã ký kết Qua đó,Petrovietnam sẽ đa dạng hoá nguồn nhậpkhẩu dầu thô, LPG nhằm phục vụ chiến lược

an ninh năng lượng Quốc gia

THANH VÂNViệt Nam - Châu Phi

ĐẨY MẠNH HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ

Trang 5

Ngày 16/3, tại Khu công nghiệp phía

Đông-Khu kinh tế Dung Quất, thuộc xã Bình

Thuận, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi),

Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) tổ chức khởi

công xây dựng Dự án kho chứa khí dầu mỏ hoá

lỏng (LPG) và Trạm xuất xe bồn Dung Quất với tổng

mức đầu tư ban đầu 226,6 tỷ đồng

Dự án được triển khai xây dựng trên diện tích

đất 6,3 hecta bao gồm: 2 bồn cầu chứa LPG với

tổng sức chứa 2.000 tấn và các thiết bị đi kèm như:

Hệ thống xuất LPG cho xe bồn, hệ thống cầu cân,

máy phát điện dự phòng, hệ thống cứu hoả, hệ

thống điện - điện điều khiển, hệ thống đường ống

công nghệ Giải pháp công nghệ được chọn là công

nghệ tiên tiến với kiến trúc công nghiệp hiện đại,

các hệ thống có đầy đủ tính năng và luôn tuân thủ

các tiêu chuẩn, qui phạm của quốc tế và Việt Nam

nhằm đảm bảo quá trình hoạt động của kho an

toàn, hiệu quả, đồng bộ với trang thiết bị của nhà

máy lọc dầu Dung Quất Dự án do Tổng công ty Cổ

phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam xây lắp và nhà thầu

thiết kế bản vẽ thi công là Worley Parsons

Petrovietnam Engineering JSC

Dự án này nhằm tiếp nhận và phân phối trựctiếp sản phẩm LPG từ nhà máy lọc dầu Dung Quấtcho khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và TâyNguyên, góp phần tích cực vào việc điều tiết, bình

ổn thị trường LPG trong nước Với việc kết nối trựctiếp với nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án sẽ tăngcông suất chứa LPG tại chỗ, góp phần đảm bảocho nhà máy vận hành liên tục, ổn định và tăngmức dự trữ Khi công trình đưa vào khai thác, hàngnăm sẽ đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước

và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhQuảng Ngãi Dự kiến dự án sẽ được hoàn thànhvào quý I năm 2010

Dự án kho chứa LPG Dung Quất cùng với cáckho cảng LPG tại các tỉnh, thành phố của PV GASNorth và PV GAS South (là hai đơn vị thành viêncủa PV GAS) và dự án kho cảng LPG lạnh đầu mốitại Bà Rịa- Vũng Tàu sẽ được khởi công vào cuốinăm 2009 sẽ hình thành cơ bản mạng lưới hạ tầngphân phối LPG của PV GAS, khẳng định vị trí dẫnđầu của PV GAS tại thị trường nội địa trong lĩnh vựckinh doanh sản phẩm khí, góp phần quan trọng vào

Khởi công xây dựng Dự án kho chứa khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG)

và Trạm xuất xe bồn Dung Quất

Trần Ngọc Cảnh đã có chỉ thị chấn chỉnh

công tác an toàn lao động trong ngành Dầu khí

nhằm nâng cao phòng ngừa tai nạn lao động và

bảo đảm sức khoẻ cho người lao động, góp phần

ốn định sản xuất

Tập đoàn yêu cầu các đơn vị tổ chức kiểm tra,

giám sát, khắc phục ngay các điều kiện mất an toàn

tại các khu vực nguy hiểm, các trang thiết bị bảo vệ

cá nhân được cấp phát cho người lao động phải

đảm bảo chất lượng và bắt buộc người lao động

phải sử dụng trong khi làm việc Đẩy mạnh công tác

phổ biến giáo dục, huấn luyện pháp luật lao động về

bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người sử

dụng lao động và người lao động, đồng thời phát

động phong trào thi đua làm tốt công tác bảo hộ lao

động, an toàn lao động đến tận các đơn vị sản xuất,các công trình trọng điểm Tổng giám đốc, Giámđốc các đơn vị cần kiên quyết có hình thức kỷ luậtđối với các trường hợp vi phạm các quy định về antoàn lao động, thực hiện nghiêm túc quy định báocáo nhanh các trường hợp tai nạn, sự cố và phảitham gia vào quá trình điều tra tai nạn lao động,nguyên nhân để xảy ra tai nạn lao động phải đượcphổ biến đến CBCNV trong toàn đơn vị để rút kinhnghiệm Ban An toàn Sức khoẻ Môi trường của Tậpđoàn chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra công tác antoàn lao động tại các đơn vị, yêu cầu khắc phục tạichỗ các thiếu sót về an toàn lao động, kiến nghị việc

xử lý các trường hợp vi phạm nghiêm trọng công

Trang 6

Từ ngày 30/3 đến ngày 2/4/2009, 15

doanh nghiệp trong ngành công

nghiệp/công nghệ năng lượng-dầu khí thuộc

Hiệp hội Công nghiệp Hà Lan - FME sẽ đi khảo

sát và làm việc tại Việt Nam

Một số doanh nghiệp thành viên tham gia

đoàn đã đầu tư và kinh doanh tại thị trường

Việt Nam như: Vopak LNG Holding BV đầu tư

cảng và hệ thống kho chứa khí hoá lỏng, dầu

và hoá chất tại Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai;

Van Oord Ottshore B.V: Xây dựng hệ thống

đê-kè chắn sóng tại Liên hợp Lọc dầu Dung Quất;

Haskoning Nederland BV: Một số công trình

quản lý dải ven bờ…

Trong thời gian làm việc tại Hà Nội (ngày 30

và 31/3/2009) và thành phố Hồ Chí Minh (ngày1-2/4/2009), đoàn có kế hoạch gặp lãnh đạo BộCông thương, lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân thànhphố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; thăm vàlàm việc với một số đối tác chính của Việt Namtrong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ năng lượng

và dịch vụ dầu khí như Vietsovpetro, PTSC…Ngoài ra, Đoàn sẽ tổ chức hai cuộc gặp kết nốivới doanh nghiệp Việt Nam tại Hà Nội (ngày31/3/2009) và thành phố Hồ Chí Minh (ngày

THANH VÂN

Đoàn doanh nghiệp trong ngành năng lượng Hà Lan

khảo sát cơ hội kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam

giao 25 căn nhà Đại đoàn kết cho các

hộ dân có hoàn cảnh khó khăn ở xã

Thới Thạnh, TP Cần Thơ Đây là đợt

bàn giao nhà Đại đoàn kết nằm trong

kế hoạch trao tặng 207 căn nhà Đại

đoàn kết cho các hộ có hoàn cảnh

khó khăn tại các tỉnh Bà Rịa-Vũng

Tàu, Cần Thơ, Hậu Giang và Tiền

Giang của PV Drilling

Đến tham dự Lễ bàn giao nhà có

ông Đỗ Đình Luyện – Chủ tịch Hội

đồng Quản trị đại diện Ban lãnh đạo

của Tổng công ty PV Drilling và các

đại diện của chính quyền xã Thới

Thạnh, TP Cần Thơ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc TP

Cần Thơ cùng các đại diện báo, đài địa phương

Theo Tổng công ty PV Drilling, năm 2009, Tổng

công ty sẽ tiếp tục chung vai chia sẻ khó khăn với

cộng đồng thông qua các hoạt động an sinh xã hội.Đây là một trong những nghĩa cử cao đẹp, thể hiệnvăn hóa tương thân tương ái, vì cộng đồng của

THÁI HÒA

TỔNG CÔNG TY PV DRILLING BÀN GIAO 25 CĂN NHÀ

ĐẠI ĐOÀN KẾT CHO CÁC HỘ NGHÈO Ở CẦN THƠ

Trang 7

đã ký một thỏa thuận hợp

tác song phương trị giá 3,55 tỷ

đô la, theo đó Hàn Quốc sẽ giúp

đỡ quốc gia vùng Vịnh tái thiết

đất nước, đổi lại đối tác vùng

Đông Bắc Á sẽ được phép khai

thác dầu khí trên lãnh thổ Iraq

Thỏa thuận giữa hai bên

được ký vào hồi cuối tháng 2

giữa Tổng thống Hàn Quốc là

Lee Myung và người đồng

nhiệm phía Iraq-Jalal Talabani

Seoul sẽ cung cấp các gói đầu

tư, các giải pháp kỹ thuật nhằm

xây dựng lại hệ thống hạ tầng

cơ sở ở Iraq, dĩ nhiên cũng bao

gồm hệ thống khai thác và vận

chuyển dầu khí Và ngược lại,

Bagda sẽ tạo điều kiện về mặtthủ tục cũng như quỹ đất chocác nhà đầu tư Hàn Quốc muốntham gia vào việc khai thác tàinguyên tại Iraq Được biết, phíaHàn Quốc muốn có thêm giấyphép tiếp cận Basra, nơi chứatới 70% tài nguyên dầu mỏ củaIraq Hiện tại, Iraq là quốc gia

có trữ lượng dầu thô lớn thứ bathế giới, chỉ sau Arabia Saudi

và Nga

Phát ngôn viên chính phủHàn Quốc, ông Lee Dong-kwannói “Đây chỉ là một thỏa thuậnnhỏ bởi vì nó cho phép chúng ta

sẽ có thêm 2 tỷ thùng dầu thô,

mà theo tính toán chỉ đáp ứngđược nhu cầu của Hàn Quốc

trong vòng 3 năm” Hàn Quốc làmột quốc gia nhập khẩu nănglượng lớn ở khu vực châu Á Ởthời điểm hiện tại, Hàn Quốctiêu thụ mỗi năm 870 triệu thùngdầu thô

Như vậy, tiếp theo cácđộng thái tương tự của cácquốc gia láng giềng là TrungQuốc và Nhật Bản, Hàn Quốccũng đang nỗ lực giảm bớt sựphụ thuộc vào dầu từ các nguồnnhập khẩu khác

Được biết, lợi nhuận từdầu thô xuất khẩu chiếm 98%

HOÀNG ANH

Theo Bloomberg

Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác với Iraq

TIN THẾ GIỚI

Quốc về việc tăng cường phát triển

khai thác dầu khí ở quốc gia Nam Mỹ

với hy vọng tăng nhanh lượng xuất khẩu dầu thô

vào Trung Quốc

Hồi cuối tháng 2, Bắc Kinh đã chấp nhận

đóng góp 8 tỷ đô la trong tổng số 12 tỷ đô la cho

một quỹ liên doanh giữa chính phủ hai nước dành

cho việc phát triển hệ thống khai thác dầu khí ở

Venezuela với hy vọng cải thiện giá trị xuất khẩu từ

Venezuela vào Trung Quốc cũng như tăng cường

năng lực sản xuất của công ty dầu khí quốc gia

Petroleos de Venezuela SA

Tổng thống Venezuela Hugo Chavez đã cam

kết cung cấp đủ dầu cho Trung Quốc với sản

lượng dầu thô xuất khẩu sẽ đạt 1 triệu thùng/ngày

cho tới năm 2015 Hiện tại Trung Quốc nhập

khoảng 350.000 thùng/ngày từ Venezuela Đây chỉ

là một trong nhiều sự kiện hợp tác giữa hai bêntrong lĩnh vực dầu khí đã được ký kết Năm 2006,Tổng thống Chavez đã tới Trung Quốc ký kết mộthợp đồng đầu tư trong lĩnh vực phát triển nănglượng và giao thông trị giá 11 tỷ đô la Năm ngoái,các công ty dầu khí hai nước đã ký thỏa thuận hợptác trị giá 10 tỷ đô la nhằm phát triển mỏ dầuOrinoco, một trong những mỏ lớn của Venezuela.Quan hệ giữa hai nước ngày càng chặt chẽnhờ vào những chuyến tầu chở dầu xuất khẩuVenezuela đưa đến các bến cảng của Trung Quốcđại lục, trong khi đó sản lượng dầu từ Venezuelavào Hoa Kỳ ngày càng giảm Hiện tại Hoa Kỳ vẫn

là nhà nhập khẩu dầu thô nhiều nhất của

Venezuela tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực dầu khí

HOÀI THU

Theo Yahoo.News

Trang 8

6 dÇu khÝ - Sè 3/2009

tIN TøC - Sù KIÖN

có thể sẽ bán một phần dầu thôkhai thác được trên sàn giao dịch St

Petersburg của Nga Đây là một trong

những động thái nhằm tăng cường hợp tác

giữa hai nước trong việc đa dạng hóa thị

trường cung cấp năng lượng ra toàn cầu

“Phía Nga đã đề xuất Iran cân nhắc vềkhả năng bán một phần dầu của mình trên

Sàn giao dịch thương mại St Petersburg”

Bộ trưởng Năng lượng Nga Sergei Shmatko

phát biểu “Chúng tôi tin rằng đây là lời đề

nghị chân thành thể hiện sự hợp tác toàn

diện giữa Nga và Iran trong các vấn đề năng

lượng, và hơn nữa, chúng tôi sẽ cùng hợp

tác với nhau trong việc bán khí đốt cho các

đã ước tính doanh thu từ xuất khẩu dầu củaIran từ đầu năm cho đến 20 tháng 3 sẽ vào

HOÀI THU

Theo UPI

Iran có thể sẽ bán dầu ở thị trường Nga

Quốc (CNPC) và công ty dầu lửa

Rosneft của Nga dự kiến sẽ hợp tác xây

dựng một nhà máy lọc dầu ở tỉnh Thiên

Tân, phía Bắc Trung Quốc Được biết,

thiết kế chi tiết của nhà máy lọc dầu có

công suất 200.000 thùng một ngày sẽ

sớm được chính phủ Trung Quốc thông

qua vào cuối năm nay

Rosneft và CNPC đã ký thỏa thuận

hợp tác dự án từ tháng 3 năm 2006

nhằm xây mới và tăng cường công suất

lọc hóa dầu ở quốc gia đông dân nhất

thế giới

Theo thiết kế, nhà máy lọc dầu được

xây dựng trong khu công nghiệp Bình Hải– khu công nghiệp trọng điểm của tỉnhThiên Tân, và sẽ sớm hoàn thành vàonăm 2012

Trung Quốc là quốc gia sử dụngnăng lượng lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau

Mỹ Tháng trước, Trung Quốc đã đồng ýcho Nga vay một khoảng tiền trị giá 25

tỷ đô la đổi lấy quyền nhập khẩu dầu

HOÀNG LONG

Theo Peakoil

Trung Quốc xây dựng nhà máy hóa dầu

3 tỷ đô la vào năm sau

Trang 9

những thay đổi lớn trong ngànhdầu khí trong bối cảnh quốc gia này đi đedọa bởi những cuộc tấn công quân sự củaphe nổi loạn nhắm vào khu vực nhiều dầuvùng đồng bằng Niger

Phát biểu trước những nhà đầu tư tạicuộc hội thảo diễn ra ở Lagos, Bộ trưởngDầu mỏ Nigeria Rilwanu Lukman nói rằng,các nhà làm luật đang nghiên cứu về mộtchương trình cải cách ngành dầu mỏ theo

đó cho phép thêm nhiều thành phần kháctrong xã hội được tham gia góp vốn vàthành lập liên doanh với Công ty Dầu khíQuốc gia Nigeria

Odein Ajumogobia, Bộ trưởng Tài

nguyên dầu mỏ Nigeria cho biết ngànhdầu mỏ nước này đang phải đối mặt vớitình trạng bạo lực và kém năng suất, đãkhiến cho sản lượng khai thác giảm gần25% so với thời điểm đỉnh là 2,5thùng/ngày Ông nói “Chúng tôi phải cảithiện công suất khai thác nếu như muốnthu hút các nhà đầu tư Chúng tôi cho rằngnếu như các quy định hiện tại được bãi bỏthì sẽ là liều thuốc kích thích cho ngànhcông nghiệp dầu khí phát triển” Hiện tại,mức khai thác mỗi ngày của Nigeria vào

HOÀNG LONG

Theo New York Times

Nigeria mong mun ci cách ngành du khí

của Nga sẽ liên doanh xây dựng

một hệ thống dẫn khí dài 2.734 dặm

xuyên qua sa mạng Sahara Hệ thống

này sẽ vận chuyển khí tự nhiên từ quốc

gia Châu Phi Nigeria cho tới tận châu Âu,

và dự kiến sẽ vận hành vào năm 2015

Sahara là sa mạc lớn nhất thế giới

với diện tích hơn 9.000.000 km², xấp xỉ

diện tích của Hoa Kỳ và Trung Quốc Việc

xây dựng hệ thống dẫn khí ở đây sẽ

không dễ dàng, một phần do yếu tố thời

tiết và một phần do cơ sở hạ tầng ở vùng

sa mạc hoang hóa chỉ có 2,5 triệu dân

này chỉ là con số không Ngoài ra còn

phải kể đến những bất ổn chính trị quân

sự tại nước sở tại là Nigeria trong thời

gian vừa qua

Theo tính toán, chi phí của dự án

sẽ vào khoảng 12 tỷ đô la và sẽ là mộtphần trong của tổng sơ đồ phát triển khí

tự nhiên của Nigeria đã công bố trướcđây Hệ thống khí này, có tên gọi khác làNIGAL, sẽ đi qua các quốc gia Nigeria,Algeri, kết nối với hệ thống GALSI củaItalia và hệ thống dưới lòng nước biểnMedgaz của Tây Ban Nha

Khi được hoàn thành, hệ thốngđường ống xuyên sa mạc này sẽ có côngsuất truyền tải là 30 tỷ cubic khí mỗi

Trang 10

8 dÇu khÝ - Sè 3/2009

tIN TøC - Sù KIÖN

British Petroleum, gọi tắt là BP, đã giảm

mục tiêu khai thác so với chiến lược đã đề ra

trong tình hình nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu giảm

mạnh

Sản lượng khai thác hiệu chỉnh của BP

trong năm 2009 sẽ vào khoảng 4,1 triệu thùng

mỗi ngày so với 4,3 triệu thùng dự kiến trước

đó Hiện nay, ước tính mỗi ngày BP bơm vào

thị trường 3,9 triệu thùng dầu

Sự lao dốc của giá dầu thô trên thị trường

kể từ hồi tháng 7 năm ngoái đã tạo ra nhiều

thách thức khó khăn cho ngành công nghiệp

dầu mỏ Tony Hayward, Giám đốc điều hành

BP cho biết, hiện nay đang có rất nhiều dự án

đang trở thành gánh nặng của các công ty dầu

mỏ vì chúng không sinh lời trong khi chi phí

đầu tư đã tăng lên gấp đôi kể từ năm 2004

Tuy nhiên, đối với các cổ đông, BP sẽ duy trìchế độ trả cổ tức cao hàng năm nhằm giữ gìnlòng tin từ giới đầu tư

Cuộc khủng hoảng kinh tế cũng có mặttích cực, giá cả cũng như chi phí đầu tư chonhiều dự án cũng đang giảm dần BP dự tính

sẽ đầu tư khoảng 20 đến 21 tỷ đô la cho các

dự án đầu tư của năm nay Nhưng giám đốcđiều hành Hayward hy vọng BP có thể tiết kiệmđược khoảng 2 tỷ đô la

Năm 2008, tổng trữ lượng phát hiện mớicủa BP là 1,7 tỷ thùng dầu quy đổi, tươngđương với 21% sản lượng khai thác cùng kỳ.Nếu như không có thêm những phát hiện mớithì trữ lượng của các mỏ hiện tại của BP sẽvào khoảng 18,2 tỷ thùng dầu, đủ cho BP duy

NGỌC HƯNG

Theo Oilvoice

BP GIM MC TIÊU KHAI THÁC

thông báo sẽ thành lập liên minh giữa

các nhà sản xuất và bầu ra lãnh đạo trong một

cuộc hội thảo được tổ chức tại Texas, Hoa Kỳ

Mục tiêu của Hiệp hội sảnxuất nhiên liệu tái tạo toàn cầu(tên tiếng Anh là GlobalRenewable Fuels Alliance,GRFA) là nhằm thúc đẩy cácchính sách thân thiện với loạinhiên liệu sinh học và phát triểncác ứng dụng và công nghệ mới

Tổ chức này bao gồm cácthành viên từ 29 quốc gia thuộckhu vực Nam Mỹ và châu Âu.Thông cáo của GRFA nói rõ, “Cácthành viên của Hiệp hội sẽ tận tụyvới việc đưa ra thị trường các sảnphẩm nhiên liệu tái tạo gần gũivới môi trường nhất có thể”.Tại hội thảo, các nhà lãnhđạo của hiệp hội sẽ tiếp tục bànluận về việc kêu gọi Cơ quan bảo

vệ Môi trường Hoa Kỳ chấpthuận cho phép đưa thêm 10 phần trăm

NGỌC HƯNG

Theo Energy Digger

Thành lập hiệp hội các nhà sản xuất

nhiên liệu ethanol

Xăng sinh học sẽ là nhiên liệu của tương lai

Trang 11

Giá dầu thô sau khi đạt mức kỷ lục 145-147 USD/th (dầu Brent và WTI) vào ngày 11/7 thì bắt đầu giảmtăng thất thường theo xu hướng giảm đều cho đến cuối tháng 12/2008, mức giảm cả kỳ khoảng 105 USDmỗi thùng, xuống mức dưới 40 USD/th Trong tháng 1 và 2/2009, giá dầu tăng giảm thất thường quanhmức 40 USD/th

Giá sản phẩm dầu và LPG tăng giảm theo giá dầu thô.

1 Biến động giá một số loại dầu thô (USD/th)

* Trung bình của 7 loại dầu thô xuất khẩu chính của OPEC PIW cùng tháng và tháng sau

2 Biến động giá sản phẩm dầu (USD/th, riêng FO=USD/tấn)

Loại dầu \Th/gian

Trang 12

tIN TøC - Sù KIÖN

10 dÇu khÝ - Sè 3/2009

3 Biến động giá khí dầu lỏng (LPG) (USD/tấn)

Giá khí thiên nhiên trên thị trường thế giới tăng giảm nhẹ

1 Giá khí TN tại các sở giao dịch (USD/Tr BTU)

Tại ICE - Luân Đôn

Trang 13

2 Giá khí TN tại biên giới các nước Tây Âu tháng 2/2009 (USD/triu BTU)

Ghi chú: * là khí thiên nhiên lỏng; WGI cùng tháng

3 Giá khí TN lỏng (LNG) ở châu Á (USD/Triu BTU)

Ghi chú: Giá cif đã điều chỉnh - WGI cùng tháng

Biến động cước vận tải đường biển

1 Cước vận tải khí dầu lỏng (LPG)

Cước chuyến-Spot (USD/tấn)

Trang 14

12 dÇu khÝ - Sè 3/2009

tIN TøC - Sù KIÖN

Giá chế tạo và thuê các loại giàn khoan biển

Giá chế tạo giàn - Giàn khoan tự nâng Transocean

Nordic đã được bán cho Công ty Gulf Petroleum

Investment của Cô Oét với giá 170 tr USD Giàn

khoan được giếng sâu 25.000 ft, ở nơi biển sâu tới

300 ft Giàn đang được thuê khoan ở ngoài khơi đảo

Sakhalin (Nga) với giá 185.000 USD/ngày tới đầu

năm 2009 (UN 16/1)

Giá thuê giàn – Công ty chủ giàn Transocean (Mỹ)

cho rằng giá thuê giàn khoan ở châu Á đang cao hơn

ở Châu Phi và họ đã quyết định đưa giàn khoan nửa

chìm Kirk Rhein từ châu Phi sang châu Á cho dù hợp

đồng thuê khoan ở Philippine với giá 550.000

USD/ng đã bị huỷ bỏ Năm ngoái, giàn được thuê

khoan ở biển Mozambique với giá 362.000 USD/ng

cho đến đầu năm 2009 (UN 16/1)

Giá thuê giàn khoan – Giàn khoan nửa chìm mới

đóng West Hercule đã được nhà thầu Husky Energy

của Canada thuê khoan ở biển Hoa Nam, Trung

Quốc với giá 524.000 USD/ngày kể từ tháng 1/2009

Giàn hiện đang khoan trên mỏ khí Liwan, nơi biển

sâu 1.500m Husky có kế hoạch khoan 18 giếng trên

mỏ khí này trong 3 năm 2009-2011 (PIW 2/3)

- Bốn giàn khoan tự nâng biển nông của Rowan

(Mỹ) đã được công ty Aramco của Arâp Xê Út gia

hạn thuê 1 năm, bắt đầu từ tháng 4/2009 với đơn giá

110.000 USD/ngày Vừa qua, Rowan đã huỷ bỏ kế

hoạch đặt đóng mới 3 giàn khoan tự nâng cho biển

nông (loại 240-C và Super 116E) Theo kế hoạch ban

đầu, ba giàn này sẽ được đóng trong năm nay và

hoàn thành vào năm 2010 (UN 30/1)

– Giàn nửa chìm hỗ trợ khoan West Pelaut của

Seardrill đã được công ty Brunei Shell Petroleum(BSP) gia hạn thuê 5 năm với đơn giá 140.000USD/ng., bắt đầu từ tháng 4/2009 Giàn được đóngnăm 1994 và được BSP thuê từ đó đến nay (UN12/12)

– Giàn khoan nửa chìm thế hệ 6 mới đóng West

Hercules đã được nhà thầu Husky Energy thuêkhoan ở biển Hoa Nam với đơn giá 524.000 USD/ng,bắt đầu từ tháng 12/2008 Giàn sẽ khoan ở nơi nướcsâu 3.000m (UN 21/11)

- Tầu khoan mới đóng Platinum Explorer được công

ty khoan Vangtage Drilling (Mỹ) chào cho công tyONGC của Ấn Độ thuê 5 năm với giá 730.000USD/ngày kể từ cuối 2010 Hai bên đang bàn thảohợp đồng Vantage cho rằng giá thuê cao là vì tầu cótrang bị hệ thống bơm trám xi măng và xe tự hànhđáy biển điều khiển từ xa mà thông thường các tầukhoan khác không có Tầu khoan được ở mức nướctới 12.000ft (UN 21/11)

- Giàn khoan tự nâng Ensco 89 và Ensco 93 của

công ty chủ giàn Ensco International (Mỹ) đã đượccông ty Pemex của Mehico thuê khoan 3 năm ở vịnhMehico với đơn giá lần lượt là 150.000 và 165.000USD/ngày bắt đầu từ tháng 2/2009 Trước đó, Ensco

89 được Hall Houston thuê khoan ở vịnh Mỹ đến hếttháng 12/2008 với giá 85.000 USD/ngày Hai giànnày được thiết kế để khoan ở mức nước 300ft (UN21/11)

- Giàn khoan tự nâng mới đóng Petrojack IV của

công ty khoan Petrojack (Na Uy) đã được công tyPTT của Thái Lan thuê 5 năm với đơn giá khoảng150.000 USD/ngày kể từ tháng 2/2009 Giàn doxưởng Jurong Shipyard của Singapore đóng và đangđược hoàn thiện (UN 21/11)

Tầu 3.200m3đi Tây Âu

Tầu 3.200m3đi Châu Á

2 Giá thuê tầu chở khí dầu lỏng thời hạn 12 tháng - (Nghìn USD/tháng)

EA Gibson - LPGW cùng tháng và tháng sau

Trang 15

Giá thuê - Xà lan cần cẩu hạng nặng Lewek Conqueror của Emas Offshore Construction (Singapore) đã

được thuê 5 năm (có thể là Shell Brunei) với giá 68 triệu USD (đơn giá là 37.260 USD/ngày), bắt đầu từ tháng3/2009 để phục vụ xây lắp ở vùng biển Brunei (UN 4/3)

Giá thuê tầu dịch vụ giàn

1 Giá thuê tầu dịch vụ giàn ở biển Tây Phi (1000 USD/ngày)

Nguồn Chart Shipping, Barcelona (UN 10/3/09)

2 Giá thuê tầu dịch vụ giàn ở biển Bắc

Tháng Hai năm 2009 - (1000 BA/ngày)

Seabroker, Stavanger (UN 10/3/09)

Trang 16

hoa chat viet tri

Trang 17

vào mảng lớn Eurasia kể cả địa

khối Indosinia Sự va mảng này

tương ứng với pha tạo núi uốn

nếp chính của chu kỳ Indosini kết

quả là hình thành loạt xâm nhập

granitoid phân bố rộng khắp Việt

Nam Các đá xâm nhập này nằm

lót dưới các bể trầm tích Đệ Tam

và bị nứt nẻ, biến đổi do hoạt

động kiến tạo Mezozoi

muộn-Kainozoi sớm và trở thành tầng

chứa dầu quan trọng và đối

tượng khai thác chủ yếu ở bể

Cửu Long.

Lục địa Đông Nam Á gồm

nhiều địa khu kiến tạo-địa tầng

được kết nối với nhau sau nhiều

lần dập vỡ của siêu lục địa cổ

Pangea - “lục địa Gondwana” và

nhiều lần mở và khép lại của đại

dương Tethys Giai đoạn va

mảng tạo núi Nori-Jura-Crêta đã

gắn kết các vi lục địa vào mảng

lớn Eurasia kể cả địa khối

Indosinia Sự va mảng này tương

ứng với pha tạo núi uốn nếp

chính của chu kỳ Indosini kèm

theo hoạt động magma phát triển

khắp trên bán đảo Đông Dương,

tạo đai cung pluton-batholit granit(220-150 tr.n) xuyên suốt bán đảoMalaisia, đến Thái Lan, Vân Nam

và Myanmar (Hutchinson,Gatinsky, 1989)

Sự chuyển động tạo núiIndosini cũng làm hình thành loạtxâm nhập granitoid phân bố rộngkhắp Việt Nam Thời kỳ này cũngtrùng với pha phát triển tăng dày

và dâng trồi của vỏ trái đất Trongthời gian Jura sớm đến Crêtatoàn khu vực tiếp tục chịu tácđộng của chuyển động nâng-tạonúi muộn, hoạt động đứt gãytrượt bằng và magma-uốn nếpvới nhiều pha kế tiếp nhau tạonên phức hợp đá móng granitoidnằm lót dưới các bể trầm tích ĐệTam ở rìa Đông-Nam thềm lục địaViệt Nam

Các bể rift Cửu Long vàNam Côn Sơn được hình thànhvào Eoxen muộn và phát triểntrên địa khối gắn kết Indosinia bịxuyên cắt bởi loạt xâm nhậpgranit Mezozoi muộn Các đá này

bị nứt nẻ và trở thành tầng chứadầu quan trọng và là đối tượngkhai thác chủ yếu ở bể Cửu Long

Ở bể Cửu Long tầng chứamóng nứt nẻ thường tập trung ởdãy nâng trung tâm, ở các khốinâng rìa bể và bị phủ bởi lớp trầm

Thành phn magma ca đá cha trong móng

Các đá móng ở bể CửuLong gồm chủ yếu là các đámagma như granit, granodiorit,diorit thạch anh, monzodiorit,diorit, andesit và gabbro-diabaz,ngoài ra còn có các đá trầm tíchbiến chất

So với các điểm lộ ở vùngrìa các đá này được các nhà địachất phân thành các nhóm đá(Hình 1)

Các xâm nhập batholiths:

- Phức hệ Hòn Khoai

(183-208 tr.n) tuổi từ Trias đến Jurasớm gồm biotit granodiorit và gra-nodiorit chứa hornblend đi kèm

có loạt các đaicơ granit aplit dướidạng các mạch ngắn

- Phức hệ Định Quán

(100-130 tr.n) tuổi từ Jura muộn đến

TS NGÔ THƯỜNG SAN

TS CÙ MINH HOÀNG

Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí

sự hình thành tầng chứa móng nứt nẻ bể Cửu Long

Kiến tạo Mezo-Kainozoi

&

Trang 18

Crêta sớm gồm diorit,

gabbro-diorit, biotit granit, đi kèm là các

đaicơ và phun trào chủ yếu là

andesit

- Phức hệ Đèo Cả (98 tr.n)

tuổi Crêta gồm granosyenit, biotit

granit, đi kèm có các đá phun trào

andesit-dacit, dacit

- Phức hệ Ankroet (80 tr.n)

tuổi Crêta muộn Phức hệ trẻ này

thường là granit kiềm, granit hai

mica, microgranit, và granit

por-phyr, đi kèm có các đaicơ và

phun trào rhyolit

Các loạt đá magma này bị

xuyên cắt bởi các đaicơ, mạch và

các sill phun trào gồm:

- Phức hệ Phan Rang tuổi

Paleogen,(50-60 tr.n) với thành

phần granit porphyr, kèm với

đaicơ mach và phun trào rhyolit

Các đá này có thể giòn hoặc

dẻo Độ giòn của đá có quan hệ

phụ thuộc vào tướng đá, thành

phần thạch học, đặc biệt là tỷ

phần thạch anh/Felspar, trình độ

biến chất, địa nhiệt và áp suất địa

tĩnh, và trường ứng suất khu vực

Trong tầng chứa móng nứt nẻ

các đá giòn thường bị cắt bởi nứt

nẻ rộng hơn là ở các đá dẻo Vì

thế, chất lượng tầng chứa của

các đá granit luôn được xem tốt

hơn các đá diorit

Sự có mặt của các khoángvật sét và thứ sinh hình thànhtrong quá trình nhiệt dịch thường

làm giảm mật độ (số lượng) và độrộng (độ mở) của nứt nẻ

Nhìn chung, cho dù tướng

Hình 1 Phức hệ magma Mezozoi muộn

và thành phần thạch học (Tài liệu PVEP)

Hình 2 Bản đồ cầu trúc Việt Nam và kế cận

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

16 dÇu khÝ - Sè 3/2009

Trang 19

đá luôn là yếu tố kiểm soát mật

độ, hình thái, và sự phát triển của

hệ nứt nẻ nhưng có thể nhận

thấy là mạng nứt nẻ hiệu dụng

phần lớn có nguồn gốc kiến tạo

liên quan với hệ đứt gãy hoặc đi

kèm với các đới phá hủy kiến tạo

Các đt gãy và h nt n liên

quan trong pha kin t o

Mô hình kiến trúc của rìa

Đông-Nam cũng như toàn địa

khối Indosinia được khống chế

bởi hai hệ đứt gãy chủ yếu:

Hướng Tây Bắc-Đông Nam và

Đông Bắc-Tây Nam tồn tại song

song còn có hai xu thế khác là

Bắc-Nam và Đông-Tây kết quả

do sự tác động của nhiều pha

ứng lực căng tách và nén ép từng

đợt thay đổi hướng (Hình 2)

Mặc dù các đứt gãy kinh

tuyến ít phổ biến hơn trong các

bể, nhưng đóng vai trò quan

tạo trong pha uốn nếp tạo núi

Indosini muộn, hiệu ứng của

trường ứng lực cổ do vi mảng lục

địa rắn chắc Indosinia cản lại lực

đẩy của vi mảng Nam Trung Hoa

chuyển động về Tây Nam vào

thời kỳ Nori, lực nén va mảng của

đai uốn nếp tạo núi Sibumasu từ

phía Tây vào Jura giữa-muộn, và

cũng có thể từ lực đẩy của mảng

Thái Bình Dương di chuyển về

phía Tây vào Crêta

Các đứt gãy này tái hoạt

động trẻ lại do sự va mảng của

khối thúc trồi Ấn Độ vào mảng

Eurasia dọc đới hội tụ Tây Tạng

(kiến tạo thúc trồi) và sự tách mở

của biển Đông vào thời kỳ Đệ

Chuyển động va mảng tạonúi Indosini có thể chia thành hai

pha: Pha chính hay pha đồng-tạonúi xảy ra vào Nori do sự vamảng của khối Indosinia với NamTrung Hoa khép lại rift Sông Đà

và pha thứ hai là pha tạo núimuộn vào Jura-Crêta kết quả của

Hình 3 Sơ đồ địa động lực Đông Nam Âu-Á

(Theo mô hình kiến tạo thúc trồi)

Hình 4 Tiến hóa kiến tạo Mezozoi muộn của địa khối Indochina

(Trường ứng lực cổ phỏng theo tài liệu PVEP có hiệu chỉnh)

Petrovietnam

Trang 20

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

dÇu khÝ - Sè 3/2009

chuyển động nén ép của vi mảng

Sibumasu và đai kiến tạo

Shan-Thai về phía Đông, tác động lên

rìa Tây và Nam của bán đảo

Đông Dương tạo hệ thống đứt

gãy và tách chẻ hướng kinh

tuyến và vĩ tuyến, cũng như các

Vào thời kỳ Crêta sớm, địa

khối Indosinia chịu sự tác động

của các lực nén đẩy cuối cùng do

sự va mảng giữa các khối

Shan-Thai và Lhasa từ phía Tây và sự

va cung-mảng của mảng Thái

Bình Dương từ phía Đông, làm

hoạt động lại và tiếp tục duy trì

hướng ứng lực của hệ đứt gãy

tồn tại trước đó và phát triển rộng

khắp các thành hệ magma

grani-toid kiềm và á-kiềm

Tiếp sau chuyển động tạo

núi uốn nếp Indosini là giai đoạn

sau-uốn nếp Crêta

muộn-Paleoxen sớm với sự tăng dày vỏ

trái đất, sự dâng vòm khu vực và

san bằng Ở giai đoạn này trường

ứng lực chuyển từ nén ép sang

căng giãn vẫn theo hướng TB-ĐN

tạo các đứt gãy thuận và các

trũng giữa núi phương ĐB-TN, đó

là các tiền đề địa động lực cho sựhình thành các bể rift Đệ Tam ởrìa Đông-Nam của bán đảo ĐôngDương Chuyển động kiến tạonày cuốn theo các phun tràomagma đồng dạng thành phầnkiềm tập trung dọc các đứt gãybao rìa bể

Các đứt gãy ĐB-TN và Đ-Tcũng khống chế sự hình thành vàphân bố các cấu tạo nâng trong

bể và các hệ đứt gãy thứ sinh đikèm đóng vai trò quan trọng trong

hệ thống dầu khí, đặc biệt là thamgia tạo thêm hệ thống nứt nẻ thứcấp trong móng Trước-Đệ Tam

Vùng cho sản lượng caonhất ở các diện tích triển vọngtrong bể Cửu Long thường tậptrung ở vùng đỉnh cấu tạo (với

điều kiện là móng phải được phủhoàn toàn bởi tầng sét chắnOligoxen) Vùng đỉnh có thể lànơi tập trung cường độ ứng suấtmạnh nhất trong quá trình nén ép

và nếu ứng lực này xảy ra tronggiai đoạn tạo đứt gãy muộn thì đó

là điều kiện rất thuận lợi cho sựphát triển tốt độ rỗng (Hình 6).Nhìn chung, trước 90-50triệu năm, toàn bộ Đông Nam Áchủ yếu là vùng nhô cao với địahình phân dị yếu, tạo cảnh quangồm các địa lũy với các đábatholit granit, granodiorit, và đáphun trào Các địa lũy nằm xenvới các trũng giữa núi phân bốdọc các đới khâu và đứt gãy trượtbằng lớn Đặc trưng của thành hệTiền-rift là tướng lục nguyên chỉlắng đọng trong các trũng giữanúi ngăn cách bởi đứt gãy.Chuyển động kiến tạoMezozoi muộn - Đệ Tam sớm đãlàm tái hoạt động các hệ đứt gãy,tạo các nứt nẻ sinh kèm trong đámóng, và khống chế bình đồ kiếntrúc ở các bể Đệ Tam Cũng tronggiai đoạn này lớp vỏ phong hóadày được hình thành trên các địalũy granit Chúng là những tiền đềthuận lợi cho sự tích tụ hydrocar-bon trong các bể Đệ Tam

Kiến tạo Đệ Tam và sự hình thành các bể rift

Đặc điểm kiến tạo Đệ Tam ởĐông Nam Á cũng như ở ViệtNam là sự tồn tại hệ thống cácđới khâu trượt bằng cực lớn dọctheo đó các bể rift được hìnhthành và phát triển với chu kỳtrầm đọng và các bất chỉnh hợpkhu vực xảy ra đồng thời trongphần lớn các bể Các chu kỳ tiếnhóa kiến tạo-tướng đá và magmagiai đoạn Đệ Tam có liên quanchặt chẽ với các pha hút chìm và

va mảng của các mảng lớn và sựdao động của mực nước đạidương (Hình 7)

Cơ chế địa động lực tạo

Hình 5 Hình thể hiện đứt gãy trượt ĐB-TN với các đứt gãy

thuận sinh kèm xếp dạng cánh gà (Nguồn PVEP)

Hình 6 Vùng đỉnh của cấu tạo

triển vọng (Nguồn từ PVEP)

Trang 21

bình đồ đứt gãy ở Việt Nam liên

quan chủ yếu với sự va mảng

thúc trồi của mảng Ấn Độ thúc

vào mảng Eurasia dọc theo đới

hội tụ Tây Tạng

Chuyển động tạo núi

Himalaya đẩy vi mảng Indochina

về Đông-Nam với sự quay phải

chậm tạo hệ thống đứt gãy

TB-ĐN ở phía Bắc Việt Nam và hệ

ĐB-TN ở Nam Việt Nam, dẫn đến

sự hình thành các bể trầm tích

chứa hydrocarbon Các bể rift

này thường là các dạng pull-apart

hoặc căng giãn phát triển dọc các

đới đứt gãy sâu trượt bằng và

chồng gối lên các trũng giữa núi

tồn tại trước đó trong Crêta

muộn-Paleoxen sớm (Hình 8)

Kịch bản này có thể được

giải thích liên quan đến hai giai

đoạn căng giãn tạo sự sụt rift vào

Eoxen-Oligoxen và Mioxen sớm

và đi kèm là hai pha nén ép – pha

đầu vào Oligoxen muộn khi sự

nâng phân dị (nghịch đảo kiến tạo

lần 1) xảy ra trên phần lớn các bể

Đệ Tam sớm và pha nén ép thứ

hai vào Mioxen giữa-muộn tạo

nghịch đảo kiến tạo (nghịch đảo

kiến tạo lần 2) và các nếp uốn

Đông-Nhìn chung, phức hệ trầmtích Eoxen-Oligoxen được xem làphức hệ đồng-rift hình thành liênquan đến thời kỳ sụt rift chínhtrong lịch sử tiến hóa các bể ĐệTam, sự sụt lún xảy ra dọc cácđứt gãy thuận bao quanh rìa bể

và thường có xu hướng đổ vềĐông-Nam Sau đó, vào Oligoxen

các đứt gãy thuận này chuyểnhoạt động theo phương Đ-T dotác động giãn đáy hướng B-N củabiển Đông Sự giãn đáy và đạidương hóa biển Đông, đặc biệt ởphần Tây-Nam liên quan đến sự

đông đã cuốn theo sự phun tràonúi lửa bazan và andesit phổ biếnrộng trong các bể nằm ven rìaTây và Tây-Nam biển Đông

Vào Oligoxen muộn, sự va

Hình 8 Đặc tính hoạt động đứt gãy ở bể Cửu Long

Hình 9 Tiến hóa kiến tạo địa khối Indochina giai đoạn Đệ Tam

(Trường ứng lực cổ phỏng theo nguồn PVEP có hiệu chỉnh)

Hình 7 Sơ đồ thể hiện quan hệ giữa

tiến hóa kiến tạo và dao động mực đại dương

Trang 22

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

dÇu khÝ - Sè 3/2009

mảng giữa các mảng Ấn Độ –Eurasia và mảng lục địa châu Úcvới cung Sunda đã tạo trườngứng suất nén ĐB-TN và sự trượtbằng hướng cận B-N và Đ-T(Hình 10) gây nghịch đảo kiến tạo(Hình 11) với các nếp vồngnghịch, các roll-over, hoặcchuyển động phân dị dọc các đứtgãy thuận kế thừa á-kinh tuyến,hoặc tạo các đứt gãy nghịch ĐB-

TN và các đứt gãy trượt bằng

Đ-T Những hoạt động kiến tạo nàykết thúc pha phát triển rift chính(Hình12)

Hoạt động của các đứt gãynày mang đặc tính nhiều pha.Phần lớn chúng thừa kế hệ thốngtrước Đệ Tam, hoạt động mạnhvào Eoxen-Oligoxen, yếu dầnvào Mioxen sớm và kết thúc vàoMioxen muộn-Plioxen Đặc tính

đa pha này làm tăng độ phức tạpcủa bình đồ đứt gãy và tác độngmạnh đến chất lượng tầng chứa.Chất lượng tầng chứa đá móng ởmột số mỏ rất phức tạp và biếnđổi nhanh theo tính phân đới củanứt nẻ

Mạng nứt nẻ hiệu dụngthường liên quan đến hệ đứt gãy

có trường ứng suất tối đa Độrỗng và thấm có xu thế tăng cao

ở những vùng có hoạt động biếndạng mạnh Chúng phụ thuộcvào mật độ, chiều dài, và độ mởcủa các nứt nẻ macro/micro và

độ liên thông giữa chúng Mặc

dù lưu lượng lớn của dòng phụthuộc vào nhiều yếu tố địa chất

và thuộc tính của đá và chất lưu,nhưng về phương diện kiến tạodường như lưu lượng dòng caoliên quan nhiều đến: Các nứt nẻ

mở dạng căng giãn; các nứt nẻđồng hướng ở các đứt gãy thuậnĐB-TN; các đứt gãy chéo sinhkèm và các nứt nẻ liên quan đếnnhững đứt gãy trượt bằng Đ-T;hoặc các nứt nẻ phát triển ởvùng có ứng lực tối đa dọc trụccấu tạo

Kết quả nghiên cứu cho thấy

Hình 10 Bản đồ thể hiện bình đồ đứt gãy với hệ thống trượt

bằng Đ-T và đứt gãy thuận ĐB-TN

Hình 11 Mặt cắt địa chấn thể hiện nghịch đảo

kiến tạo trong hệ tầng Paleogen

Hình 12 Đứt gãy nghịch trong móng Tiền-Đệ Tam

Trang 23

lưu lượng dòng cao cũng được

gặp ở các cánh treo của đứt gãy

thuận, cánh sụt ở các đứt gãy

nghịch hoặc ở các đứt gãy tái

hoạt động muộn sát trước thời

gian di chuyển dầu Chúng thừa

kế từ hệ thống Mezozoi muộn

nhưng được hoạt động lại chủ

yếu ở pha nghịch đảo nén ép

Oligoxen muộn Sự hình thành

mới các đứt gãy và nứt nẻ ở pha

cuối này rất quan trọng, vì các

đứt gãy và hệ nứt nẻ sinh ra ở

thời kỳ đầu biến dạng của móng

thường bị ảnh hưởng rất mạnh

bởi quá trình nhiệt dịch, các nứt

nẻ thường bị lấp đầy bởi các

lún nhanh vượt trội tốc độ bù lắng

ở giai đoạn Paleogen đã tạo điều

kiện thuận lợi cho sự phát triển

tướng đầm hồ lâu dài và các

tướng ven đầm với lượng vật

chất hữu cơ chôn vùi nhanh Đó

là nguồn sinh hydrocarbon tiềm

năng và cũng là nguồn cung cấp

dầu nạp vào các bẫy nứt nẻ ở

móng bể Cửu Long và Nam Côn

Sơn

Sự sụt rift còn tiếp tục duy trì

ở bể Cửu Long nhưng với cường

độ yếu và chuyển sang giai đoạn

tiến hóa rift muộn, trong khi pha

sụt rift lần 2 liên quan đến sự giãn

đáy hướng TB-ĐN của biển Đông

ảnh hưởng mạnh đến bể Nam

Côn Sơn Chuyển động nén ép

Mioxen giữa-muộn đã tạo nghịch

đảo kiến tạo và các nếp uốn

nghịch ở bể Nam Côn Sơn, đặcbiệt ở khu vực Đông Bắc bể

Kết luận

Hoạt động tạo núi Indosinilàm hình thành loạt xâm nhậpgranitoid kiềm và á-kiềm phân bốrộng khắp Viêt Nam

Vào giai đoạn từ Jura sớmđến Crêta bán đảo Đông Dươngchịu tác động mạnh của hoạtđộng tạo núi - uốn nếp muộn, đứtgãy trượt bằng với nhiều pha kếtiếp nhau

Các đá magma nằm lót đáycác bể Đệ Tam bị nứt nẻ và trởthành tầng chứa dầu quan trọng

và là đối tượng khai thác chủ yếu

ở bể Cửu Long

Bình đồ cấu trúc của ViệtNam và kế cận bị khống chế bởitrường ứng lực với hệ thống đứtgãy tập trung theo ba hướng chủyếu: ĐB-TN, TB-ĐN và Đ-T

Hướng kinh tuyến ít phổ biến hơnnhưng cũng tham gia khống chế

sự sụt rift chủ yếu ở bể Nam CônSơn, trong khi ở bể Cửu Longhướng này có lẽ là các đứt gãysinh kèm với hệ đứt gãy trượtbằng ĐB-TN

Các hoạt động đứt gãy cóđặc tính nhiều pha và thừa kế từ

hệ Mezozoi muộn

Sự sụt rift liên quan đến haithời kỳ căng giãn: Eoxen-Oligoxen và Mioxen sớm trongkhi hoạt động nghịch đảo và tạocác đứt gãy và nứt nẻ sinh kèmliên quan với hai pha nén ép xảy

ra vào Oligoxen muộn và Mioxengiữa – muộn Hoạt động kiến tạoMioxen giữa xảy ra mạnh và rõnét ở bể Nam Côn Sơn

Pha va mảng Oligoxen

muộn đã tạo trường ứng lực nénTB-ĐN và chuyển động trượtbằng Đ-T, kết quả phát sinhnghịch đảo kiến tạo, uốn nếpnghịch, roll-over, chuyển độngphân dị dọc các đứt gãy thuận

kế thừa á-kinh tuyến, hoặc tạocác đứt gãy nghịch ĐB-TN vàcác đứt gãy trượt bằng Đ-T ở bểCửu Long

Các đứt gãy này đã tác độngđến sự hình thành và phân bốcác đới nâng cấu tạo và đã tạo

hệ nứt nẻ sinh kèm khống chếchất lượng thấm chứa ở móng bể

Tài liệu tham khảo

1 Ngô Thường San, Cù Minh Hoàng Chất lượng thấm chứa của đá móng nứt nẻ ở bể Cửu Long Hội nghị Khoa học và Công nghệ lần 9, Trường ĐHBK

Tp HCM 10/2005

2 Ngô Thường San, Lê Văn Trương, Cù Minh Hoàng, Trần Văn Trị Kiến tạo Việt Nam trong khung cấu trúc Đông Nam Á – Tuyển tập Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam, Nxb KHKT 2007.

3 Ngô Thường San, Cù Minh Hoàng, Đặc tính tầng chứa nứt nẻ và mối quan hệ với khả năng di chuyển dầu (Trường hợp – Tầng chưa móng mỏ Bạch Hổ - Nam Việt Nam) Tạp chí Dầu khí

Số 2/2008.

4 Trịnh Xuân Cường, Hoàng Văn Quý Mô hình hóa đá chứa móng nứt nẻ Tạp chí Dầu khí Số 5/2008

Trang 24

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

Theo thống kê và kinh nghiệm tìm kiếm thăm dòdầu khí trên thế giới, hiện nay các mỏ dầu khí

lớn nhất đều liên quan tới các bẫy cấu tạo, chủ

yếu là các cấu tạo lồi Song, các cấu tạo này không

phải là vô tận Để đảm bảo sản lượng khai thác và

nguồn dự trữ, người ta phải tăng cường tìm kiếm

dầu khí trong các bẫy địa tầng, thạch học và các đối

tượng phi cấu tạo khác Một trong những đối tượng

đó là các dạng địa hình chôn vùi, những lòng sông

cổ được cấu tạo bằng những thân cát Gupkin I.M

-nhà địa chất dầu khí nổi tiếng, lần đầu tiên vào năm

1913 đã phát hiện bẫy phi cấu tạo liên quan tới lòng

sông cổ ở vùng ven biển Kaspiên, mở ra một triển

vọng dầu khí rất quan trọng ở khu vực này Ở Việt

Nam, vấn đề này cũng đã được quan tâm từ những

năm 80 - 90 của thế kỷ trước Năm 1989, Xí nghiệp

Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đã ký kết hợp đồng

với Viện Dầu khí Việt Nam và Trường Đại học Mỏ –

Địa chất Hà Nội hoàn thành đề tài nghiên cứu các

bẫy phi cấu tạo bồn trũng Cửu Long Năm 1990 –

1995, TSKH Trương Minh đã chủ trì đề tài nghiên

cứu các bẫy phi cấu tạo cho toàn thềm lục địa Việt

Nam Những công trình đó đã định hướng cho việc

tìm kiếm các bẫy phi cấu tạo mang tính chất khu

vực Trong phạm vi bài báo này, các tác giả đề cập

đến địa hình chôn vùi trong Paleogen của bồn trũng

Nam Côn Sơn – một bồn trũng có tiềm năng dầu khí

lớn ở thềm lục địa Nam Việt Nam

CÁC GIAI ĐOẠN CHÔN VÙI ĐỊA HÌNH TRONG

PALEOGEN Ở BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN

Xác lập các bẫy phi cấu tạo liên quan đến địa

hình cổ, việc đầu tiên đòi hỏi chúng ta là phải xác

lập lại các giai đoạn chôn vùi địa hình trong một

khoảng thời gian nhất định ở khu vực nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu này, các nhà địa chất phải

nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ cấu trúc

địa chất khu vực, đặc biệt là các bề mặt bất chỉnhhợp mang tính khu vực, nghiên cứu trật tự địa tầngcũng như các mặt cắt địa chất - địa vật lý Đối vớicác bồn trũng Kainozoi, công việc này được tiếnhành dựa trên các tài liệu địa vật lý, chủ yếu là cácmặt cắt địa chấn, kiểm chứng với các tài liệu củagiếng khoan Trên cơ sở nghiên cứu đó, các tác giả

đã phân chia địa hình chôn vùi trong Paleogen ởbồn trũng Nam Côn Sơn thành các giai đoạn chínhnhư sau:

Giai đoạn cuối Eoxen – đầu Oligoxen sớm

Đây là giai đoạn chôn vùi địa hình đầu tiên củabồn trũng xảy ra trong Paleogen, phá vỡ địa hìnhcủa bề mặt san bằng Đông Dương đã được hìnhthành từ trước vào Paleoxen - Eoxen Do ảnhhưởng của quá trình va chạm giữa mảng Ấn - Úcvới mảng Á - Âu và quá trình tách giãn biển Đông,

bề mặt san bằng Đông Dương bị phân dị, địa hình

bị chia cắt Bên cạnh những đới nhô nâng cao lànhững thung lũng sâu được lấp đầy những vật liệuhạt thô Trong giai đoạn này, địa hình mang đặctrưng của địa hình miền núi Chúng bị chôn vùi dướilớp phủ của trầm tích Kainozoi Bề mặt của địa hìnhchôn vùi này ứng với bề mặt bất chỉnh hợp giữamóng và các trầm tích Kainozoi

Giai đoạn cuối Oligoxen sớm

Khác với bể Cửu Long, nơi địa tầng Oligoxen đãđược phân chia khá chi tiết thành Oligoxen sớm vàOligoxen muộn, thì ở bể Nam Côn Sơn, địa tầngOligoxen được gộp chung lại dưới tên gọi là hệ tầngCau [3], có thể xem tương đương với hệ tầngBawak, Keras và Gabus thuộc bể Đông Natuna(nằm ở phía Nam của bể Nam Côn Sơn) Song,những công trình nghiên cứu gần đây của tập thểtác giả [1] đã ghi nhận ranh giới phân chia các thànhtạo Oligoxen sớm và Oligoxen muộn trên các mặtcắt địa chấn (ví dụ như tuyến địa chấn 93-5445;

ĐỊA HÌNH CHÔN VÙI PALEOGEN Ở BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN VÀ CÁC BẪY PHI CẤU TẠO LIÊN QUAN

TS ĐẶNG VĂN BÁT, KS CHU PHƯƠNG LONG ThS NGUYỄN KHẮC ĐỨC

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

TS CÙ MINH HOÀNG, ThS NGUYỄN THỊ ANH THƠ ThS TRẦN MỸ BÌNH

Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí

22 dÇu khÝ - Sè 3/2009

Trang 25

P04-25; P04-07) Các sóng phản xạ nằm dưới ranh

giới này có đặc trưng biên độ thấp đến trung bình,

tần số thấp, kém liên tục Thành phần thạch học

được dự báo là những vật liệu sét kết chứa cuội,

sạn, sỏi Trong khi đó, phần trên của mặt cắt có đặc

trưng địa chấn khác hẳn: Các phản xạ có dạng

song song; các sóng phản xạ có biên độ thay đổi từ

thấp tới trung bình đến cao, tần số thấp, độ liên tục

không ổn định Ở phía Tây của bể các phản xạ có

dạng lộn xộn Thành phần thạch học được dự báo

là những vật liệu hạt mịn hơn, chủ yếu là các loại

cát kết Trên cơ sở đó, các tác giả cho rằng ranh

giới giữa Oligoxen sớm và Oligoxen muộn là một

bề mặt bất chỉnh hợp và giai đoạn cuối Oligoxen

sớm là giai đoạn chôn vùi địa hình thứ hai xảy ra ở

bồn trũng Địa hình chôn vùi cuối Oligoxen sớm bị

các thành tạo của hệ tầng Cau phủ bất chỉnh hợp

lên trên

Giai đoạn cuối Oligoxen muộn

Giai đoạn này ở bồn trũng Nam Côn Sơn ứng với

nóc của hệ tầng Cau Trên mặt cắt địa chấn, nóc

của hệ tầng này ở một vài nơi có đặc điểm biên độ

phản xạ cao tới rất cao Đặc điểm này được xác

nhận là do sự tồn tại của các tập than Như đã biết,

mặt cắt đầy đủ của hệ tầng Cau bao gồm 3 phần

chính [3]:

Phần dưới gồm cát kết, cát kết chứa cuội, một số

nơi gặp các đá phun trào andezit, bazan

Phần giữa gồm chủ yếu là các thành phần hạt mịn

bao gồm các tập sét kết phân lớp dày, khá giàu vật

chất hữu cơ và vôi xen kẽ các lớp sét kết chứa

than

Phần trên gồm cát kết hạt nhỏ đến vừa màu xám

tro, xám sáng, đôi chỗ có chứa glauconit, trùng lỗ

xen kẽ bột kết, sét kết

Như vậy, mặt cắt trầm tích của hệ tầng Cau được

hình thành với tướng lục địa ở thời kỳ đầu, bao gồm

các thành tạo lũ tích, xen trầm tích đầm hồ, vùng

vịnh, nhiều nơi xảy ra hoạt động núi lửa (như ở lô

11, 12) Điều đó chứng tỏ vào thời kỳ này địa hình

vẫn còn phân dị mạnh Vào giai đoạn sau của

Oligoxen muộn, trầm tích có xu hướng mịn dần và

được lắng đọng trong môi trường tam giác châu,

vũng vịnh, chịu ảnh hưởng của thủy triều và các đợt

biển tràn vào Đây là giai đoạn chôn vùi địa hình lục

địa và chuyển sang địa hình ven biển

Địa hình chôn vùi Oligoxen muộn bị phủ bất chỉnh

hợp bởi hệ tầng Dừa tuổi Mioxen sớm có nguồn

gốc tam giác châu và biển nông ven bờ

Như vậy, trong Paleogen ở bồn trũng Nam Côn

Sơn có thể xác lập được 3 giai đoạn chôn vùi địa

hình: Cuối Eoxen - đầu Oligoxen sớm, cuối

Oligoxen sớm và cuối Oligoxen muộn Mỗi một giai

đoạn được đặc trưng bằng hình thái địa hình riêngbiệt Vấn đề tiếp theo là chúng ta cần phải lập lạihiện trạng của những địa hình cổ đó

PHƯƠNG PHÁP XÁC LẬP ĐỊA HÌNH CHÔN VÙI

Xác lập lại địa hình cổ bị chôn vùi là một trongnhững nhiệm vụ của khoa học cổ địa mạo Mặc dù

đã có một số phương pháp xác lập địa hình chônvùi được đề xuất, song phải thừa nhận rằng, kếtquả áp dụng của các phương pháp đó chỉ chochúng ta lập lại được bề mặt địa hình gần đúngtrong một giai đoạn địa chất nhất định

Để xác lập lại địa hình chôn vùi, việc đầu tiênchúng ta phải xác lập được vị trí hiện tại của chúngnằm dưới các lớp phủ trầm tích Nói một cáchkhác chúng ta phải xác định được vị trí độ caotuyệt đối của chúng so với mực nước biển hiệnnay Đối với các bồn trũng Kainozoi trên thềm lụcđịa Việt Nam, địa hình hiện tại của các bề mặtchôn vùi đó là bản đồ đẳng sâu của các bề mặt bấtchỉnh hợp Đối với bồn trũng Nam Côn Sơn, trongPaleogen các bản đồ đẳng sâu của móng trướcKainozoi và bản đồ đẳng sâu của nóc Oligoxen ở

tỷ lệ 1: 500.000 đã được thành lập [4] Đây là haibản đồ cơ bản mà các tác giả dựa vào đó để xáclập lại địa hình chôn vùi vào cuối Eoxen - đầuOligoxen sớm và cuối Oligoxen Bề mặt bất chỉnhhợp cuối Oligoxen sớm chưa được thành lập, vìvậy chưa có cơ sở nào để xây dựng lại địa hìnhchôn vùi trong giai đoạn đó

Trên cơ sở địa hình hiện tại của các bề mặt chônvùi đó, các tác giả đã áp dụng phương pháp phântích xu thế (trend) và phương pháp tổng đại số (cộngtrừ) địa hình để thành lập bản đồ cổ địa hình.Phương pháp phân tích xu thế đã được các tácgiả áp dụng cho bồn trũng Cửu Long và công bốtrong Hội nghị Địa chất Việt Nam năm 2005 [2] Ởđây chỉ nhấn mạnh, phương pháp phân tích trend

là một phương pháp thống kê thực nghiệm chophép xác định và phân tích sự dao động độ caocủa địa hình trong phạm vi của vùng nghiên cứu.Nhiệm vụ của bước phân tích này là từ các điểmhiện tại của bề mặt chôn vùi xác định thành phầncấu trúc và thành phần sót của chúng Thành phầncấu trúc chính là bề mặt trend với số mũ cần thiếtđược chọn để khái quát hóa cấu trúc Thành phầnsót chính là thành phần thể hiện yếu tố địa hình cổ.Phương pháp tổng đại số (cộng trừ) địa hình làmột phương pháp xác định địa hình cổ tương đối sovới một bề mặt chuẩn nào đó ít bị biến dạng Nóimột cách khác, phương pháp này cho phép tiếp cậnđịa hình cổ ở một khoảng thời gian ngắn hơn từ khichúng được chôn vùi cho đến hiện nay Khác với

Trang 26

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

dÇu khÝ - Sè 3/2009

bồn trũng Cửu Long, nơi có tầng sét Rotalia tuổi

Mioxen hạ, được coi là tầng chuẩn lý tưởng, thì ở

bồn trũng Nam Côn Sơn, việc chọn lựa tầng chuẩn

có khó khăn hơn Các tác giả đã lấy tầng cấu trúc

cuối Mioxen muộn làm tầng chuẩn để tính toán vì

tầng này có cấu trúc tương đối đơn giản, ít phân dị

nhất Từ đó lấy các bề mặt cuối Eoxen - đầu

Oligoxen sớm, bề mặt cuối Oligoxen trừ đi bề mặt

cuối Mioxen muộn để tìm lại địa hình cổ

Cần phải thừa nhận rằng, sau khi bị chôn vùi, địa

hình còn tiếp tục bị biến dạng bởi các quá trình tân

kiến tạo và các quá trình nén ép đẳng tĩnh Ở đây

các tác giả coi sự biến dạng đó là đồng đều trên

toàn khu vực bồn trũng Nam Côn Sơn

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH CHÔN VÙI CUỐI EOXEN –

ĐẦU OLIGOXEN SỚM VÀ CUỐI OLIGOXEN

MUỘN, CÁC BẪY PHI CẤU TẠO LIÊN QUAN

Áp dụng phương pháp phân tích trend và phương

pháp tổng đại số địa hình để xác lập lại địa hình cổ,

trong những năm 80 của thế ký trước, khi công

nghệ thông tin chưa phát triển, đòi hỏi một sự kiên

trì và tốn rất nhiều thời gian, vì tất cả các tính toán

đều thực hiện bằng tay Hiện nay với sự phát triển

của công nghệ thông tin, việc tính toán đều được

thực hiện với những phần mềm chuyên dụng cho

chúng ta độ chính xác cao KS Chu Phương Long

đã thực hiện quy trình số hóa đường đẳng sâu,

chuyển các bản đồ gốc sang dạng mô hình số độ

cao DEM bằng phần mềm Arc GIS 9.2 Trong khi số

hóa, phải nhập các giá trị cos độ cao cho các

đường đẳng sâu bằng cách sử dụng phần mềm

Map Info 7.5 Các đường đẳng sâu địa hình đã

được số hóa tiếp tục được thực hiện theo trình tự

sau đây để nội suy tạo ra bề mặt trend:

Kết quả cho chúng ta bề mặt trend cuối Eoxen –đầu Oligoxen sớm (Hình 1), cuối Oligoxen muộn(Hình 2) và bề mặt địa hình cổ cuối Eoxenn – đầuOligoxen sớm (Hình 3), cuối Oligoxen muộn (Hình 4).Đối với phương pháp tổng đại số địa hình, KS

Chu Phương Long đã thực hiện chuyển đổi cácđường đẳng sâu từ dạng vector (dạng đường) sang

mô hình DEM (Digital Elevation Models - Mô hình

số độ cao) dạng Raster của các bề mặt cuối Eoxen

- đầu Oligoxen sớm và cuối Oligoxen muộn Quátrình này được thực hiện bằng phần mềm Arc GIS9.2 Sau đó, với việc sử dụng công cụ hỗ trợ Minustrong Arc GIS 9.2 đã xác định được hiệu số của các

bề mặt địa hình cuối Eoxen - đầu Oligoxen sớm,cuối Oligoxen muộn với bề mặt cuối Mioxen muộn.Hiệu số này chính là bản đồ địa hình cổ cuối Eoxen

(Map Info 7.5)

Mô hình dạng Vector (dạng đường)

Mô hình TIN (Triangulated Iregular Network) (Mạng tam giac không đều)

(Arc GIS 9.2)

(Arc GIS 9.2)

Mô hình dạng Point (dạng điểm)

Bề mặt Trend (dạng ảnh-Raster)

Hình 1

Trang 28

Từ các kết quả nghiên cứu bằng các phương

pháp khác nhau, chúng ta thấy rằng hình thái địa

hình cổ của giai đoạn cuối Eoxen - đầu Oligoxen

sớm và cuối Oligoxen muộn của bồn trũng Nam

Côn Sơn có những nét đặc trưng như sau:

Vào giai đoạn cuối Eoxen - Oligoxen sớm, địa

hình phân dị rất rõ nét, độ cao tương đối của địa

hình dao động từ trên 5000m đến -6000m Điều đó

cho thấy địa hình tương phản mãnh liệt Vị trí địa

hình nhô cao nhất là ở phía Tây bồn trũng, đặc biệt

là ở các khu vực lô 11, lô 20 và phía Đông Nam của

bồn trũng (lô 06) Mặt khác, ở khu vực mỏ Đại

Hùng, cấu tạo Rubi, cấu tạo Hồng, lô 06 ghi nhận

tàn dư của bề mặt san bằng Đông Dương còn sót

lại với diện phân bố khá rộng Trên các bề mặt này,

vỏ phong hóa sẽ có độ dày lớn và hy vọng những

nơi đó là những bẫy phi cấu tạo liên quan tới vỏ

phong hóa của móng Trên hai sơ đồ (Hình 3, Hình

5) đều ghi nhận một mạng sông suối lớn, có thung

lũng sông chính chạy theo phương Tây Nam - Đông

Bắc, được bắt nguồn từ phía Tây Nam của bồn

trũng và mở rộng về phía Đông Bắc, chiều rộng của

thung lũng sông đạt tới 50-70km Nguồn vật liệu

được động viên từ phía Đông Bắc và phía Tây Nam

của bồn trũng đổ về mạng sông suối này Các

nhánh sông đều bắt nguồn từ sườn Đông Bắc và

Tây Nam của bồn trũng Theo mạng sông suối này,

một số khu vực có lòng sông mở rộng tới hàng chục

km, địa hình tương đối bằng phẳng, có khả năng

liên quan tới tích tụ aluvi dày Đó là những bẫy phi

cấu tạo có triển vọng dầu khí liên quan tới lòng sông

cổ Trong các khu vực đó, đáng quan tâm nhất là

khu vực kéo dài từ lô 21 (giếng khoan 21-S-1X) đến

Đông Nam của lô 12 (giếng khoan 12-C-1X) với

chiều dài đạt tới 100km, chiều rộng khoảng 40km,

khu vực được giới hạn bởi giếng khoan 12-C-1X và

RD-1X với chiều dài khoảng 60km, chiều rộng

30km

Khác với địa hình cuối Eoxen – đầu Oligoxen

sớm, địa hình cuối Oligoxen muộn ít tương phản

hơn Địa hình được nâng cao ở phía Tây Nam và

giảm dần về Đông Bắc Độ cao dao động khoảng từ

+1200m đến gần -3000m Song mức độ chia cắt địa

hình cũng lớn đạt tới trên 4000m Nhìn chung địa

hình vẫn mang đặc trưng của địa hình miền núi,

nhưng là núi thấp Trên 2 sơ đồ (Hình 4, Hình 6)

đều xác nhận được mạng sông suối tương đối phức

tạp Ngoài mạng sông suối chính chạy theo phương

Tây Nam lên Đông Bắc, kế thừa từ giai đoạn trước,

trong bồn trũng còn tồn tại hai mạng sông suối chạy

theo phương kinh tuyến: Một mạng bắt nguồn từ

khu vực các giếng khoan NB-1X với chiều dài

khoảng gần 200km, chiều rộng thung lũng mở rộngkhoảng 30-80km Đây có thể là vị trí thuận lợi chocác thấu kính cát tích tụ tạo bẫy dầu khí, đặc biệt là

ở khu vực giếng khoan 04-1X Mạng sông suối thứhai tồn tại ở phía Tây bồn trũng có chiều dài đạt tới150km, rộng 50-70km Trên mạng này gặp một yênngựa có kích thước khoảng 40km x 60km cũng rấttriển vọng là một bẫy phi cấu tạo, nếu chúng đượccấu tạo bằng những thân cát Trong bồn trũng còntồn tại các khối nâng nhô cao là những vị trí thuậnlợi để tích tụ dầu khí Đó là các khối nâng ở phíaTây với kích thước 100km x 50km, 2 khối nâng ởtrung tâm gần các giếng khoan Dừa và Rubi Vị trícác bẫy phi cấu tạo được thể hiện trên Hình 7.Tóm lại, kết quả nghiên cứu địa hình chôn vùitrong Paleogen ở bồn trũng Nam Côn Sơn đã xácđịnh được 3 giai đoạn chôn vùi địa hình Đó là cácgiai đoạn cuối Eoxen - đầu Oligoxen sớm, cuốiOligoxen sớm và cuối Oligoxen muộn Bằngphương pháp phân tích trend và phương pháp tổngđại số địa hình, các tác giả đã xác định được hìnhthái địa hình cổ trong giai đoạn cuối Eoxen - đầuOligoxen sớm và cuối Oligoxen muộn Trên cơ sở

đó đã xác định được vị trí một số khu vực có triểnvọng tồn tại các bẫy phi cấu tạo liên quan tới nhữngvùng có độ dày vỏ phong hóa lớn và những lòngsông cổ

Bài báo được hoàn thành dưới sự tài trợ củaChương trình Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tựnhiên, đề tài 7.145.06

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Văn Bát, Cù Minh Hoàng, Nguyễn Thị Anh Thơ, 2007 Địa tầng Paleogen ở bồn trũng Nam Côn Sơn Tạp chí Dầu khí số 8.2007, trang 19-23.

2 Đặng Văn Bát, Nguyễn Khắc Đức, Hoàng Văn Long, Nguyễn Quốc Hưng, 2005 Ứng dụng phương pháp phân tích trend để nghiên cứu cổ địa mạo trong Oligoxen ở bồn trũng Cửu Long Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Khoa học Địa chất kỷ niệm 60 năm thành lập ngành địa chất Việt Nam Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản Hà Nội.

3 Nguyễn Hiệp (Chủ biên), Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Giao và nnk, 2007 Địa chất và tài nguyên Dầu khí Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học – Kỹ thuật – Hà Nội, trang 317-360.

4 Nguyễn Trọng Tín, 1996 Cấu trúc và lịch sử địa chất các vòm nâng địa phương của trầm tích Kainozoi bể Nam Côn Sơn và triển vọng dầu khí Luận án PTS khoa học Địa lý – Địa chất Hà Nội 77tr.

Trang 29

Báo cáo trình bày kết quả

tính toán chiều dày tầng hình

thành và lưu giữ ổn định gas

hydrate (GHSZ) trong khu vực

biển Đông theo mô hình của

Milkov và Sassen Kết quả tính

toán đã xác định được chiều dày

tầng GHSZ trong khu vực biển

Đông dựa trên mối quan hệ giữa

độ sâu nước biển, gradient địa

nhiệt và ba loại gas hydrate loại I

(thành phần 100% CH 4 ), loại II

(95,9% CH 4 ) và loại H (90,4%

CH 4 ) Đối với gas hydrate loại I,

độ sâu nước biển tối thiểu để hình

thành gas hydrate trên biển Đông

là 600m và chiều dày trung bình

của tầng GHSZ là 225m Đối với

gas hydrate loại II, chiều dày

trung bình của tầng GHSZ là

270m và độ sâu nước biển tối

thiểu để hình thành gas hydrate là

400m Đối với gas hydrate loại H,

chiều dày trung bình của tầng

GHSZ là 365m và độ sâu nước

biển tối thiểu để hình thành gas

hydrate là 300m Trong khu vực

biển Đông chiều dày lớn nhất của

tầng GHSZ nằm trong khoảng độ

sâu nước biển từ 1.500-2.500 m

và chiều dày lớn nhất có thể lên

đến 365m Với giả thiết gas

hydrate phân bố ở 30% diện tích

từ 300-3000 m nước và nồng độ

bão hòa khí gas 1,2%, thì lượng

khí CH 4 ở điều kiện tiêu chuẩn

của toàn biển Đông tính được cho

ba loại gas hydrate là 1,7x 10 14 m 3

cho loại H, 1,41 x 10 14 m 3 cho loại

II và 1,38 x 10 14 m 3 cho loại I Tại khu vực biển miền Trung và Hoàng Sa lượng CH 4 là 4,4 x 10 13

m 3 cho loại H; 3,6 x 10 13 m 3 cho loại II và 3,5 x 10 13 m 3 cho loại I.

Khu vực biển Đông Nam và Trường Sa lượng CH 4 là 7,5 x

10 13 m 3 cho loại H; 6,1 x 10 13 m 3

II và 5,9 x 10 13 m 3 cho loại l.

Gas hydrate được hìnhthành từ nước và khí gas (chủ

trúc kết tinh như băng ở nhiệt độthấp và áp suất cao Tùy thuộcvào thành phần khí gas, nhiệt độnước biển, gradient nhiệt độ, độmuối của nước lỗ rỗng mà gashydrate có thể bắt đầu được hìnhthành ở những vùng nước biển

có độ sâu từ 200-600 mét [11-14,

18, 20, 26, 32, 34] Biển Đông làmột biển rìa lớn nhất ở bờ TâyThái Bình Dương, được đánh giá

là một trong những vùng có triểnvọng gas hydrate của thế giới [6]

Sau hơn mười năm nghiên cứu,năm 2007, Trung Quốc lần đầutiên đã thu được mẫu gashydrate ở khu vực Shenhu, phíaNam bồn trũng Châu Giang, ở độsâu nước biển 1.500 mét và dướilớp trầm tích cách đáy biển 200m[34], đã khẳng định biển Đông cógas hydrate Sườn lục địa ViệtNam cũng là vùng có đủ các điềukiện cần thiết hình thành gashydrate [25] Một số công trình

gần đây của các tác giả TrungQuốc đã tiến hành tính chiều dàytầng hình thành và ổn định gashydrate (GHSZ - Gas HydrateStability Zone) và ước tính trữ

Đông (Wang n.n.k 2006, Chin.n.k, 2006, Cheng n.n.k 2004,Fang n.n.k 2002, Yao, 2001).Wang n.n.k (2006) bằng phươngpháp của Milkov và Sassen(2001) đã tính chiều dày GHSZcho toàn bộ khu vực biển Đôngvới giả định gradient địa nhiệt

Kết quả đo gradient địa nhiệt ởsườn lục địa biển Đông trongchương trình khoan đại dương(ODP-Leg 184) đã cho thấy giảthiết này hoàn toàn không phùhợp Gradient địa nhiệt là hàmphụ thuộc vào độ sâu đáy biển[28] Tại sườn Bắc biển Đônggradient địa nhiệt đo được ở lỗ

cơ sở xác định được hàm phân

bố gradient địa nhiệt của biểnĐông theo độ sâu nước biển Kếtquả tính toán cho ta những thôngtin hữu ích hơn về khả năng

XÁC ĐỊNH CHIỀU DÀY TẦNG HÌNH THÀNH VÀ ỒN ĐỊNH

GAS HYDRATE (GHSZ) TRÊN BIỂN ĐÔNG

TS NGUYỄN NHƯ TRUNG

Viện Địa chất và Địa vật lý biển Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam

TÓM TẮT

MỞ ĐẦU

Trang 30

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

dÇu khÝ - Sè 3/2009

phân bố của gas hydrate theo

diện và theo chiều sâu Trên cơ

sở kết quả tính GHSZ này, trữ

lượng gas hydrate trên biển

Đông bước đầu được dự báo

ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT

Phần rìa phía Bắc, Nam thuộc

loại rìa lục địa thụ động có sườn

lục địa tương đối rộng 500-600

km Phần phía Tây rìa lục địa hẹp

kéo dài Phía Đông biển Đông là

đới hút chìm đang hoạt động

Manila Phần phía Nam là đới hút

chìm cổ Mezozoi Song song với

đã tạo điều kiện thuận lợi choquá trình lắng đọng trầm tích vàtích tụ vật chất hữu cơ trong cáctrầm tích trẻ Các hoạt động đứtgãy hiện đại phát triển mạnh ởnhiều khu vực trong vùng như hệthống đứt gãy ĐB-TN dọc khuvực sườn lục địa phía Bắc vàNam [6], hệ thống N-S thềm lụcđịa phía Tây (P.N Vu, 2007) Cáccấu trúc diapir magma, bùn xuấthiện ở nhiều nơi trong khu vực

Với các yếu tố kiến tạo địa mạotrên đã hình thành trong khu vựcbiển Đông nhiều dạng cấu trúcthuận lợi cho việc hình thành vàlưu giữ gas hydrate như các nêmtăng trưởng ở khu vực Nam bồntrũng Đài Loan, trũng Palawan,các đới nâng, các nón trầm tíchđáy biển, turbidi, các diapir, vol-

cano bùn… ở khu vực rìa Bắc,Nam và Tây biển Đông Trên hầuhết các thềm lục địa bao bọcxung quanh sườn lục địa biểnĐông đều hình thành các bồntrũng với chiều dày trầm tích vàhàm lượng vật chất hữu cơ lớnnhư bồn trũng Châu Giang, ĐàiLoan, Nam Hải Nam, Sông Hồng

ở phía Bắc, Phú Khánh, CửuLong, Nam Côn Sơn ở phía Tây,bồn trũng Zengmin và nhóm bểTrường Sa ở phía Nam Phầnlớn các bồn trũng trên thềm lụcđịa là những bồn dầu khí có trữlượng lớn Các trầm tích trẻ cóchiều dày lớn được hình thành

có tướng delta và á biển pháttriển khá phổ biển ở rìa các lụcđịa, mức độ tích tụ vật chất hữu

cơ cao [13] Các điều kiện trongkhu vực phần nào cho thấy gashydrate ở phía sườn lục địa phíaBắc sẽ thuận lợi cho việc hìnhthành gas hydrate cấu trúc loại I,còn ở sườn lục địa phía Namthuận lợi cho loại hình gashydrate cấu trúc loại II và H

Tầng GHSZ là tầng tại đó có

đủ các điều kiện về nhiệt độ và ápsuất dưới mặt đất đảm bảo khígas tự nhiên kết tinh thành gashydrate và duy trì ổn định trong

đó Chiều dày tầng GHSZ đượcquyết định bởi các yếu tố: Độ sâunước biển, nhiệt độ nước đáy, ápsuất và gradient địa nhiệt trongtrầm tích, độ muối của nước lỗrỗng và thành phần khí gas.Ngoài ra, sự ổn định của gashydrate còn phụ thuộc vào kiếntrúc và thành phần khoáng vậttrong trầm tích Milkov và Sassen(2001) đã đề xuất phương pháptính định lượng mô tả các hiệuứng này và tính toán chiều dàytầng GHSZ cho vùng vịnh Mexico[13] Phương pháp tính này đượcchúng tôi áp dụng tính cho khuvực biển Đông dưới đây

Hình 1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu Độ sâu đáy biển, vị trí

các lỗ khoan ODP, Leg-184 và điểm lấy được mẫu gas hydrate

ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT CHUNG

TÍNH CHIỀU DÀY TẦNG (GHSZ) KHU VỰC BIỂN ĐÔNG

Trang 31

Xác định nhiệt độ trầm tích

- Nhiệt độ đáy biển: Trên cơ sở số liệu nhiệt độ

ở các độ sâu đo khác nhau, Wang (2006) đã xây

dựng được phương trình xác định nhiệt độ đáy biển

theo công thức hàm mũ sau [27]:

đãy biển (m)

Theo công thức này cho phép ta tính được

nhiệt độ đáy biển từ bất kỳ số liệu độ sâu đáy biển

Kết quả tính toán cho thấy với độ sâu đáy biển từ

300-500 mét thì nhiệt độ đáy biển khu vực biển

Kết quả đo gradient địa nhiệt trên biển Đông

cho thấy nó có tính không đồng nhất trên toàn biển

Đông và có xu hướng tăng dần theo chiều sâu đáy

biển (Hình 2) Phần thềm lục địa gradient địa nhiệt có

sườn lục địa gradient địa nhiệt lại có giá trị rất cao, từ

phép chúng ta xây dựng được công thức xác định

gradient địa nhiệt theo độ sâu đáy biển như sau:

G= 0,01593* B+28,39 (2)

sâu đáy biển (m)

Từ phương trình (2) cho thấy ở độ sâu nước

quả này nó khác xa với việc chọn gradient địa nhiệt

n.n.k (2006)

Như vậy, phương trình xác định nhiệt độ củatrầm tích được xây dựng bằng cách cộng phươngtrình nhiệt độ đáy biển (1) với phương trình gradientđịa nhiệt (2) Khi đó ta phương trình sau:

(3)

dưới mực đáy biển; B là độ sâu đáy biển;

Từ công thức (3) cho phép ta xác định đượcphân bố nhiệt của trầm tích ở các độ sâu khác nhaudưới mực địa hình đáy biển

Xây dựng phương trình xác định tầng GHSZ

Điều kiện cân bằng để khí gas tự nhiên kếttình hình thành gas hydrate đã được Sloan’s (1998)nghiên cứu và phát triển một chương trình phầnmềm CSMHYD để tính toán [22] Số liệu đầu vàogồm nhiệt độ, áp suất, thành phần khí gas, độ muốitrong nước lỗ rỗng Trên cơ sở các số liệu thànhphần khí gas tự nhiên thu được trên thực tế, Sloan(1998) đã phân ra ba loại gas hydrate với các thành

(loại H) và các hợp phần khí khác (Bảng 1) Milkov

và Sassen [13] sử dụng chương trình CSMHYD xácđịnh phương trình cân bằng cho ba loại gas hydratenày với độ muối trong nước lỗ rỗng giả thiết bằng3,5% như sau:

T100%CH4= 8,9*Ln(D)-50,1 (4)

T95,9%CH4= 7,1*Ln(D)-33,9 (5)

T90,4%CH4= 6,7*Ln(D)-27,6 (6)Trong đó: T là nhiệt độ để gas hydrate tồn tại

chuyển đổi từ áp suất với giả thiết sự thay đổi dient thủy tĩnh tuyến tính (10Mpa/km) trong nước vàtrong trầm tích

gra-Hình 3 là được đặc tuyến biểu diễn điều kiện

áp suất (độ sâu nước biển) và nhiệt độ để hìnhthành ba loại gas hydrate theo phương trình (4), (5)

trong khí tự nhiên khác nhau không nhiều, nhưng

Hình 2 Gradient địa nhiệt phụ thuộc

vào độ sâu đáy biển

Trang 32

th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ

dÇu khÝ - Sè 3/2009

điều kiện nhiệt độ và áp suất khi hình thành gas hydrate lại rất khác biệt

Như vậy, chúng ta thấy rằng, ranh giới dưới của tầng GHSZ đối

với ba loại khí gas trên chính là điểm giao nhau của hai phương trình

(3) và (4); (3) và (5); và (3) và (6) Công thức xác định ranh giới dưới

của tầng GHSZ trở thành bài toán xác định điểm không của các cặp

phương trình (3) và (4); (3) và (5); và (3) và (6) như sau:

Sử dụng phương pháp Newton để giải phương trình (7), (8), (9)

ta nhận được giá trị chiều dày tầng GHSZ (C) ứng với mỗi độ sâu B

khác nhau Kết quả giải phương trình (7), (8), (9) cho khu vực biển

Đông chúng ta nhận được đường đặc tuyến chiều dày tầng hình thành

và ổn định gas hydrate (GHSZ) theo độ sâu đáy biển cho ba loại gas

hydrate như trên Hình 4 Hình 4cho thấy chiều dày tầng GHSZphụ thuộc vào độ sâu nước biển

và thành phần của khí gas khihình thành nên gas hydrate Khi

ở độ sâu không thay đổi, chiềudày tầng GHSZ tăng dần khi hàm

nước biển tăng đến một mức nào

đó thì chiều dày tầng GHSZ bắtđầu giảm dần Dạng đường đặctuyến này hoàn toàn ngược vớikết quả tính của Wang n.n.k(2006) ở phần nước sâu (vìWang giả thiết ở phần nước sâu

và phần nước nông đều có ent địa nhiệt không đổi bằng

Thiết đồ Hình 4 được sửdụng để tính toán chiều dày tầngGHSZ cho bất kỳ điểm nào trongkhu vực biển Đông Hình 5 là sơ

đồ phân bố chiều dày tầng GHSZcủa biển Đông tính toán cho baloại gas hydrate theo số liệu độsâu đáy biển từ 300-3000 m Kếtquả tính toán chiều dày tầngGHSZ cho khu vực biển Đôngcho thấy:

Đối với gas hydrate loại I,tầng GHSZ được hình thành ở độsâu nước biển ≥ 600m và cóchiều dày thay đổi từ 0-260m,trung bình là 225m Chiều dàylớn nhất có thể tới 260m tại vùng

độ sâu 2400m nước, ra xa hơnchiều dày mỏng dần

Đối với gas hydrate loại II,tầng GHSZ bắt đầu hình thành ở

độ sâu nước biển ≥ 400m và cóchiều dày thay đổi từ 0-300 m,trung bình là 270m Chiều dàylớn nhất có thể đạt tới 300m ởvùng độ sâu 1800m nước, ra xahơn chiều dày mỏng dần Đối với gas hydrate loại H,tầng GHSZ bắt đầu hình thành ở

độ sâu nước biển ≥ 300m và cóchiều dày thay đổi từ 0-365 m,trung bình là 330m Chiều dàylớn nhất có thể đạt tới 365m ởvùng độ sâu 1500m nước, ra xahơn chiều dày mỏng dần

Trong đó: B: Độ sâu đáy biển (m); C: Chiều dày tầng GHSZ (m)

Hình 3 Đường đặc tuyến biểu diễn điều kiện áp suất và nhiệt độ

để hình thành gas hydrate phụ thuộc vào hàm lượng CH 4

(100% CH 4 , 95,9% CH 4 và 90,4% CH 4 ) [13]

Hình 4 Biểu đồ chiều dày tầng GHSZ tính được theo độ sâu đáy biển

khu vực biển Đông cho các gas hydrate loại I, II và H

Trang 33

diện tích phân bố của tầng GHSZ

trên toàn bộ biển Đông là 1,7 x

giải phóng từ gas hydrate ở điều

kiện tiêu chuẩn được tính toán

theo công thức sau [13]:

Trong đó: S: Diện tích phân

dày trung bình của tầng GHSZ; e:

Độ bão hòa của gas hydrate

trong trầm tích (%); E: Giá trị khí

trong điều kiện tiêu chuẩn

Theo các số liệu thống kêtrên thế giới nồng độ bão hòa củagas hydrate trong trầm tích thayđổi trong khoảng e = 0,9 - 1,5%

[5, 17] Hiện tại khu vực biểnĐông chưa có số liệu thống kê về

hệ số e, nên trong tính toán nàychúng tôi chọn giá trị trung bìnhcủa số trên, e = 1,2% Theo Yu

và n.n.k [32], ước đoán một cáchlạc quan là gas hydrate có thểtồn tại ở ½ diện tích vùng sườnlục địa Một số kết quả thống kêkhác trên một số vùng sườn lục

địa ước đoán chỉ tồn tại khoảng30-40% diện tích sườn lục địa[5] Để tính toán trong bài báonày chúng tôi chọn lượng gashydrate chỉ tồn tại ở khoảng 30%diện tích của vùng sườn lụa địa

độ và áp suất tiêu chuẩn là 164

H ) [22] Từ các số liệu trên, ápdụng công thức (10) tính được

biển Đông ở điều kiện tiêu chuẩnnhư Bảng 2

STT Khu vực

Diện tích (Km 2 )

Trữ lượng

CH 4 đối với loại H (m 3 )

Trữ lượng

CH 4 đối với loại ll (m 3 )

Trữ lượng

CH 4 đối với loại l (m 2 )

1 Toàn bộ sườn lục địabiển Đông từ 300m-300m nước

ở điều kiện tiêu chuẩn trên biển Đông

Hình 5 Sơ đồ chiều dày tầng GHSZ tính cho gas hydrate loại H (a); loại II và loại I

ƯỚC TÍNH TRỮ LƯỢNG GAS

HYDRAT

(m3)

Ngày đăng: 08/03/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Phức hệ magma Mezozoi muộn - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 1. Phức hệ magma Mezozoi muộn (Trang 18)
Hình 3. Sơ đồ địa động lực Đông Nam Âu-Á - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 3. Sơ đồ địa động lực Đông Nam Âu-Á (Trang 19)
Hình 5. Hình thể hiện đứt gãy trượt ĐB-TN với các đứt gãy - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 5. Hình thể hiện đứt gãy trượt ĐB-TN với các đứt gãy (Trang 20)
Hình 11. Mặt cắt địa chấn thể hiện nghịch đảo - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 11. Mặt cắt địa chấn thể hiện nghịch đảo (Trang 22)
Hình 10. Bản đồ thể hiện bình đồ đứt gãy với hệ thống trượt - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 10. Bản đồ thể hiện bình đồ đứt gãy với hệ thống trượt (Trang 22)
Hình còn tiếp tục bị biến dạng bởi các quá trình tân - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình c òn tiếp tục bị biến dạng bởi các quá trình tân (Trang 26)
Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu. Độ sâu đáy biển, vị trí - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu. Độ sâu đáy biển, vị trí (Trang 30)
Hình 3 là được đặc tuyến biểu diễn điều kiện - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 3 là được đặc tuyến biểu diễn điều kiện (Trang 31)
Hydrate như trên Hình 4. Hình 4 cho thấy chiều dày tầng GHSZ phụ thuộc vào độ sâu nước biển - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
ydrate như trên Hình 4. Hình 4 cho thấy chiều dày tầng GHSZ phụ thuộc vào độ sâu nước biển (Trang 32)
Hình 3. Đường đặc tuyến biểu diễn điều kiện áp suất và nhiệt độ - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 3. Đường đặc tuyến biểu diễn điều kiện áp suất và nhiệt độ (Trang 32)
Bảng 2. Kết quả tính trữ lượng khí CH 4 - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Bảng 2. Kết quả tính trữ lượng khí CH 4 (Trang 33)
Hình 2. Đồ thị hàm xich ma với a = 0,5 và b = -8 - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 2. Đồ thị hàm xich ma với a = 0,5 và b = -8 (Trang 37)
Hình 6 là đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa độ - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 6 là đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa độ (Trang 38)
Hình học máy thu và nguồn nổ - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình h ọc máy thu và nguồn nổ (Trang 41)
Hình 5. Tài liệu sonic được hiệu chỉnh - Xác định chiều dày tầng hình thành và ổn định gas hydrate trên biển đông pot
Hình 5. Tài liệu sonic được hiệu chỉnh (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w