Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong việc dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo Tây nguyên.. Nghiên cứu các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, người ta không thể không nhắc đ
Trang 1Tiểu luận
người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên
Trang 2
Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc
nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên
Zelenkova Maria
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học; Mã số: 60 31 50
Người hướng dẫn: GS TS Mai Ngọc Chừ
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Tìm hiểu những thủ tục liên quan đến việc làm nhà (chọn ngày giờ, hướng
nhà, chọn gỗ, …) Miêu tả cấu trúc của hai loại nhà chủ yếu: nhà cộng đồng và nhà ở Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong việc dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo Tây nguyên
Keywords Châu Á học; Dân tộc Nam Đảo; Tây Nguyên; Dựng nhà; Phong tục dân
gian
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm giữa bàn đảo Đông Dương, Tây Nguyên là một cao nguyên rộng lớn ở Tây - Nam Trung Bộ; là vùng chiến lược cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng; là cầu nối giữa hai miền Nam - Bắc Thêm nữa, Tây Nguyên cũng
có thể coi là một trong những trung tâm văn hóa lớn của Đông Nam Á Cho đến nay,
xã hội của các tộc người Tây Nguyên vẫn còn mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của tổ tiên Điều đó được thể hiện ở nhiều bình diện như cách thức sản xuất, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống, phương thức vận chuyển và đi lại, quan hệ trong gia đình, nghệ thuật
Nghiên cứu các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, người ta không thể không nhắc đến nhóm Nam Đảo (hay còn gọi là nhóm Chàm), bao gồm các tộc người Ê-đê, Chăm, Gia-rai, Ra-glai và Chu-ru Từ lâu các tộc người này đã có sự giao thoa văn hóa
Trang 3lẫn nhau mà một trong những biểu hiện của sự giao thoa ấy chính là những tương đồng
về các phong tục xây dựng nhà, kiến trúc nhà cộng đồng và nhà ở
Bị lôi cuốn bởi những nét độc đáo trong phong tục dựng nhà và cấu trúc nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam”
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các phong tục liên quan đến việc dựng nhà của các tộc người nhóm Nam Đảo Phạm vi nghiên cứu là 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhóm Nam Đảo nói chung và các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam nói riêng có vai trò cực kì quan trọng, là một trong những mảng đề tài hàng đầu được các nghiên cứu dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hoá học, khu vực học, …đặc biệt quan tâm
Vấn đề phong tục tập quán của nhóm Nam Đảo đã được một số tác giả và tập thể tác giả trong giới sử học, dân tộc học, văn hoá học nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh khác nhau
Việc nghiên cứu các tộc người Tây Nguyên (trong đó có cả các tộc người nhóm Nam Đảo) đã trải qua quá trình lâu dài hàng thế kỷ trước đây, trước nhất là từ các học giả hay các viên quan cai trị người Pháp, với các tên tuổi nổi tiếng, như J.Dournes, Henry Maitre, G.Condominas…
Cuốn “Người Ê-đê: một xã hội mẫu quyền” của Anne de Hautecloque - Howe
đánh dấu sự mở đầu quan tâm cụ thể đến nhóm tộc người Nam Đảo ở Việt Nam Bà Anne de Hautecloque - Howe đại diện cho nhóm học giả thế hệ thứ hai nghiên cứu về Tây Nguyên Đặc trưng nổi bật trong việc nghiên cứu của bà là việc nghiên cứu thực tế: bà đã sống và làm việc ở Đắc Lắc, thu tập tài liệu có giá trị thực tế Từ đó nhiều học giả thế hệ sau rút ra cách thức nghiên cứu và tiếp tục sự nghiệp to lớn của bà
Đánh dấu nghiên cứu phong tục dựng nhà của người nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam là cuốn sách của học giả Nguyễn Văn Luận có tên “Nhà người Chăm” Đây là cuốn sách thu thập những thông tin cơ bản nhất về kiến trúc, phong tục xây dựng và các thủ tục liên quan đến việc dựng nhà của người Chăm
Trang 4Cuốn “Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên” của Linh Nga
Niê Kdam là tài liệu rất có giá trị đối với người nghiên cứu về phong tục dựng nhà của các tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam Cuốn sách này thu thập và giới thiệu về những nghề truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên, trong đó việc dựng nhà được xem xét như nghề hàng đầu trong nền văn hóa tộc người thiểu số
Trong tác phẩm“Nhà ở của người Chăm Ninh Thuận” tác giả Lê Duy Đại xem
xét cụ thể phong tục dựng nhà của người Chăm Ninh Thuận Tác phẩm này rất có giá trị vì trong đó tác giả thu tập và miêu tả rất rõ phần lớn các nghi lễ và thủ tục liên quan đến việc dựng nhà của người Chăm cũng như đưa ra những hình ảnh rõ ràng về kiến trúc nhà truyền thống Chăm
Cuốn “Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam” của Chu Quang Trứ đã trở
thành cơ sở trong việc nghiên cứu đề tài phong tục dựng nhà của người nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam Cuốn sách phản ánh sự đa dạng và bản sắc riêng biệt của kiến trúc các kiểu nhà ở và nhà cộng đồng của nhiều tộc người Việt Nam, trong
đó, tác giả chú ý đặc biệt đến nhà Rông Gia-rai, nhà dài Ê-đê, nhà sàn Chăm
Phong tục dựng nhà của các dân tộc Nam Đảo đã ít nhiều trở thành chủ thể
nghiên cứu trong những cuốn như “Văn hóa Việt Nam: nhìn từ Mỹ thuật”của Chu Quang Trứ , “Hỏi đáp về 54 dân tộc Vịet Nam” của Đặng Việt Thủy, “Tây Nguyên:
vùng đất và con người” của Đinh Văn Thiên, “Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên” của Nguyễn Tấn Đắc và nhiều tác phẩm khác
Những tài liệu được công bố nói trên luôn là những tài liệu quan trọng giúp
chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Phong tục dựng nhà của
các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam”
4 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây
Nguyên Việt Nam, chúng tôi muốn nêu bật những đặc trưng văn hoá của các tộc người
Nam Đảo Tây Nguyên trong việc xây dựng nhà cửa, từ đó góp phần làm sáng tỏ giá trị
và bản sắc văn hoá của các tộc người Nam Đảo ở Tây Nguyên trong cộng đồng văn hoá Việt Nam
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng vào 3 nhiệm vụ trọng yếu như sau:
Trang 5- Tìm hiểu những thủ tục liên quan đến việc làm nhà (chọn ngày giờ, hướng nhà, chọn gỗ, …);
- Miêu tả cấu trúc của hai loại nhà chủ yếu: nhà cộng đồng và nhà ở;
- Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong việc dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo Tây nguyên
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên và đạt được mục tiêu đề ra ở đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh - đối chiếu
7 Bố cục của luận văn
Luận văn được trình bày theo một trật tự kết cấu như sau:
Mở đầu
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ CÁC TỘC NGƯỜI NHÓM NAM ĐẢO Ở TÂY
NGUYÊN
Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo (Austronesian) hay Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polynesian) tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaysia, một số ở Campuchia, Việt Nam và Singapore
Về đặc điểm nhân chủng nhóm Nam Đảo (số với các nhóm tộc người khác) có những nét tiêu biểu:
- Nước da sẫm hơn;
- Pha trộn giống mạnh hơn
Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo nói một thứ tiếng phân bố rộng rãi từ Madagascar, qua bán đảo Mã Lai, Indonesia cho đến Hawaii Nhóm ngôn ngữ châu
Trang 6Đại Dương của người Nam Đảo (Austronesian) thường gọi là tiếng Mã Lai – Đa Đảo (Malayo - Polynesian)
Nếu căn cứ vào lịch sử thì nhóm ngôn ngữ Nam Đảo được hình thành vào khoảng Thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay Do sản xuất phát triển và dân số tăng, họ đã di cư xuống Đông Nam Á nhiều đợt theo hai hướng chính
Hướng thứ nhất dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam Người Chăm dừng lại ở đây rồi đến miền Tây Indonexia, từ đó đi về Đông và Đông Bắc đến Philippin và
Đà Loan
Hướng thứ hai qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Indonexia qua Đông Dương
Xét về mặt địa lý, các tộc người Nam Đảo sống rải rác trên những quần đảo, nên mặc dù văn hóa các tộc người phát triển, nhưng một quốc gia thống nhất lại ra đời khá muộn
Về văn hóa và tôn giáo, trước kia các tộc người Nam Đảo chịu ảnh hưởng của văn hóa và chữ viết Ấn Độ, cũng theo Ấn độ giáo và Phật giáo Từ thế kỷ XV trở đi, Islam giáo và văn hóa Ả rập đã lan truyền vào vùng Malayo – Polynesia Ngày nay, đa
số tộc người thuộc nhóm Nam Đảo (nhất là ở Malaysia và Indonesia) theo Islam giáo
và văn hóa Ả rập
Trong con số kỷ lục hơn 181 000 000 người dân Nam Đảo đang cư trú ở Đông Nam Á chỉ có khoảng 830 000 người sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay Như đã nói, họ là người của 5 tộc người: Gia-rai, Ê-đê, Ra-glai, Chăm và Chu-ru
1.2 Nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên
Ở Việt Nam có 5 tộc người đại diện cho ngữ hệ Nam Đảo, đó là tộc người Chăm, tộc người Ê-đê, tộc người Gia-Rai và các tộc người Ra-Glai, Chu-Ru Các tộc người nay do nhiều nguyên nhân lịch sử - tự nhiên có nhiều đặc điểm chung, nhưng cũng có nét riêng
1.2.1 Lịch sử hình thành
Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo được hình thành vào khoảng Thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay Do sản xuất phát triển và dân số tăng, họ đã di cư xuống Đông Nam Á nhiều đợt theo hai hướng chính
Trang 7Hướng thứ nhất dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam Người Chăm dừng lại ở đây rồi đến miền Tây Indonexia, từ đó đi về Đông và Đông Bắc đến Philippin và
Đà Loan Hướng thứ hai qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Indonexia qua Đông Dương
Một bộ phận tổ tiên dân Nam Đảo mà đã vào bờ biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trở thành yếu tố cấu thành tộc người Việt Có thể là người Chăm chính là những người đầu tiên đến ở dọc theo ven biển Việt Nam Sau đó có một nhóm người chia ra đi lên núi…dần dần hình thành 4 tộc người khác (Gia-rai, Ê-đe, Ra-glai, Chu-ru) Nhưng cũng có thể cư dân Nam Đảo từ phương Bắc xuống phương Nam không chỉ bằng đường biển mà cả đường bộ, nhất là người Ê-đê và Gia-rai
1.2.2 Địa bàn phân bố, dân số
Ngày nay ở Việt Nam có trên 800 000 người nói ngôn ngữ Malayo – Polynesia được xếp thành 5 tộc người: Gia-rai, Chăm, Ê-đê, Chu-Ru, Ra-glai Trừ người Chăm tập trung dọc theo bờ biển Miền Trung tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở Phú Yên, Khánh Hòa, một bộ phận ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, còn lại các dân tộc khác đều cư trú ở Tây Nguyên
1.2.3 Đời sống vật chất
Tuy là 5 tộc người khác nhau nhưng đời sống vật chất của họ có nhiều tập quán gần như đồng nhất Tuy nhiên có một tình hình đáng chú ý là phong tục tập quán của người Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru lại có nhiều điểm không tương đồng với phong tục tập quán của người Chăm, cho dù cùng thuộc một hệ ngôn ngữ
Các tộc người Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru thường quần cư bên nhau ở những nơi bằng phẳng, hoặc các sườn đồi thấp, gần những dòng sông, dòng suối (bến nước), trong một cơ sở hành chính gọi là buôn, bon, plây hoặc plơi, gồm vài chục nếp nhà sàn Còn người Chăm chủ yếu định cư ở những vùng đồng bằng và dọc theo đường biển
Các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam đã định canh định cư và làm ruộng
từ lâu đời Nghề trồng trọt chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ yếu Ngoài ra, người ta còn trồng thêm ngô, khoai, sắn, lạc và một số loại rau, đậu trong rẫy hoặc trong vườn
Người Chu-ru và người Chăm từ xa xưa có kinh nghiệm nhất là về làm thủy lợi nhỏ và điều tiết lượng nước trong từng thời kì sinh trưởng của cây lúa Họ thường làm
Trang 8mương phai và đê đập để dẫn nước từ sông, suối vào ruộng Riêng tộc người Ra-glai trước đây không có truyền thống làm ruộng nước nhưng bây giờ thì cũng đã biết cách làm Còn đối với người Gia-rai thì lúa tẻ từ xa xưa đến nay vẫn là cây lương thực chính
Hỗ trợ đắc lực cho ngành trồng trọt, các tộc người nhóm Nam Đảo còn chăn nuôi: trâu, bò, dê, ngựa, và nhiều loại gia cầm như: gà, vịt, ngan, ngỗng Trâu, bò thường dung làm sức kéo trong nông nghiệp, ngựa dùng làm phương tiện chuyên chở cho những chuyến đi xa trao đổi hàng hóa với các dân tộc láng giềng Trong các loại gia súc lớn, trâu được nuôi nhiều hơn cả Ngoài việc dùng làm sức kéo, trâu còn dùng trong các lễ nghi, tín ngưỡng cổ truyền, cưới xin hoặc dùng làm vật ngang giá để mua bán, trao đổi Người Gia-rai còn nuôi cả voi Ngoài ra các tộc người còn đi săn bắt, hái lượm và đánh cá
Những sản phẩm thủ công của các tộc người Nam Đảo chủ yếu là đồ dùng gia đình bằng mây tre, các công cụ từ rèn như liềm, cuốc, nạo cỏ, phục vụ cho sản xuất và đời sống hàng ngày Người Chăm và Chu-ru rất nổi tiếng với nghề làm gốm
Ngoài những nghề kể trên, các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam còn biết dệt vải, rèn và đan lát, chẳng hạn người Gia-rai thạo đan lát các loại gùi, giỏ
1.2.4 Một số nét văn hoá tiêu biểu
Các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam là các tộc người tuân theo chế độ mẫu hệ Mặc dầu trong gia đình đàn ông đóng vai trò quan trọng, nhưng chủ gia đình
là phụ nữ cao tuổi Con cái thường lấy họ của mẹ Nhà gái cưới chồng cho con Con trai ở rể nhà vợ Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải
về với chị, em gái mình Nếu chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình
mẹ đẻ Chỉ có con gái được thừa kế tài sản của gia đình, đặc biệt là con gái út, vì phải nuôi cha mẹ già
Các tộc người Nam Đảo có kho tàng văn học truyền miệng vô cùng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, trường ca, sử thi Tất cả các tộc người nhóm Nam Đảo yêu ca hát và thích tấu nhạc Nhạc cụ của người dân Nam Đảo gồm nhiều loại: chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, các loại đàn
Người dân nhóm Nam Đảo có rất nhiều lễ nghi phong phú Các lễ thức theo tập quán có thể chia làm ba hệ thống, đều phục vụ cho ba mục đích chính là cầu xin, tạ ơn
và tạ lỗi:
Trang 9- Hệ thống lễ thức theo nông lịch;
- Hệ thống lễ thức theo vòng đời và trong cộng đồng;
- Hệ thống lễ thức trong các mối quan hệ xã hội ngoài cộng đồng
Có những lễ thức phải tiến hành thường kỳ trong những khoảng thời gian nhất định của một năm Nhưng cũng có những lễ thức chỉ khi cần thiết mới được tổ chức
Khác với người Chăm có hệ thống đền thờ (Tháp), có chủ thể và hiện vật thờ cúng (bà Chúa Pônaga, các Linga, Yôni…), 4 tộc người còn lại (Ê-đê, Gia-rai, Chu-ra, Ra-glai) truyền thống theo quan điểm “vạn vật hữu linh, đa thần”, các thần linh (gọi là Yang) hiện diện ở khắp nơi, chi phối toàn bộ đời sống Tây Nguyên cổ đại Hệ thống các Yang được chia làm ba tầng theo địa điểm cư trú: trên trời, mặt đất và dưới đất Ở mỗi nơi đều có các thần tốt và thần xấu Mối quan hệ giữa các vị thần linh và con người không chỉ tương đồng mà còn rất gần gũi
Hiện nay phần lớn người Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai và Chu-ru theo đạo Tin lành và đạo Thiên chúa Một số ít theo Phật giáo tại các vùng đô thị Riêng người Chăm có tín ngưỡng khác biệt với các tộc người khác cùng nhóm Hiện nay, trong đời sống người Chăm vẫn còn tồn tại hình thức tô-tem giáo thể hiện qua tục thờ các loại cây, thờ dòng núi (atau cek), dòng biển (atau tasik) của các dòng họ Chăm, cũng như nhiều loại ma thuật, bùa chú như bùa bát quái, bùa Homkar để cầu phúc chữa bệnh hay để trấn yểm, xua đuổi các tà ma Mặc dù chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo, Hồi giáo, nhưng người Chăm vẫn duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
1.2.5 Nhà trong quan niệm của các tộc người nhóm Nam Đảo
Tổ tiên người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam từ lúc đầu đã rất chú trọng đến việc lập làng và dựng nhà Trong nền văn minh nông nghiệp, người nông dân sống trong một môi trường khoáng đạt, sinh hoạt theo chu kỳ thời gian là mùa vụ, và nghỉ ngơi theo hội hè, tết nhất, tạo nên một nhịp sống thong thả Với nền kinh tế nông nghiệp, người nông dân hiểu rõ đất, nước, cây trồng và vật nuôi, do đó mà họ thực sự gần gũi
và yêu mến thiên nhiên Nhà của các tộc người Nam Đảo không dùng đến đinh, hoàn toàn là mây tre buộc và gá ngàm gỗ vào nhau Cũng hiếm khi dùng bào, đục, cưa, mà chỉ với những chiếc dao, rìu do chính thợ rèn của họ làm ra
Nhà truyền thống của dân Ê-đê, Ra-glai, Gia-rai, Chu-ru là nhà sàn Mang nặng đặc tính mẫu hệ, nên mỗi khi có một cô con gái lấy chồng, hoặc thêm một cặp vợ chồng trẻ, nhà sàn lại được nối thêm một ngăn Càng nhiều con, nhà càng dài
Trang 10Còn nhà ở của người Chăm hầu như không mang đặc điểm chung với nhà của các tộc người nhóm Nam Đảo khác Nhà của người Chăm là một quần thể nhà trong một khuôn viên Mối quan hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình rạn
vỡ của hình thái gia đình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ với các ngôi nhà ngắn
Nhà trong quan niệm của người Nam Đảo được coi như một vật có phần linh thiêng, vì nó được làm bằng gỗ, mà gỗ dưới dạng cây cối trong rừng là nơi trú ngụ của các vị thần (Yang) Hơn nữa, nhà là môi trường sản sinh, tích hợp, giữ gìn và lưu truyền văn hóa của gia đình và cộng đồng Chính trong nhà diễn ra nhiều việc quan trọng như sinh đẻ, cưới xin, tang ma
Các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam là những tộc người không có tập quán du cư, cho nên vai trò làng và vai trò nhà trong cộng đồng của các tộc người này
vô cùng quan trọng Tất cả mọi việc bắt đầu từ làng, còn làng thì bắt đầu từ nhà
Chương 2: MỘT SỐ THỦ TỤC LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LÀM NHÀ
Việc dựng nhà không chỉ là quá trình dựng các cột và tường mà còn bao gồm nhiều công việc chuẩn bị từ trước, các nghi lễ có liên quan và một số thủ tục không thể thiếu trong khi dựng cất
2.1 Chọn đất
Người dân Nam Đảo chọn mảnh đất làm nhà phải rộng, vuông vắn, bằng phẳng Người Chăm thì còn nghĩ rằng đất lý tưởng nhất khi dựng làng hay lập khuôn viên là
có núi phía nam, sông phía bắc, cao phía nam, thấp phía bắc hoặc cao phía tây, thấp phía đông và đất có cây cỏ quanh năm xanh tốt
Về mặt vị trí địa lý, các dân tộc Gia-rai, Ê-đê, Chu-ru, Ra-glai thích chọn đất gần các bến sông, suối Riêng người Gia-rai do cư trú gần sông lớn nên chân cột nhà sàn của họ thường cao hơn so với chân cột của nhà sàn các dân tộc khác
Người dân Nam Đảo rất thích có rừng ở gần nhà, cũng như thích trồng cây ở ngoài sân và ở đằng sau nhà ở Riêng người Chăm theo truyền thống không trồng cây gần nhà vì họ nghĩ rằng cây cối là nơi trú ngụ của ma quỷ Nhưng hiện nay xu hướng này mất đi và chúng ta vẫn có thể thấy cây ở xung quanh khuôn viên người Chăm