Luật NSNN năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHẠM QUANG DŨNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người cam đoan
Phạm Quang Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: TS Lê Đình Hải
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Phạm Quang Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý thu ngân sách nhà nước 4
1.1.1 Ngân sách nhà nước 4
1.1.2 Thu ngân sách nhà nước 7
1.1.3 Quản lý thu ngân sách nhà nước 13
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước 25
1.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý thu ngân sách nhà nước 27
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hòa Bình 27
1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 31
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Hòa Bình 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 40
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 42
Trang 52.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 42
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Tổ chức bộ máy quản lý và công tác ban hành các văn bản pháp luật về thu NSNN của UBND tỉnh Hòa Bình 44
3.1.1 Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN của UBND tỉnh Hòa Bình 44
3.1.2 Ban hành các văn bản về thu ngân sách địa phương của tỉnh Hòa Bình 46 3.2 Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 48
3.2.1 Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 48
3.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 62
3.3 Đánh giá chung về kết quả và hạn chế của công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 70
3.3.1 Kết quả đạt được 70
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
3.4 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 74
3.4.1 Định hướng phát triển kinh tế tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới 74
3.4.2 Mục tiêu hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 79
3.4.3 Quan điểm hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới 81
3.4.4 Các giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 81
3.5 Kiến nghị 91
3.5.1 Kiến nghị với Chính phủ 91
3.5.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
TCS Chương trình ứng dụng thu theo dự án hiện đại hóa
thu ngân sách nhà nước UBND Ủy Ban Nhân Dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Số lượng phiếu điều tra cán bộ 41
Bảng 2.2 Số lượng phiếu điều tra doanh nghiệp, hộ kinh doanh 41
Bảng 3.1 Tổng hợp dự toán thu NSNN giai đoạn 2016 - 2018 49
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thu NSNN giai đoạn 2016 - 2018 52
Bảng 3.3 Đánh giá kết quả thu NSNN năm 2016 54
Bảng 3.4 Đánh giá kết quả thu NSNN năm 2017 55
Bảng 3.5 Đánh giá kết quả thu NSNN năm 2018 56
Bảng 3.6 Tổng hợp thu NSNN theo nội dung trên địa bàn 3 huyện, thành phố năm 2018 58
Bảng 3.7 Quyết toán thu NSNN trong 3 năm (2016 - 2018) 60
Bảng 3.8 Kết quả thanh tra, kiểm tra thu ngân sách nhà nước 62
Sơ đồ 3.1 Quy trình quản lý thu ngân sách nhà nước tỉnh Hòa Bình 64
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý về công tác quản lý thu ngân sách tỉnh Hòa Bình 66
Bảng 3.10 Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý thu NSNN tỉnh Hòa Bình 67
Bảng 3.11 Đánh giá của doanh nghiệp, hộ kinh doanh về năng lực của cán bộ quản lý thu ngân sách nhà nước tỉnh Hòa Bình 68
Bảng 3.12 Đánh giá của cán bộ quản lý về cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu ngân sách 69
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Quản lý thu NSNN là một trong những nội dung quan trọng của quản
lý tài chính công Từ những năm 90 đến nay cùng với quá trình đổi mới chính sách, chế độ thu NSNN, cơ chế quản lý thu NSNN ở Việt Nam không ngừng được đổi mới và hoàn thiện theo tinh thần của công cuộc cải cách hành chính của nước nhà Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy nên thời gian qua, công tác quản lý thu NSNN rất được chú trọng Luật NSNN và các văn bản dưới luật đã góp phần đổi mới cơ chế quản lý NSNN cũng như cơ chế quản lý thu NSNN, góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy cơ quan thu thống nhất từ Trung ương đến địa phương góp phần đổi mới quy trình thu, phương thức quản lý thu NSNN Nhờ đó, công tác quản lý thu NSNN đã đạt được những kết quả nhất định: Số thu được tập trung đầy đủ, kịp thời vào NSNN và được quản lý ngày một chặt chẽ, thống nhất, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp, góp phần ổn định và phát triển kinh tế của cả nước
Trong những năm quan, công tác quản lý thu ngân sách nhà nước của tỉnh Hòa Bình cơ bản đã đi vào nề nếp và ngày càng được đổi mới, hoàn thiện
Do đó, công tác thu ngân sách trên địa bàn trong những năm qua đạt khá cao, năm sau luôn cao hơn năm trước và đều vượt dự toán được giao, góp phần tích cực vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh Tuy vậy, công tác quản
lý thu NSNN trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định: Thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình”
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh H a Bình, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước
- Đánh giá thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Thực trạng và giải pháp thu quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn trên bàn tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ năm 2016 - 2018, số liệu sơ cấp được thu thập từ 11/2018 đến 4/2019
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước
- Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn trên bàn tỉnh Hòa Bình
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 10- Các giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên bàn tỉnh Hòa Bình
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước;
- Chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 111.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển của các mối quan hệ hàng hóa, tiền tệ Nhà nước ra đời đã ban hành các luật thuế
để lấy tiền chi tiêu Song, cho tới chế độ phong kiến, việc thu chi của nhà nước rất tùy tiện, chủ yếu là theo quyết định của Nhà vua Do đó, mọi khoản thu - chi không có kế hoạch trước, không có niên độ, cũng không có sự tính toán phân loại và không có luật lệ điều chỉnh Chỉ đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, giai cấp tư sản đấu tranh đ i Nhà nước phải hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực kinh tế, đ i thiết lập trình tự lập kế hoạch chi tiêu và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với việc chi tiêu của nhà nước thì các nhân tố của NSNN mới được quy tụ đầy đủ và NSNN mới được hình thành với các đặc trưng của nó, đó là tính kế hoạch dự toán tính cân đối thu chi và tính niên độ
Như vậy, có thể nói, sự tồn tại của Nhà nước và sự phát triển của kinh
tế hàng hóa, tiền tệ quyết định sự tồn tại của NSNN Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia
Theo thuật ngữ Tài chính - Tín dụng, thuật ngữ Ngân sách bắt nguồn từ tiếng nước ngoài có nghĩa là “cái túi” Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này đã thóat ly ý nghĩa ban đầu và nội dung hoàn toàn khác Theo đó, Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập tiền thu vào
và chi tiêu tiền chi ra của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân, trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Trang 12Luật NSNN năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [8]
Như vậy, NSNN chính là tất cả các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định (Ở Việt Nam là Quốc Hội), các khoản thu, chi đó được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 01 năm) và để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Bản chất của NSNN là các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể khác ở trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách
1.1.1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN có các đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực
của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước Sự ra đời, tồn tại
và phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện, tồn tại của NSNN Ngược lại, NSNN là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước;
- Thứ hai hoạt động thu chi NSNN được thực hiện trên cơ sở những
luật lệ do nhà nước quy định Nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng NSNN cho nhu cầu chung của cả nước;
- Thứ ba, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng
lợi ích chung, lợi ích công cộng Hoạt động thu chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của nhà nước, là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia Lợi ích của nhà nước (đại diện cho lợi ích chung của quốc gia) thể hiện cả
Trang 13trong phân phối thu nhập của doanh nghiệp, của dân cư, phân phối GDP, GNP và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế -
xã hội, an ninh - quốc phòng của quốc gia [23]
1.1.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước
Sự tồn tại và phát triển không ngừng của định chế ngân sách nhà nước cho tới ngày nay đã chứng tỏ vai trò không thể thiếu của NSNN trong đời sống xã hội và thế giới đương đại Vai trò ảnh hưởng của ngân sách nhà nước bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực, trong đó đáng kể nhất là sự ảnh hưởng của ngân sách nhà nước tới khu vực công và khu vực tư nhân
Trước hết, đối với khu vực công, ngân sách nhà nước là công cụ để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội Hoạt động điều tiết này được thực hiện thông qua việc huy động các nguồn tài nguyên như thuế, phí, lệ phí hay các khoản vay nợ của Nhà nước từ trái phiếu hoặc vay nợ nước ngoài để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu thiết yếu của nhà nước
về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy nhà nước Khi đó, ngân sách nhà nước là công cụ không gì thay thế được
để Chính phủ thực hiện thành công các chính sách của mình Trong tương lai NSNN vẫn sẽ đóng vai tr là công cụ, phương tiện hiệu quả, không gì thay thế được để thực thi các chương trình hoạt động của Chỉnh phủ
Bên cạnh đó giữa khu vực công và khu vực tư luôn có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, bổ trợ cho nhau nên việc vận hành hệ thống ngân sách của Chính phú tất yếu sẽ tác động mạnh mẽ tới khu vực tư nhân mà ở đó các cá nhân, hộ gia đình hay các doanh nghiệp là những chủ thể bị điều tiết thu nhập Thông qua công cụ ngân sách, Chính phủ điều tiết một phần thu nhập của một nhóm người này để san sẽ cho một nhóm người khác, góp phần đem lại sự công bằng tương đối về thu nhập giữa các giai tầng xã hội, đồng thời xây dựng hệ thống đường sá, cầu cống, công trình phúc lợi công cộng, hệ thống
Trang 14quốc phòng, an ninh mà khu vực tư nhân không thể cung cấp hoặc không muốn cung cấp Nói cách khác, ngân sách nhà nước như một cái “máy lọc”
mà qua đó các nguồn tài nguyên như (lợi tức quốc gia) sẽ được phân phối (thông qua chính sách thu ngân sách) và phân phối lại (thông qua chính sách chi tiêu của Chính phủ) theo một kế hoạch chi tiết, cụ thể và rất hoàn hảo
Với các vai trò là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước; là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững; và là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả thị trường rất mạnh
mẽ cho ta thấy ngân sách nhà nước giữ một vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc ph ng và đối ngoại của đất nước [24]
1.1.2 Thu ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
NSNN có hai nội dung hoạt động cơ bản là thu và chi, trong đó thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng các quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của nhà nước
Nếu xét về hình thức, thu NSNN là một quá trình gồm nhiều hành vi, hành động của nhà nước và có thể khái quát chúng thành ba nhóm, đó là: Nhà nước đề ra các chủ trương, phương hướng, mục tiêu về thu NSNN cho một khoảng thời gian hay một chu kỳ nào đó; nhà nước ban hành các chính sách, chế độ về thu NSNN: Ban hành các Luật, Pháp lệnh, Nghị định về thu thuế, phí, lệ phí ; nhà nước tổ chức các cơ chế để thực hiện việc thu nộp các khoản thu cụ thể cho NSNN
Xét về nội dung, thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng các quyền lực vốn có của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dưới dạng tiền tệ về tay nhà nước nhằm hình thành nên quỹ NSNN
Trang 15Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của nhà nước nhằm giải quyết hài Hòa các mặt lợi ích kinh tế Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như đáp ứng nhu cầu nguồn lực để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình [23]
1.1.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước
Thứ nhất, thu NSNN phản ánh các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong
quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội, được xác lập trên cơ sở luật định, gắn liền với quyền lực của Nhà nước
Thứ hai, thu NSNN có phạm vi rộng, liên quan đến hầu hết các đối
tượng trong xã hội Thực chất của thu NSNN là lấy về cho nhà nước một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Do đó, các tổ chức, cá nhân có thu nhập đều là đối tượng của hoạt động thu NSNN
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau,
nhưng trong đó chủ yếu là những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
Thứ tư thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của
các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN [11]
1.1.2.3 Vai trò của thu ngân sách nhà nước
Thứ nhất thu NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Dưới bất kỳ chế độ nào, nhà nước muốn thực thi các chức năng, nhiệm
vụ của mình, tất yếu phải có nguồn tài chính để đảm bảo cho hoạt động của
Trang 16nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Thu NSNN có vai trò chủ yếu trong việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính cần thiết để tạo lập quỹ NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu đã được dự tính cho từng giai đoạn phát triển
Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đ i hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây
là vai trò lịch sử của thu ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nhà nước nào cũng đều phải thực hiện
Thứ hai thu NSNN là công cụ điều tiết thị trường, điều chỉnh nền kinh
tế Trong nền kinh tế thị trường, thu NSNN là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để định hướng, hướng dẫn, kích thích, điều tiết sản xuất
và tiêu dùng Điều đó thể hiện trên một số mặt như sau:
- Thông qua thu NSNN, nhà nước góp phần định hướng và hướng dẫn sản xuất, kinh doanh Mức thu cao hay thấp sẽ tác động đến lợi ích của các chủ thể, và do đó có tác dụng định hướng đầu tư và điều tiết sản xuất Đối với các ngành, lĩnh vực không khuyến khích sản xuất hay tiêu dùng, thì tỷ lệ thu cao sẽ làm giảm nguồn lực đầu tư vào các ngành, lĩnh vực đó Ngược lại, đối với những ngành cần khuyến khích, tỷ lệ thu thấp có tác dụng khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất;
- Là công cụ tham gia trực tiếp vào việc hình thành các quan hệ và tỷ lệ phân phối thu nhập, thu NSNN không chỉ giúp nhà nước thực hiện việc hướng dẫn, kích thích hoặc điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh trên các mặt: thu nhập, cơ cấu ngành nghề, mà c n điều chỉnh cả mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu theo hướng bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Trang 17Thứ ba thu NSNN là công cụ góp phần thực hiện chức năng kiểm tra,
kiểm soát của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, vai trò kiểm tra, kiểm soát của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng Bởi vì, với nền kinh tế thị trường, ngoài những ưu điểm vốn có cũng có những khuyết tật khó tránh khỏi, nếu thiếu sự kiểm tra, kiểm soát của nhà nước Tùy theo từng thời kỳ mà nhà nước sử dụng những công cụ khác nhau để can thiệp vào những vấn đề đó ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Ngày nay, nhà nước can thiệp vào các vấn đề đó chủ yếu ở tầm vĩ
mô thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát bằng hệ thống pháp luật, hệ thống thuế Thông qua công cụ thuế, nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh trên các mặt chủ yếu như thu nhập, giá
cả mặt hàng, hoạt động xuất nhập khẩu
Thứ tư, là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt… một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao
Tóm lại, xét trên nhiều phương diện, thu NSNN có vai trò cực kỳ quan trọng Để phát huy vai trò tích cực của thu NSNN trong thực tế thì một trong những vấn đề quan trọng là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời Muốn vậy, phải xác định đúng đắn và quản lý tốt các nguồn thu của NSNN [24]
1.1.2.4 Nguồn thu và các khoản thu ngân sách nhà nước
* Nguồn thu
Nguồn thu của NSNN là tất cả các nguồn tài chính hình thành trong
Trang 18quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cả trong và ngoài nước
có khả năng động viên vào NSNN để hình thành quỹ NSNN Việc xác định đúng đắn nguồn thu là cơ sở quan trọng để xây dựng chế độ động viên thích hợp, tránh bỏ sót nguồn thu, đồng thời hạn chế được tác động tiêu cực của thu NSNN đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng cơ sở Giá trị tổng sản phẩm quốc gia và giá trị các tài sản khác của quốc gia đều là nguồn tài chính, nhưng chỉ những nguồn tài chính thông qua phân phối có khả năng động viên vào NSNN mới được coi là nguồn thu của NSNN
Tùy theo nhu cầu của việc phân tích, đánh giá phục vụ cho công tác quản lý cũng như phục vụ cho việc điều chỉnh các chính sách động viên, người ta có thể phân loại nguồn thu NSNN theo các tiêu thức khác nhau:
- Căn cứ vào sự biểu hiện của nguồn thu, ta có thể chia ra nguồn thu thực tế (đang thực hiện) và nguồn thu tiềm năng;
- Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh nguồn thu, chúng ta có thể phân chia thành nguồn thu từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ;
- Căn cứ theo người có nghĩa vụ nộp ngân sách, chúng ta có thể phân chia nguồn thu theo thành phần kinh tế: thu từ xí nghiệp quốc doanh, thu ngoài quốc doanh, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ;
- Căn cứ vào phân cấp quản lý nguồn thu giữa các cấp ngân sách, chúng ta có thể phân chia nguồn thu theo trách nhiệm quản lý và quyền sử dụng nguồn thu của các cấp chính quyền đối với các khoản thu phát sinh trên từng địa bàn như: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu cân đối ngân sách địa phương và thu quản lý qua ngân sách, thu chuyển giao giữa các cấp ngân sách
Ngoài ra, chúng ta có thể phân chia thành nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu nội địa
Trang 19* Các khoản thu ngân sách nhà nước
Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [8]
Trong đó, nội dung của một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước ta hiện nay như sau:
- Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Là một hình thức huy động tài chính cho nhà nước đã có từ lâu đời, thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước Nền kinh tế quốc dân càng phát triển thì nguồn thu của nhà nước từ thuế chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng thu NSNN Đồng thời, thuế còn là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân nên, nội dung của chính sách thuế có sự thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống kinh tế - xã hội và phù hợp với yêu cầu quản lý của nhà nước Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế
sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất ;
- Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà công dân phải trả cho
Trang 20nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp Do đó, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn so với thuế Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân;
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước Đây là khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Các khoản thu chủ yếu trong nhóm thu này là: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
1.1.3 Quản lý thu ngân sách nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước
Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện Như đã nói ở trên, thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu Không chỉ là nguồn thu quan trọng nhất của NSNN, thuế còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Do đó, để quản lý tốt nguồn thu NSNN, cũng là để phát huy tối đa tác dụng điều tiết kinh tế vĩ mô, nhà nước đã thường xuyên thay đổi các chính sách thuế cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống KT - XH và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính quốc gia [11]
Trang 211.1.3.2 Đặc điểm quản lý thu ngân sách nhà nước
Quản lý thu NSNN có các đặc điểm sau:
- Một là, thu NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán Mọi
nhà nước đều quản lý thu NSNN bằng luật;
- Hai là, quản lý thu NSNN sử dụng một hệ thống tổng hợp các biện
pháp nhưng biện pháp quan trọng nhất là biện pháp tổ chức - hành chính theo hai hướng: Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy, quy định tính chất, mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện thành lập, điều lệ hoạt động, mối quan hệ trong và ngoài tổ chức… và chủ thể đưa ra các quyết định quản
lý buộc cấp dưới hoặc cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện những nhiệm vụ nhất định
Đặc trưng của phương pháp quản lý hành chính là cưỡng chế đơn phương của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý bằng việc nhà nước thống nhất tập trung việc ban hành cơ chế, chính sách về quản lý thu từ khâu lập, chấp hành, kế toán và quyết toán thu NSNN [23]
1.1.3.3 Vai trò của quản lý thu ngân sách nhà nước
Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để
kiểm soát, điều tiết các hoạt động SXKD của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế để ổn định và phát triển nền kinh tế, chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp
Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn
lực tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đ i hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải
Trang 22có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do quản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại
Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán
chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế
Thứ tư, quản lý thu NSNN góp phần tạo môi trường bình đẳng, công
bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình SXKD Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độ miễn giảm công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKD của cơ sở Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh tế thuận lợi đối với quá trình SXKD Đồng thời nó là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội
Thứ năm, quản lý thu NSNN có vai tr tác động đến sản lượng và sản
lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mức thường dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng Trong nền KTTT, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quy
mô sản lượng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và hộ kinh doanh
1.1.3.4 Nguyên tắc quản lý thu ngân sách nhà nước
Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Nguyên tắc này đ i hỏi
trong hoạt động ngân sách, một mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích qua huy động ngân sách để có được những hàng hóa, dịch vụ công cộng
có tính chất quốc gia Mặt khác, nó đảm bảo phát huy tính chủ động và sáng tạo của các địa phương, các tổ chức, cá nhân trong đảm bảo giải quyết các vấn
Trang 23đề cụ thể, trong những hoàn cảnh và cơ sở cụ thể Tập trung ở đây không phải
là độc đoán, chuyên quyền mà trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong tổ chức hoạt động ngân sách của các cấp chính quyền, các ngành, các đơn vị Nguyên tắc này được quán triệt thông qua sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong phân cấp quản lý ở cả ba khâu của chu trình thu ngân sách
Nguyên tắc công khai, minh bạch: Công khai có nghĩa là để cho mọi
người biết, không giữ kín Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu, sáng sủa, không thể nhằm lẫn được Quản lý thu ngân sách đ i hỏi phải công khai, minh bạch xuất phát từ đ i hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người nộp thuế cho Nhà nước Việc Nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trước dân về huy động các nguồn thu hay không phụ thuộc nhiều vào tính minh bạch của thu ngân sách
Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Với tư cách là người được nhân dân
"uỷ thác" trong việc sử dụng nguồn lực, Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệm trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách Tính chịu trách nhiệm bao gồm chịu trách nhiệm có tính chất nội bộ và chịu trách nhiệm ra bên ngoài Chịu trách nhiệm nội bộ của nhà quản lý ngân sách bao gồm chịu trách nhiệm của cấp dưới với cấp trên, với người giám sát; kiểm tra ngân sách trong nội bộ Nhà nước Chịu trách nhiệm ra bên ngoài muốn nói tới ở đây là tính chịu trách nhiệm của các bộ, ngành đối với khách hàng của mình như những người nộp thuế Nâng cao tính chịu trách nhiệm ra bên ngoài đặc biệt cần thiết khi nhà nước gia tăng phí tập trung hóa, tăng tự chủ trong quản lý ngân sách cho các địa phương, bộ, ngành, đơn vị Điều này cũng được thể hiện rõ trong luật ngân sách của Việt Nam Quốc hội, Hội đồng nhân dân được bầu theo nhiệm kỳ và chịu trách nhiệm giải trình trước toàn bộ cử tri về ngân sách
Cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan lập pháp [23]
Trang 241.1.3.5 Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước
a Lập dự toán thu ngân sách nhà nước
Lập dự toán thu NSNN thực chất là việc tính toán số thu NSNN sẽ được huy đông vào NSNN trong tháng, quý, năm dựa trên những căn cứ, điều kiện nhất định và dự kiến những giải pháp sẽ được thực thi nhằm thực hiện dự toán thu NSNN đã được xác định
- Yêu cầu lập dự toán thu NSNN:
Dự toán thu NSNN phải tổng hợp theo từng khoản thu, từng lĩnh vực thu và được tổng hợp theo đúng nội dung, mẫu biểu, thời hạn quy định và có kèm báo cáo giải trình, thuyết minh về cơ sở, căn cứ tính toán Đây là là yêu cầu mang tính chất bắt buộc nhằm phục phục cho công tác tổng hợp, thống kê,
kế toán, phân tích và quản lý của các cơ quan quản lý cấp trên
- Căn cứ lập dự toán thu NSNN:
Một là, căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và năm năm của Nhà nước Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước vừa đặt
ra yêu cầu tính toán mức động viên và vừa là cơ sở để tính toán khả năng động viên nguồn thu của NSNN
Hai là, hệ thống chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật về thu NSNN Đây là căn cứ pháp lý quan trọng trong quá trình xây dựng dự toán thu NSNN Hệ thống chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN không chỉ là cơ sở pháp lý của dự toán mà còn là một trong những cơ sở tính toán mức thu, cơ cấu thu trong dự toán thu NSNN
Ba là, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập dự toán NSNN, hướng dẫn của UBND các cấp về lập dự toán NSĐP, trong đó có nội dung hướng dẫn về lập dự toán thu NSNN
Bốn là, số kiểm tra về dự toán thu NSNN do cơ quan có thẩm quyền thông báo Số kiểm tra về dự toán chính là số khái toán về số thu của NSNN
Trang 25trong năm kế hoạch được các cơ quan có thẩm quyền thông báo cho hệ thống thu các cấp trong quá trình bắt đầu xây dựng dự toán thu của mình Số kiểm tra không phải là một chỉ tiêu pháp lệnh mà chỉ là con số mang tính chất gợi ý hướng dẫn của cơ quan cấp trên
Năm là, kết quả phân tích tình hình thu NSNN các năm báo cáo Kết quả phân tích tình hình thu NSNN các năm báo cáo thường chỉ ra số thu đã đạt được so với diễn biến tình sản xuất kinh doanh, chỉ ra những số thu còn tồn đọng chưa huy động được và các nguyên nhân Dựa vào kết quả phân tích tình hình thu NSNN các năm báo cáo để làm căn cứ lập dự toán thu NSNN vừa có giá trị tham khảo rút kinh nghiệm vừa bổ sung vào dự toán số thu còn tồn đọng của năm báo cáo liền kề trước năm kế hoạch
- Phương pháp và trình tự lập dự toán thu NSNN:
Lập dự toán thu NSNN được thực hiện theo phương pháp phân bổ từ trên xuống và tổng hợp từ dưới lên Lợi ích của việc sử dụng phương pháp này trong lập dự toán thu NSNN là có sự kết hợp hài hòa giữa yêu cầu quản lý
vĩ mô và yêu cầu của quản lý vi mô trong việc điều hành các khoản thu NSNN Người ta gọi phương pháp này là phương pháp hai xuống một lên Với phương pháp phân bổ từ trên xuống và tổng hợp từ dưới lên, quá trình lập
dự toán thu NSNN phải tuân thủ theo trình tự như sau:
+ Bước 1: Cơ quan cấp trên có thẩm quyền hướng dẫn lập dự toán và giao số kiểm tra thu NSNN cho các cơ quan thu cấp dưới
Hàng năm căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN, cơ quan quản lý thu NSNN cấp trên (Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan) dưới sự chỉ đạo của Bộ tài chính, hướng dẫn và giao số kiểm tra thu NSNN cho các cơ quan thu cấp dưới
+ Bước 2: Lập và tổng hợp dự toán thu NSNN
Trang 26Cơ quan quản lý thu cấp dưới căn cứ vào số thu NSNN dự kiến do các
tổ chức sản xuất, kinh doanh thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN lập và báo cáo, hướng dẫn và số kiểm tra của cơ quan quản lý thu cấp trên, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quản lý, kết quả phân tích tình thực hiện dự toán thu của năm trước thực hiện tính toán số thu phải nộp NSNN trên địa bàn quản lý trong năm kế hoạch và dự kiến các giải pháp thực hiện gửi cơ quan quản lý thu cấp trên, UBND, cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư cùng cấp
Cơ quan quản lý thu NSNN cấp trên căn cứ vào dự toán thu NSNN của các cơ quan quản lý thu cấp dưới sau khi đã có sự phân tích tính toán thực hiện tổng hợp và lập dự toán thu NSNN Quá trình lập, tổng hợp và xét duyệt
dự toán thu NSNN được thực hiện từ cấp xã, huyện, tỉnh đến trung ương Dự toán thu NSNN do cơ quản lý thu trung ương (Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan) tổng hợp, lập là dự toán thu NSNN của toàn quốc trong năm kế hoạch
và phải báo cáo với Bộ Tài chính Nói chung thời hạn lập và báo cáo dự toán thu NSNN là tùy thuộc vào những quy định của Nhà nước trong quá trình đổi mới công tác quản lý NSNN Trong quá trình lập dự toán thu NSNN cơ quan quản lý thu cấp trên phối hợp, chỉ đạo và tổ chức làm việc với cơ quan quản
lý thu cấp dưới để thảo luận về dự toán do cơ quan cấp dưới lập; UBND các cấp phối hợp và chỉ đạo cơ quan quản lý thu cùng cấp lập dự toán thu NSNN theo đúng quy định các văn bản hướng dẫn của Nhà nước
+ Bước 3: Quyết định và giao dự toán thu NSNN
Dự toán thu NSNN của cả nước do cơ quan quản lý thu trung ương lập được Bộ tài chính xem xét và trình Chính phủ để trình Quốc hội thảo luận và phê chuẩn Khi dự toán thu NSNN được Quốc hội phê chuẩn, cơ quan quản lý thu NSNN trung ương có trách nhiệm phân bổ và giao số dự toán chính thức cho các cơ quan quản lý thu cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Cơ
Trang 27quan quản lý cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào dự toán thu NSNN đã được phân bổ; phối hợp với UBND, cơ quan tài chính cùng cấp xấy dựng dự toán thu NSNN chính thức của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình HĐND cùng cấp thảo luận và quyết định Nói chung dự toán thu NSNN chính thức của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không được thấp hơn dự toán do cơ quan quản lý thu trung ương phân phổ Dự toán thu NSNN
đã được Quốc hội và HĐND phê chuẩn là một chỉ tiêu pháp lệnh, các cơ quan quản lý thu NSNN có trách nhiệm phối kết hợp với các cơ quan hữu quan triển khai các biện pháp quản lý thu nhằm hoàn thành dự toán thu NSNN
b Chấp hành thu ngân sách nhà nước
Trong toàn bộ nội dung tổ chức công tác quản lý thu NSNN thì tổ chức triển khai chấp hành dự toán thu là nội dung quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến tính hiệu quả của công tác quản lý thu NSNN xét trên nhiều phương diện Nếu việc triển khai các biện pháp chấp hành dự toán thu NSNN không kịp thời, không phù hợp với sự vân động của thực tiễn, cứng nhắc thiếu linh động, ít sáng tạo thì không những không động viên được số thu cho NSNN theo dự toán mà có thể dẫn đến lãng phí nguồn lực của xã hội, gây tâm lý bức xúc cho tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN
Thứ nhất, nghiên cứu, bố trí sắp xếp lực lượng làm công tác quản lý thu
NSNN trong nội bộ hệ thống các cơ quan quản lý thu NSNN Hiệu quả công tác quản lý thu NSNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó bố trí, sắp xếp, phân công đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý thu có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng; bởi lẽ suy cho cùng mọi hoạt động quản lý có tốt hay xấu đều
do con người quyết định Chính vì vậy, công việc đầu tiên trong quá trình triển khai dự toán thu NSNN là phải sắp xếp, bố trí phân công đội ngũ làm công tác quản lý thu sao cho hợp lý, phù hợp năng lực, trình độ quản lý của từng cán bộ và yêu cầu quản lý thu NSNN trong từng giai đoạn cụ thể
Trang 28Thứ hai, bổ sung, sữa đổi, hoàn thiện quy trình quản lý thu NSNN: Quy
trình quản lý thu NSNN thực chất là các bước công việc quản lý thu NSNN được thực hiện theo một tuần tự nhất định Một quy trình thu hợp lý không những huy động được số thu cho NSNN một cách nhanh chóng, kịp thời mà còn tiết kiệm được thời gian, tiền của cho các cơ quan quản lý thu cũng như cho các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN
Các khoản thu NSNN được tập trung quản lý vào quỹ NSNN tại KBNN Quy trình tập trung quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN có tầm quan trọng đặc biệt Bởi lẽ việc thực hiện thu nộp NSNN qua KBNN vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN vừa tạo ra sự kiểm tra chéo giữa các cơ quản lý quan thu NSNN, hạn chế được các hiện tượng tiêu cực trong quản lý thu NSNN Theo quy định hiện hành, quy trình tập trung quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN bao gồm:
Một là, thu bằng chuyển khoản:
- Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại ngân hàng, ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN Thời điểm xác định khoản thu NSNN được thực hiện là thời điểm ngân hàng, KBNN thực hiện trích tiền trên tài khoản của người nộp để chuyển vào NSNN;
- Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại KBNN, KBNN thực hiện trích tài khoản của người nộp để ghi thu NSNN Thời điểm xác định người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN là thời điểm Kho bạc Nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng xác nhận trên giấy nộp tiền vào NSNN bằng chuyển khoản
Hai là, thu bằng tiền mặt:
- Thu bằng tiền mặt trực tiếp vào KBNN;
- Thu bằng tiền mặt vào ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản Hình thức này áp dụng đối với các ngân hàng có thoả thuận với KBNN về việc thu tiền mặt vào tài khoản của KBNN mở tại ngân hàng;
Trang 29- Thu bằng tiền mặt qua cơ quan thu Hình thức này được áp dụng đối với các khoản thuế, phí, lệ phí của các hộ kinh doanh không cố định, không thường xuyên, không có tài khoản tại KBNN hoặc ngân hàng và có khó khăn trong việc nộp tiền vào KBNN do ở xa điểm thu của KBNN hoặc xa ngân hàng được KBNN uỷ nhiệm thu Cơ quan thu có trách nhiệm thu tiền từ người nộp, sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu được vào KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản;
- Thu bằng tiền mặt qua các cơ quan được uỷ nhiệm thu
Có thể nói mỗi một nội dung quản lý thu NSNN đều có thể xác lập một quy trình quản lý thích hợp Quy trình quản lý thu không phải là một quy trình bất di, bất dịch mà nó luôn có sự thay đổi khi mà các nhân tố ảnh đến chúng thay đổi Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện dự toán thu NSNN cần thiết phải có sự rà soát, sửa đổi các quy trình quản lý thu sao cho thích ứng với những thay đổi của các nhân tố tác động đến quy trình
Thứ ba, đẩy mạnh công tác phân cấp quản lý thu NSNN giữa các cấp trong hệ thống tổ chức bộ máy thu và giữa các cấp của hệ thống chính quyền
từ trung ương đến cơ sở Phân cấp quản lý thu NSNN thực chất là phát huy sức mạnh tổng hợp trong hệ thống tổ chức bố máy quản lý thu và hệ thống bộ máy chính quyền các cấp nhằm hoàn thành dự toán thu NSNN
Thứ tư, kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thu, nộp NSNN: Kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thu, nộp NSNN là một nội dung quan trọng trong triển khai thực hiện dự toán thu NSNN Về nguyên tắc công tác kiểm tra, giám sát các khoản thu nộp của NSNN phải được tiến hành hành trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN; đánh giá việc chấp hành các chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN; xác minh, thu thập chứng cứ về hành vi vi phạm của các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN Đồng
Trang 30thời, việc kiểm tra, giám sát các khoản thu nộp NSNN không gây trở ngại cho hoạt động bình thường của các tổ chức và cá nhân làm nghĩa vụ đối với NSNN, bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về thu NSNN; kịp thời
có biện pháp xử lý kết quả hoạt động kiểm tra, giám sát theo đúng thẩm quyền và các quy định của pháp luật Tùy theo mức độ vi phạm kết quả kiểm tra, giám sát mà có hình thức xử lý khác nhau và cao nhất có thể tuy tố trước pháp luật
Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích, tư vấn về thu NSNN Tuyên truyền, giải thích, tư vấn về thu NSNN cho các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN là một nội dung hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện dự toán thu NSNN; đặc biệt trong bối cảnh hệ thống chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật thu NSNN có nhiều biến động và xu hướng dân chủ hóa ngày càng tăng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN Có thể thực hiện nhiều hình thức tuyên truyền, giải thích, tư vấn thu NSNN khác nhau như tuyên truyền, giải thích tư vấn các chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua hình thức hội nghị khách hàng, thông qua công tác giáo dục trong các trường học, tổ chức mạng lưới tư vấn…
Thứ sáu, thực hiện việc sơ kết, tổng kết, đánh giá việc triển khai các biện pháp thực hiện dự toán thu NSNN Đây là một nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện dự toán thu NSNN Công việc này thường được thực hiện hàng quý, hàng năm Thông qua sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình triển khai các biện pháp thực hiện dự toán thu NSNN để có cái nhìn toàn diện về hiện trạng công tác quản lý thu NSNN; từ đó rút kinh nghiệm về việc thực hiện các giải pháp quản lý thu NSNN về những mặt thành công cũng như những mặt còn hạn chế và nguyên nhân
Thứ bảy, nghiên cứu phân bố nguồn lực phục vụ tốt cho công tác triển khai dự toán thu NSNN trong thực tiễn Triển khai các biện pháp thực hiện dự
Trang 31toán thu đ i hỏi phải hao tốn một nguồn lực nhất định Ngoài nguồn nhân lực như đã đề cập trên, việc phân bổ nguồn kinh phí cho các công việc triển khai
dự toán thu một cách hợp lý là cơ sở cho việc thực hiện thành công dự toán thu NSNN Để phân bổ, bố trí nguồn lực thích hợp trong điều kiện nguồn lực, nguồn kinh phí có hạn cần thiết phải có sự phân tích lựa chọn một số nội dung công việc quản lý thu NSNN trọng tâm có ý nghĩa quyết định đến việc hoànthành dự toán thu NSNN
c Quyết toán thu ngân sách nhà nước
Cuối năm ngân sách cơ quan thu có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu NSNN gửi cơ quan thu cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp để tổng hợp vào báo cáo quyết toán NSNN Quyết toán thu NSNN được lập cùng với quyết toán NSNN Quyết toán thu NSNN là việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện dự toán thu NSNN và các chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN, trách nhiệm pháp lý của các cơ quan quản lý thu NSNN khi thực hiện chính sách động viên của Nhà nước Việc phân tích đánh giá quyết toán các khoản thu NSNN phải dựa vào các yêu cầu quyết toán thu NSNN Để thực hiện công tác quản lý, kiểm tra giám sát quá trình thực hiện quyết toán thu NSNN cần phải nắm rõ những yêu cầu sau:
- Quyết toán thu NSNN phải phản ánh đầy đủ, chính xác số thu NSNN
đã động viên được vào NSNN;
- Phản ánh rõ tính tuân thủ, tính chịu trách nhiệm về mặt pháp lý về thu NSNN;
- Bảo đảm yêu cầu về mặt thời gian của quyết toán thu NSNN;
- Bảo đảm đúng quy trình trình duyệt
Tóm lại, tổ chức công tác quản lý thu NSNN bao gồm ba khâu với nhiều nội dung quan trọng Các nội dung quản lý trong từng khâu và trong cả
ba khâu có mối hệ hữu cơ gắn bó với nhau Vì vậy, trong tổ chức quản lý thu NSNN cần phải được triển khai đồng bộ cả ba khâu
Trang 32d Công tác kiểm tra giám sát thu ngân sách nhà nước
Bộ phận kiểm tra thu NSNN, đặc biệt là kiểm tra thu thuế của cơ quan thuế giúp lãnh đạo cơ quan thuế trong việc tổ chức kiểm tra người nộp thuế và cán bộ công chức thuế trong việc thực hiện chính sách pháp luật về thuế và các chế độ quản lý, giải quyết các khiếu nại về thuế, tham mưu xử lý các vi phạm về thuế, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện công tác chống buôn lậu, trốn thuế trên địa bàn và thực hiện các quyết định cưỡng chế về thuế
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước
1.1.4.1 Hệ thống chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN
Một hệ thống chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN đơn giản, rõ ràng, minh bạch không những tạo cho tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN hiểu rõ trách nhiệm của mình, hạn chế được những tiêu cực phát sinh trong quá trình quản lý thu nộp các khoản thu cho NSNN
mà c n là cơ sở, tiền đề quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai các biện pháp thực hiện, giám sát, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện
kế hoạch thu NSNN [19]
1.1.4.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý thu NSNN
Một bộ máy quản lý thu NSNN được tổ chức hợp lý được xác lập trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ một cách rõ ràng, cụ thể cho từng bộ phận; đồng thời có sự phối kết hợp công việc giữa các bộ phận trong hệ thống tổ chức là điều kiện quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thu NSNN Tuy nhiên, cho dù hệ thống chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật
về thu NSNN có được hoạch định tốt bao nhiêu và cho dù tổ chức bộ máy quan lý thu được xây dựng hợp lý bao nhiêu; nhưng nếu công tác quản lý thu NSNN không có được một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi có phẩm chất chính trị vững vàng, có tư cách đạo đức trong sáng, có hiểu biết sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, nhiệt tình, năng động sáng tạo thì cũng không thể nâng cao hiệu
Trang 33quả của công tác quản lý thu NSNN Đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố có tính quyết định đến hiệu quả của công tác quản lý thu NSNN [19]
1.1.4.3 Sự hiểu biết pháp luật thu NSNN, tính tự giác của tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN
Đây là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác quản lý thu NSNN Việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN
là trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của các tổ chức và cá nhân Trách nhiệm
và nghĩa vụ đó chỉ có thể thực hiện được khi và chỉ khi tổ chức và cá nhân hiểu rõ được và có ý thức tự giác chấp hành một cách đầy đủ chính sách, chế
độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN Các tổ chức và cá nhân có hiểu rõ và
tự giác chấp hành chính sách, chế độ, các văn bản pháp luật về thu NSNN mới tạo được tính đồng thuận giữa các cơ quan quản lý thu NSNN và các tổ chức, cá nhân khi triển khai các biện pháp quản lý thu NSNN Khi đạt được tính đồng thuận thì việc triển khai các biện pháp quản lý thu NSNN mới dễ dàng và đạt được hiệu quả cao Để đạt được tính đồng thuận, công tác quản lý thu NSNN phải giải quyết nhiều vấn đề Một trong những vấn đề đó là tuyên truyền, giải thích làm cho các tổ chức, cá nhân hiểu rõ trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối với NSNN
1.1.4.4 Mức độ trang bị cơ sở vật vật chất phục vụ cho công tác quản lý thu NSNN
Mức độ trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thu NSNN có ảnh hướng to lớn đến hiệu quả của công tác quản lý thu NSNN Nếu cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thu NSNN được trang bị tốt
sẽ tạo điều kiện tốt cho việc giảm chi phí hành thu, cung cấp thông tin về thu NSNN một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho cho tổ chức và cá nhân trong quá trình thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, từng bước hiện đại hóa công tác quản lý thu NSNN
Trang 341.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý thu ngân sách nhà nước
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước của một số địa phương
và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hòa Bình
1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước của một số địa phương
* Quản lý thu NSNN tại tỉnh Yên Bái
Công tác quản lý thu NSNN tại tỉnh Yên Bái trong những năm qua luôn được chú trọng, triển khai thực hiện Công tác quản lý thu thuế, phí và lệ phí được thực hiện như sau: trên cơ sở đề án ủy nhiệm thu được phê duyệt, các Chi cục thuế thực hiện quản lý thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đối với các Doanh nghiệp và các hộ kinh doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thu cấp quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ; cấp xã, phường tổ chức thu thuế nhà đất, môn bài, thuế công thương nghiệp đối với
hộ kinh doanh nhỏ, người trực tiếp thực hiện ủy nhiệm thu và xã được trích tỷ
lệ hoa hồng ủy nhiệm thu từ kinh phí của Chi cục thuế Việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cũng như tỷ lệ điều tiết các khoản thu giữa các cấp ngân sách được thực hiện ổn định trong 5 năm đã từng bước nâng tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong điều hành ngân sách, tăng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Công tác đôn đốc quản lý, thu hồi
nợ đọng thuế được triển khai đồng bộ các giải pháp như phối hợp với ngành KBNN tăng cường công tác quản lý thu ngân sách; tập trung vào thực hiện khấu trừ tại nguồn đối với số tiền nợ thuế của các đơn vị xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách Nhà nước trước khi thanh toán cho các chủ đầu tư; truy thu, xử lý nghiêm những trường hợp có số nợ thuế lớn; khẩn trương rà soát lại các khoản thuế, nợ đọng trên địa bàn để triển khai thu thuế theo quy định
* Quản lý thu NSNN tại tỉnh Điện Biên
Hàng năm cơ quan cấp trên lập và giao dự toán thu ngân sách đảm bảo theo quy định, ngay từ đầu năm giao đầy đủ dự toán cho các cấp ngân sách,
Trang 35để tạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động điều hành phân bổ, tổ chức thực hiện và sử dụng các nguồn lực đã được phân cấp để thực hiện các nhiệm
vụ chi đảm bảo theo quy định Sau khi được giao dự toán thu ngân sách, UBND cấp huyện và các cơ quan quản lý thực hiện thu cũng đã chủ động lập
kế hoạch thu chi tiết, làm cơ sở để tổ chức thực hiện
Công tác quyết toán và tổng hợp quyết toán thu ngân sách địa phương đều được thực hiện nghiêm túc về thời gian theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước Số liệu quyết toán thu NSNN đều được cơ quan Tài chính các cấp kiểm tra, thẩm định theo quy định Hàng năm, công khai dự toán, quyết toán đảm bảo theo quy định của Luật ngân sách nhà nước Tỉnh Điện Biên luôn đổi mới trong công tác quản lý, điều hành thu - chi NSNN gắn liền với nhu cầu thực tế về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương bằng những chính sách đột phá để khai thác nguồn thu cho ngân sách Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ ngân sách nhà nước, đảm bảo hiệu quả.Từ những tính đột phá, năng động, tích cực trên trong quá trình quản lý ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị, ngành của địa phương đã mang lại những thành công và hiệu quả trong quản lý thu NSNN trên các phương diện; đặc biệt là quản lý chặt chẽ và có hiệu quả về khai thác các nguồn thu trên địa bàn
* Quản lý thu NSNN ở thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
Thành phố Nha Trang là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hòa; là trung tâm kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục và đào tạo của khu vực Nam Trung bộ; là trung tâm du lịch lớn của cả nước Là địa bàn có nhiều loại hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế hoạt động SXKD nên thành phố Nha Trang cũng là nơi tập trung nguồn thu chính của ngân sách tỉnh Khánh Hòa
Trang 36Trong những năm qua thành phố Nha Trang đã có những bước phát triển tương đối toàn diện về nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm 2014, 2015 tương đối cao và ổn định từ 8 đến 9% Cơ cấu kinh tế của thành phố chuyển dịch rõ nét theo hướng dịch vụ, du lịch, thương mại - công nghiệp; GDP bình quân đầu người tương đương 3.500 USD, tỷ lệ
hộ đói nghèo chỉ còn 1,2% theo chuẩn của trung ương Những kết quả đó đã tác động rất lớn đến thu NSNN trên địa bàn thành phố, với nguồn thu ngày càng tăng lên, cơ cấu nguồn thu ngày càng ổn định vững chắc hơn Thu ngân sách thành phố không những đã đáp ứng tốt những nhiệm vụ chi thiết yếu cho
bộ máy quản lý nhà nước; các nhiệm vụ sự nghiệp kinh tế, văn xã, an ninh quốc phòng và bổ sung cân đối ngân sách xã mà còn dành phần thích đáng cho nhu cầu chi đầu tư phát triển, chỉnh trang đô thị làm thay đổi cơ bản bộ mặt của thành phố
Năm 2014, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Nha Trang đạt 1.495.730 triệu đồng, đạt 102% dự toán, tăng 14% so cùng kỳ năm trước, trong đó ngân sách thành phố hưởng 1.022.036 triệu đồng, tăng 2% dự toán, tăng 16% so cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, một số chỉ tiêu thu thuế chưa đạt dự toán như: Thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, thuế khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh phần do tiếp tục thực hiện nhiều chính sách miễn, giãn, giảm thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ; các doanh nghiệp chưa phục hồi sau khủng hoảng kinh tế; công tác thu hồi nợ thuế gặp khó khăn mặc dù ngành thuế đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai nhiều biện pháp đôn đốc thu thuế và thu nợ thuế
Để thực hiện thắng lợi kế hoạch thu ngân sách Nhà nước, trong năm
2015 thành phố Nha Trang đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đồng thời tăng cường quản lý chặt chẽ các nguồn thu ngân sách; tăng cường phối hợp công tác quản
Trang 37lý thuế nhất là chống gian lận thương mại, trốn thuế; khai thác hiệu quả các nguồn thu phát sinh mới, xử lý nợ đọng chống thất thu ngân sách; tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế… Do đó, tổng thu ngân sách trên địa bàn năm
2015 thực hiện đạt 1.846.978 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt gần 940 tỷ đồng, bằng 119,8% so với dự toán, tăng 30,3% so với năm trước
Năm 2016 thành phố Nha Trang thực hiện tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 1.994.736 triệu đồng; tăng 8% so với thực thu năm 2015, trong đó ngân sách thành phố hưởng 1.117.785 triệu đồng Để hoàn thành tốt kế hoạch thu ngân sách, thành phố Nha Trang đã thực hiện tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tăng cường các biện pháp tạo nguồn thu, phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu vừa bảo đảm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu ngân sách, đồng thời chống thất thu, hạn chế nợ đọng thuế; tập trung kiểm tra hiện đại hóa công tác quản lý thuế gắn với cải cách thủ tục hành chính; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp các ban ngành trong công tác quản lý thuế trên địa bàn; tăng cường kiểm tra giám sát việc miễn giảm thuế, xóa nợ thuế… góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
1.2.1.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hòa Bình
- Để tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân thì trước hết phải quan tâm đẩy mạnh sản xuất kinh doanh để tạo nguồn thu ổn định bền vững cho ngân sách Trên cơ sở xác định đúng tiềm năng và lợi thế về phát triển kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất kinh doanh Quan tâm triển khai các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng nhanh tỷ lệ dịch vụ, công nghiệp là những ngành có quy mô lớn, tỷ suất doanh lợi cao, tỷ
lệ động viên vào ngân sách lớn để tăng nguồn thu cho ngân sách
Trang 38- Đồng thời với việc tạo nguồn thu, phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững phải đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý thu ngân sách nhà nước Trước hết là thường xuyên rà soát, nắm chắc nguồn thu trên địa bàn; xây dựng kế hoạch thu sát với thực tế, gắn trách nhiệm của các cơ quan quản lý thu ngân sách và chính quyền cơ sở với kết quả thực hiện kế hoạch thu ngân sách Bảo đảm hiệu quả phối hợp của các cơ quan, ban ngành có chức năng liên quan để hỗ trợ cho quản lý thu ngân sách
- Chú trọng cải cách hành chính về quản lý thu ngân sách, trọng tâm là thủ tục hành chính về thuế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và hiện đại hóa ngành Thuế nhằm quản lý chặt chẽ đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách một cách đơn giản, kịp thời vào ngân sách
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết và tăng cường ý thức trách nhiệm, tính tự giác của người nộp thuế Thường xuyên triển khai đồng bộ các biện pháp chống gian lận, chây ỳ, nợ đọng thuế
để tránh thất thu và bảo đảm tính công bằng trong triển khai thực hiện các chế
độ, chính sách về thu ngân sách nhà nước
1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Thực tế đã có một số nghiên cứu của các tác giả về quản lý thu ngân sách nhà nước như sau:
- Nguyễn Thị Huyền Trang (2017), Quản lý thu ngân sách nhà nước tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Tác giả đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận về thu ngân sách Nhà nước Vai trò, nhiệm vụ của ngân sách huyện, đặc biệt là các nguồn thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn Các nội dung quản lý của thu ngân sách thành phố đã được phân cấp theo nhiệm vụ, chức năng quản lý của mình và sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu ngân sách trên
Trang 39địa bàn Đồng thời đề tài cũng nêu ra một số giải pháp nhằm tăng thu trong cân đối ngân sách nhà nước nhất là giải quyết các vấn đề đang vướng mắc trong công tác quản lý thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn Các kết quả này có ý nghĩa với luận văn bởi đã giúp cho tác giả kế thừa và phát triển trong đề tài của mình, có cái nhìn tổng quan, rõ ràng và có cơ sở khoa học;
- Hồ Văn Nam (2015), Giải pháp tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế Trường Đại học Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hạ Long, tác giả đã đưa ra 3 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về thể chế thu và quản lý dữ liệu về người nộp thuế; nhóm giải pháp về tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý thu NSNN; nhóm giải pháp tác động trực tiếp đến việc xác định đối tượng nộp thuế và một số khoản thu NSNN;
- Phạm Minh Thụy: “Ngân sách nhà nước 2013 và dự toán 2014” đăng trên Thời báo kinh tế Việt Nam - kinh tế 2013 - 2014, Việt Nam và thế giới Tác giả đã đưa ra được các giải pháp đảm bảo mục tiêu thu NSNN năm 2014 là: 1) Cần tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng từ đó tăng nguồn thu ngân sách 2) Cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các nhiệm vụ về thu ngân sách nhà nước Tổ chức thực hiện tốt các luật sửa đổi, bổ sung về quản lý thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng; luật xử lý vi phạm hành chính; nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội về biểu thuế suất thuế tài nguyên Tăng cường theo dỏi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu hồi số thuế nợ đọng và quản lý chặt chẻ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng
Trang 40Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập nhiều khía cạnh của thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước
Thực tế cho thấy đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt về nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước ở tỉnh Hòa Bình Các tài liệu nói trên là những tư liệu quý sẽ được tác giả tiếp thu, sử dụng có chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn này