Yên Lập là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Yên Lập đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần tích cực trong quá
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
tế trồng quế quy mô hộ trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” là công
trình do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tất cả sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Đinh Sỹ Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các
cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo trường Đại học Lâm nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, phòng Đào tạo Sau đại học - Đại học lâm nghiệp, khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Đặng Thị Hoa, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo UBND huyện, phòng NN & PTNT, chi cục Thống kê huyện Yên Lập; UBND các xã Trung Sơn, Nga Hoàng, Thượng Long và hộ gia đình trồng quế trên địa bàn huyện Yên Lập đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu và thông tin cần thiết về cây quế
để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian qua Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đinh Sỹ Tuấn
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ 4 TRONG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp 15
1.1.3 Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp 18
1.1.4 Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp 20 1.1.5 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp 22 1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Tình hình phát triển cây quế trên thế giới 25
1.2.2 Tình hình phát triển cây quế ở Việt Nam 28
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho địa phương nghiên cứu 34
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Lập 39
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 39
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
Trang 52.2.1 Phương pháp chọn điểm và mẫu nghiên cứu 45
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 45
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 46
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Thực trạng phát triển cây quế trên địa bàn huyện Yên Lập 49
3.1.1 Đặc điểm rừng quế trên địa bàn huyện Yên Lập 49
3.1.2 Công tác quản lý Nhà nước về phát triển cây quế trên địa bàn huyện Yên Lập 51
3.1.3 Thực trạng trồng quế trên địa bàn huyện Yên Lập 53
3.2 Hiệu quả kinh tế của cây quế tại huyện Yên Lập 59
3.2.1 Chi phí sản xuất quế 59
3.2.2 Doanh thu sản xuất quế 65
3.2.3 Hiệu quả sản xuất quế 68
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây quế trên địa bàn huyện Yên Lập 71
3.3.1 Các yếu tố đầu vào 71
3.3.2 Các yếu tố đầu ra 75
3.3.3 Cơ chế chính sách 76
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây quế ở huyện Yên Lập 77
3.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 77
3.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trồng quế quy mô hộ gia đình tại huyện Yên Lập 79
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Diện tích trồng quế ở một số tỉnh của Việt Nam giai đoạn 31
1998-2018 31
Bảng 1.2 Tổng sản lượng vỏ quế của một số tỉnh ở Việt Nam 32
Biểu đồ 1.1 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm quế của Việt Nam 33
Bảng 2.1 Đất đai phân theo công dụng kinh tế giai đoạn 2016-2018 41
Bảng 2.2 Giá trị kinh tế và cơ cấu kinh tế huyện Yên Lập 42
Bảng 2.3 Dân số và phân bổ lao động theo ngành của huyện 44
Bảng 3.1 Diện tích trồng quế phân chia theo đơn vị hành chính 54
Bảng 3.2 Diện tích trồng quế phân chia theo giống của huyện Yên Lập đến năm 2018 54
Bảng 3.3 Diện tích trồng quế phân theo chất lượng đất rừng của huyện Yên Lập đến năm 2018 55
Bảng 3.4 Tổng diện tích quế thu hoạch của huyện Yên Lập giai đoạn 2008 - 2018 56
Bảng 3.5 Năng xuất quế thu hoạch của huyện Yên Lập 56
Bảng 3.6 Sản lượng quế thu hoạch của huyện Yên Lập 57
Bảng 3.7 Sản lượng vỏ quế giai đoạn 2016 - 2018 huyện Yên Lập 58
Bảng 3.8 Chi phí sản xuất bình quân 1 ha quế trong 15 năm 61
Bảng 3.9 Doanh thu sản xuất 1 ha quế trong 15 năm 66
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế tính bình quân cho 1 ha quế 71
Bảng 3.11 Bảng tổng hợp các loại đất của hộ điều tra năm 2018 72
Bảng 3.12 Quy mô sử dụng đất lâm nghiệp của hộ năm 2018 72
Bảng 3.13 Tình hình nhân khẩu, lao động, diện tích quế của hộ 73
Bảng 3.14 Các cơ sở thu mua, chế biến sản phẩm quế năm 2018 76
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các loài cây lâm sản ở nước ta cây quế là cây lâm sản - Dược liệu có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị kinh tế lớn, vừa có giá trị tiêu dùng trong nước vừa có giá trị giá trị xuất khẩu cao Sản phẩm chính của cây quế là vỏ quế và tinh dầu quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu
và chăn nuôi Xu hướng sử dụng các loại tinh dầu thực vật thay thế các hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ngày một tăng là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành trồng quế ở các địa phương Ngoài lợi ích về mặt kinh
tế, cây quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển
sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa
Yên Lập là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Yên Lập đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần tích cực trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ nói chung và của huyện Yên Lập nói riêng Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp có bước chuyển dịch đúng hướng; cây quế đã được trồng từ lâu trong huyện, tuy nhiên khoảng 10 năm trở lại đây các bộ phận của cây quế đều có thể bán sản phẩm và giá cả ngày một tăng lên; so với các loại cây lâm nghiệp như keo, mỡ, bồ đề thì thu nhập từ cây quế cao hơn hẳn, từ đó cây quế được lựa chọn làm cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế xã hội của huyện
Tuy nhiên, cây quế ở Yên Lập chủ yếu phát triển ở quy mô hộ, diện tích nhỏ lẻ ở một số xã, hộ gia đình chưa đầu tư nhiều cho sản xuất; cây quế chưa được chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật; ngoài ra do địa hình đất đai không đồng đều, thị trường, trình độ canh
Trang 9tác của mỗi hộ khác nhau… nên sản xuất quế của hộ dân chưa phát huy được hết tiềm năng, năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm cây quế, từ đó hiệu quả kinh tế mang lại từ cây quế còn chưa tương xứng với giá trị của nó
Để có cơ sở khoa học và thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây quế, đồng thời đề ra các giải pháp giúp huyện phát triển cây quế trong thời gian tới theo đúng định hướng; đem lại
hiệu quả kinh tế cao tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu
quả kinh tế trồng quế quy mô hộ trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích hiệu quả kinh tế của cây quế theo quy mô hộ tại huyện Yên Lập
- Phân tích các yếu tố đầu vào, đầu ra, doanh thu, chi phí của hộ trồng quế có tác động ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh tế của cây quế tại huyện Yên Lập
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho cây quế tại huyện Yên Lập trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây quế trong huyện Yên Lập được trồng tập trung ở một số xã như Trung Sơn, Thượng Long, Xuân An, Xuân Thủy và Nga Hoàng Xong trong
Trang 10phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu ở 3 xã Trung Sơn, Thượng Long và Nga Hoàng; đây là những xã có diện tích đất tự nhiên lớn (chủ yếu là đất rừng); đất đai, khí hậu phù hợp cho phát triển cây quế, nhân dân đã có truyền thống trồng quế từ lâu Diện tích quế hiện nay của 3 xã này trên 1.300
ha (chiếm trên 86% diện tích quế toàn huyện)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Những chủ trương, chính sách của Nhà nước và của huyện Yên Lập đối với công tác phát triển cây quế
+ Hoạt động trồng, chăm sóc, thu hoạch quế
+ Hiệu quả kinh tế của cây quế
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây quế
+ Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong trồng quế của địa phương
- Phạm vi về không gian: địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2018
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp
- Thực trạng trồng quế trên địa bàn huyện Yên Lập
- Hiệu quả kinh tế của cây quế tại huyện Yên Lập
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây quế tại huyện Yên Lập
- Giải pháp nâng cao hiệu quả cho cây quế tại huyện Yên Lập
5 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRONG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP
đi kinh doanh, buôn bán và làm giàu) Lại nữa, "kinh tế" nguyên nghĩa của cụm từ này, kinh là trao đổi một cách nhẹ nhàng, tế là tạo sự quân bình hợp
lý Như vậy kinh tế là sự trao đổi giữa bên cung và bên cầu một cách hợp lý, hợp pháp nhất Trong sự trao đổi, giữa bên cung và bên cầu muốn được dễ dàng thuận lợi, bắt buộc xã hội phát sinh một dạng vật chất gọn nhẹ hợp lý, dùng để đo lường, trao đổi, gọi là tiền tệ, ngân phiếu hoặc ngân lượng Thế nên khi nói đến kinh tế thì nó thường liên quan đến tiền tệ
Nói chung ý nghĩa của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm [11]
Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế Nói đơn
Trang 12giản kinh tế có nghĩa là: "Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời 5 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Lưu thông, Phân phối như thế nào? Phát triển sản phẩm theo hướng nào?"
Về định nghĩa từ kinh tế, xét theo bản chất, làm kinh tế là con người cố gắng thực hiện những công việc để sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có của mình như: tiền, sức khỏe, tài năng thiên bẩm và nhiều tài nguyên khác, để tạo
ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu nhân loại Từ đó tạo ra của cải vật chất cho chính mình Hoạt động kinh tế là bất kì hoạt động nào mà sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có của mình để tạo ra những sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ, đem trao đổi và thu được một giá trị lớn hơn cái mà mình đã bỏ ra Như vậy, định nghĩa “kinh tế” vào thời mới khai sinh của môn khoa học này đơn giản là: “nghiên cứu về sự giàu có”
Có quan điểm: “Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế
là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia” [1]
Khái niệm kinh tế vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất, hay là một chuẩn mực nhất định Có thể hiểu một cách cơ bản rằng, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn
1.1.1.2 Hiệu quả kinh tế
a Khái niệm
Hiệu quả là việc tối đa hóa giá trị của đầu ra trên một đơn vị đầu vào Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh
Trang 13tế khác Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục
vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế
Vì vậy, việc hiểu đúng bản chất của HQKT, xác định đúng các chỉ tiêu
để đo lường, đánh giá HQKT là vấn đề quan trọng cần làm rõ khi phân tích hiệu quả sản xuất của một hoạt động trong nền kinh tế
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ và khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng làm một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào? Như vậy, có thể hiểu hiệu quả kinh tế là mức độ thành công của các chủ thể sản xuất trong việc phân bổ các yếu tố nguồn lực kham hiếm để sản xuất ra sản phẩm, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó [3]
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt của một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Thực chất quan điểm hiệu quả này là đề cập đến khía cạnh phân bổ
có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực làm tăng hiệu quả [7]
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ khai thác và tiết kiệm chi phí các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu trong quá trình sản xuất Quan điểm hiệu quả này đã chú ý đến việc đánh giá hiệu quả kinh tế theo chiều sâu, hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong quá trình sản xuất [4]
b Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Trang 14Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế [7]
+ Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn hợp lý, bởi vì nếu cùng một kết quả nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp
độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị
+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả, do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn [2]
- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình
độ sử dụng nguồn lực của xã hội Quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
Trang 15- Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội
là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu
xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên
hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý
và cả thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trang 16Khái niệm hiệu quả kinh tế (HQKT) có thể tóm tắt theo 3 quan điểm sau:
* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng: HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả thu được (như nguồn lực, vật lực, tiền vốn.…) và
chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó [7]
Theo quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau:
H = Q/C
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là Kết quả thu được
C là Chi phí bỏ ra
- Ưu điểm: phản ánh rõ rệt việc sử dụng nguồn lực thể hiện thông qua chi phí sản xuất
- Nhược điểm: không phản ánh được quy mô của HQKT
Theo quan điểm này chưa phân tích được sự tác động, sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên
* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ hai: HQKT được đo bằng hiệu
số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả đó [7]
Theo quan điểm này thể hiện dưới dạng công thức tính của nó là:
H = Q - C
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả thu được
C là chi phí bỏ ra
Ở đây nó phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và chưa phản ánh hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của cá cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau
Trang 17* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ ba: khác với quan điểm trên trước tiên phải xem xét HQKT trong thành phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất HQKT được biểu hiện bằng tỉ số giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí hay là quan hệ tỉ số giữa kết quả bổ sung
và chi phí bổ sung [7]
Theo quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau:
H = Q/C
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là phần tăng thêm của kết quả thu được
C là phần tăng thêm chi phí bỏ ra
Như vậy hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về phạm trù hiệu quả kinh tế Theo mỗi quan điểm có các cách tính toán khác nhau về hiệu quả kinh tế
c Phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (EE - Economic efficiency) gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật (TE - Technical efficiency) và hiệu quả phân bổ (AE - Allocative
efficiency) [9]
- Hiệu quả kỹ thuật (TE): Là khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra cho trước từ một khối lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể đạt được trên số nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Một nhà sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật nếu họ không thể sản xuất nhiều hơn bất kỳ một đầu ra nào mà không sản xuất ít hơn một số lượng đầu ra khác hoặc sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào Hiệu quả kỹ thuật chỉ liên quan đến phương diện vật chất của quá trình sản xuất Nó phản ảnh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu vào
Trang 18Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào công nghệ được áp dụng cũng như trình độ chuyên môn tay nghề của người sản xuất [7]
Hiệu quả kỹ thuật chỉ liên quan đến tính vật chất của quá trình sản xuất
Do đó, có thể coi nó là mục đích phổ biến thích hợp với mọi hệ thống kinh tế Mặt khác, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế cho thấy mục đích của nhà doanh nghiệp là làm cho lợi nhuận đạt mức tối đa Khi xem xét tổng thể quá trình sản xuất, nhà sản xuất thường đặt mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm đầu
ra với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các yếu tố nguồn lực sao cho tối đa hóa doanh thu, hoặc phân bố cách kết hợp đầu vào đầu ra sao cho tối đa hóa lợi nhuận Như vậy, quan điểm hiệu quả kinh tế này đã đánh giá tốt nhất trình độ
sử dụng nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế [7]
- Hiệu quả phân bổ (AE): là khả năng lựa chọn được một khối lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó Hiệu quả phân bổ là thước đo mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn các tổ hợp đầu vào tối ưu Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, người sản xuất sẽ quyết định mức sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa
Hiệu quả kinh tế (EE) được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (𝐸𝐸=𝑇𝐸∗𝐴𝐸) Sự khác nhau trong hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có thể do sự khác nhau về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ
1.1.1.3 Sản xuất
Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra (sản phẩm) [6]
* Yếu tố đầu vào:
- Lao động (L): bao gồm yếu tố đầu vào mang tính chất con người, thời gian làm việc của công nhân, nhà quản lý
Trang 19- Vốn (K): bao gồm yếu tố đầu vào còn lại không mang tính chất con người, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…
* Yếu tố đầu ra: Hàng hóa và dịch vụ
Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ Sự chuyển đổi này là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất
Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Nó có thể phân thành: sản xuất bậc 1; sản xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3
+ Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt hải sản, trồng trọt,
+ Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hóa như gỗ chế biến thành bàn ghế, quặng mỏ biến thành sắt thép Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp
+ Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được sản xuất ra nhiều hơn các hàng hóa hữu hình Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm
vi rộng lớn Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ Các nhà bán buôn và nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y
tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn,
Trang 20đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau
có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên
Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến
Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung
để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó
Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung Những người này có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt
Trang 21Hộ sản xuất kinh doanh: Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cho đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Cùng với sự phát triển của các nghành kinh tế, hơn hai mươi năm qua sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có sự chuyển biến lớn Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của hộ sản xuất, coi hộ sản xuất kinh doanh như một nền tảng vững chắc cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Đất nước
Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất
cả các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên Thế giới Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất kinh doanh như sau:
Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “hộ sản xuất” là “hộ”, “hộ gia đình”
Như vậy, hộ sản xuất kinh doanh là một tổ chức kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh, tự tổ chức sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, của địa phương và theo quy định của pháp luật Hộ sản xuất kinh doanh không chỉ độc lập tự chủ về kinh doanh mà còn tự chủ trong quản
lý và tiêu thụ sản phẩm Do đó họ luôn luôn tích cực khai thác tiềm năng trí tuệ và năng lực sản xuất của mình để tổ chức hoạt động kinh tế một cách phong phú và đa dạng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộng sản xuất, tăng tích lũy chính cho bản thân mình và xã hội
Trang 221.1.2 Đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân, cũng như các ngành kinh tế khác, để hình thành và khẳng định tính tất yếu khách quan tồn tại và phát triển, mỗi ngành đều có những đặc điểm phản ảnh tính đặc thù của mình
Trong sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm chủ yếu [13]
a Chu kỳ sản xuất dài:
Đây là đặc điểm quan trọng, mang tính đặc thù của ngành Chu kỳ sản xuất được tính là khoảng thời gian kể từ khi chuẩn bị đưa các yếu tố vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng tiêu thụ Đối với lâm nghiệp, đối tượng sản xuất là rừng Khác với đối tượng sản xuất của các ngành khác, rừng là cơ thể sống, trong đó quần xã cây rừng đóng vai trò chủ đạo và chúng khác biệt với các loài thực vật khác là chu kỳ sinh trưởng kéo dài và phát triển chậm
b Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kẽ với quá trình tái sản xuất kinh
tế, trong đó quá tình tái sản xuất tự nhiên đóng vai trò quan trọng và quyết định:
Trong sản xuất lâm nghiệp luôn luôn diễn ra hai quá trình xen kẽ, đó là quá trình tái sản xuất tự nhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế Tái sản xuất tự nhiên đó là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu từ quá trình gieo hạt tự nhiên, cây rừng nẩy mầm, lớn lên, ra hoa kết quả rồi lại tiếp tục lặp đi lặp lại quá trình đó và tuân thủ theo quy luật sinh học (quá trình tái sinh
tự nhiên) Như vậy quá trình tái sản xuất tự nhiên là quá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tuân theo quy luật sinh học mà không cần sự can thiệp của con người Tái sản xuất kinh tế được hiểu là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển của cây rừng dưới sự tác động của con người như bón phân, làm cỏ (thâm canh rừng, làm giầu rừng) nhằm thoả mãn mục đích nào đó của con người
c Tái sinh và khai thác rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
Tái sinh là quá trình xây dựng rừng (Có hai hình thức tái sinh là tái sinh
tự nhiên và tái sinh nhân tạo) Khai thác rừng là quá trình lợi dụng rừng, quá
Trang 23trình thu hoạch thành quả của quá trình xây dựng rừng Xét về hình thức thì đây là hai mặt đối lập nhau, song lại thống nhất và liên quan chặt chẽ với nhau Mục đích xây dựng là để lợi dụng và có lợi dụng, khai thác mới thu hồi được vốn để tái sản xuất cho các chu kỳ tiếp theo
d Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên quy mô rộng, chủ yếu hoạt động ngoài trời và trên những địa bàn có những điều kiện tự nhiên phức tạp, điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn:
Đây là đặc thù rất rõ nét của sản xuất lâm nghiệp Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp quản lý khoảng trên 19 triệu ha chiếm gần 60% diện tích tự nhiên toàn quốc, với 75% diện tích là đồi núi, dốc cao, địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở, đất đai thường bị xói mòn và ngay ở vùng ven biển thì đất lâm nghiệp cũng là những loại đất cát hoặc đất chua mặn không có khả năng canh tác nông nghiệp Trên các điều kiện tự nhiên đó, hoạt động sản xuất lâm nghiệp lại chủ yếu tiến hành ở ngoài trời, cự ly hoạt động ngày một xa nên thu nhập thấp, đời sống của người làm nghề rừng gặp rất nhiều khó khăn Về mặt xã hội vì điều kiện tự nhiên phức tạp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, nên điều kiện phát triển kinh tế cũng bị hạn chế Mặt khác, nguồn lao động lâm nghiệp chủ yếu là đân tộc ít người, trình độ dân trí thấp kém, canh tác lạc hậu ( du canh, du cư phá rừng làm nương rẫy ) đã ảnh hưởng lớn đến phát triển lâm nghiệp Đồng thời trên điều kiện địa bàn rộng lớn như vậy rất khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ thành quả lao động, vì vậy tính rủi ro trong sản xuất lâm nghiệp rất cao
đ Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ:
Tính thời vụ được hiểu là tình hình sản xuất được tập trung vào một khoảng thời gian nào đó trong năm và lặp đi lặp lại có tính quy luật Trong sản xuất lâm nghiệp, tính thời vụ là đặc trưng của ngành sản xuất sinh học, do đặc tính sinh lý, sinh thái của cây rừng, do đòi hỏi của công nghệ (đặc biệt là
Trang 24công nghệ khai thác, vận chuyển) mà tình hình sản xuất diễn ra tập trung vào một số tháng trong năm, hiện tượng đó gọi là tính thời vụ
e Hoạt động sản xuất lâm nghiệp vừa mang mục tiêu kinh tế vừa mang mục tiêu xã hội: Xuất phát từ đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là rừng, mà sản phẩm của rừng có tác dụng nhiều mặt Trước hết về mục tiêu kinh tế của sản xuất lâm nghiệp nhằm mục tiêu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội Về mục tiêu xã hội, trong sản xuất lâm nghiệp còn nhằm mục tiêu phòng hộ , bảo vệ môi trường sống, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hoá và các danh lam thắng cảnh
g Sản xuất lâm nghiệp vừa mang tính chất hoạt động sản xuất nông nghiệp vừa mang tính chất hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản:
Sản xuất lâm nghiệp có nhiệm vụ trồng cây, gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng Trong các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ trồng cây, gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng, đây là hoạt động mang tính sinh học và có tính chất hoạt động giống như hoạt động nông nghiệp Nhiệm vụ tiếp theo của sản xuất lâm nghiệp là khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng, đây là các hoạt động có tính chất công nghiệp Ngoài ra, do đặc thù của sản xuất lâm nghiệp là chu kỳ sản xuất dài, vốn hoạt động chủ yếu là vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản, về hình thức hoạt động và phương pháp hạch toán đều có nét giống như hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Vì vậy, có thể nói hoạt động sản xuất lâm nghiệp vừa mang tính chất của hoạt động sản xuất nông nghiệp vừa mang tính chất công nghiệp và xây dựng cơ bản
h Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc và nhiều thành phần kinh tế tham gia
Trang 25Với địa bàn hoạt động gần 60% diện tích tự nhiên toàn quốc là nơi sinh sống của các cộng đồng cư dân mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người, nên mọi hoạt động của cư dân địa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển lâm nghiệp và ngược lại các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đều ảnh hưởng lớn đến đời sống của cư dân địa phương Vì vậy, có thể nói sự phát triển của ngành lâm nghiệp không thể tách rời sự phát triển tổng hợp về kinh
tế văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng của vùng trung du, miền núi
1.1.3 Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Thực chất của HQKT là vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực Đó là hai mặt của vấn đề đánh gia hiệu quả Nói cách khác, bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động
xã hội, hai mặt này có mối liên hệ mật thiết gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm nguồn tài nguyên HQKT liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào
và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất lâm nghiệp Trong quá trình sản xuất lâm nghiệp, việc xác định yếu tố đầu vào và đầu ra sẽ có một vấn đề sau:
* Đối với các yếu tố đầu vào
- Các tư liệu tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất không đồng đều trong nhiều năm, có các loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa nên việc khấu hao và phân bố chi phí để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có tính chất tương đối
- Sự biến đổi giá cả thị trường gây trở ngại cho việc xác định chi phí bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí khấu hao tài sản cố định
- Một số yếu tố đầu vào quan trọng cần phải hoạch toán nhưng thực tế không thể tính toán được cụ thể: Chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, thông tin giáo dục, tuyên truyền khuyến cáo…
Trang 26- Các yếu tố tự nhiên kể cả thuận lợi khó khăn cũng có tác động quan trọng tới quá trình sản xuất Tuy nhiên, tác động của các nhân tố này vẫn chưa
có phương pháp xác định chuẩn xác
* Đối với các yếu tố đầu ra
Kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hoá được để so sánh, nhưng cũng có yếu tố không thể lượng hoá được như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, tái sản xuất kỹ thuật của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh… Như vậy HQKT phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu của xã hội Việc nghiên cứu HQKT không những để đánh giá mà còn là cơ sở để tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất với trình độ cao hơn Có nghĩa là so sánh giữa hai kỳ chất lượng kết quả, chi phí (mỗi loại cây con/một vụ/diện tích…) nhưng vẫn chưa đầy đủ bởi vì trong thực tiễn kết quả sản xuất đạt được luôn
là hiệu quả của chi phí có sẵn cộng với chi phí bổ sung mà ở mức chi phí có sẵn khác nhau thì HQKT của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau
Tóm lại, bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp chính
là sự so sánh giữa:
+ Toàn bộ yếu tố đầu vào và toàn bộ yếu tố đầu ra
+ Phần tăng thêm tuyệt đối (hoặc tương đối) của yếu tố đầu ra HQKT
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lý Nó được thể hiện bằng các hệ thống chỉ tiêu thống kê, nhằm các mục tiêu cụ thể của chính sách phù hợp với yêu cầu xã hội HQKT là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng
mà là mục tiêu xuyên suốt trong hoạt động kinh tế Một phương án, một giải pháp HQKT cao là phải đạt tương quan tương đối tối ưu giữa kết quả đem lại
và chi phí đầu tư Việc xác định HQKT phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ giữa hai đại lượng trên và thấy được tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn nhất định
Trang 271.1.4 Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp
* Xác định chi phí sản xuất:
- Chi phí trong sản xuất lâm nghiệp là số tiền mà hộ sản xuất chi ra để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận; Việc giảm chi phí sản xuất đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận
- Tổng chi phí (TC) trong sản xuất bao gồm toàn bộ số chi phí cần thiết
để thực hiện quá trình sản xuất Tổng chi phí trong sản xuất được chia thành 2 loại: Chi phí cố định (tính cho 1 chu kỳ sản xuất) và chi phí biến đổi
TC = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi
Đối với sản xuất lâm nghiệp, tổng chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ những chi phí bỏ ra đầu tư vào quá trình sản xuất như: cây giống, đất đai, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, chi phí bảo quản…
TC = Chi phí vật chất + Chi phí lao động
* Xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí (không kể chi phí lao động do chính gia đình đóng góp)
Công thức xác định: LN = DT - TC
1.1.4.2 Xác định hiệu quả kinh tế
Xác định hiệu quả kinh tế thực chất là so sánh các yếu tố đầu vào với các yếu tố đầu ra, bao gồm các nội dung:
* Doanh thu/lao động:
Trang 28Doanh thu trên lao động: Là chỉ tiêu đánh giá xem mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
* Doanh thu/Chi phí:
Doanh thu trên chi phí: Là chỉ tiêu đánh giá xem mỗi đồng chi phí mang lại bao nhiêu đồng thu nhập Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
* Lợi nhuận/Doanh thu:
Lợi nhuận trên doanh thu: Là chỉ tiêu đánh giá xem trong mỗi đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
- Chi phí sản xuất (Ct) được quy đổi thành chi phí hiện tại thuần (CPV)
- Doanh thu (Bt) được quy đổi thành doanh thu hiện tại thuần (BPV)
- Lợi nhuận (LN) được quy đổi thành giá trị hiện tại thuần (NPV) NPV là chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của của việc trồng quế NPV cho biết quy mô về tổng lợi nhuận đạt được của cả chu kỳ kinh doanh quế NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, nên việc trồng quế sẽ được chấp nhận khi NPV > 0 và NPV đạt giá trị cao nhất
- Chỉ tiêu lợi ích/chi phí (BCR) BCR là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ thu nhập trên chi phí, đó là tỷ lệ giữa giá trị đã chiết khấu của thu nhập và giá trị đã chiết khấu của chi phí xuất hiện hay phát sinh tại các thời điểm khác nhau của cả chu kỳ kinh doanh quế BCR là hệ số sinh lãi thực tế Nó phản ánh về mặt chất lượng đầu tư Tức là nó cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được mấy đồng
Trang 29thu nhập Rừng quế nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì
hiệu quả kinh tế càng cao
- Tỷ suất thu hồi vốn nội bộ (IRR) IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu để tính chuyển các khoản phải thu, phải chi của rừng quế về cùng mặt bằng thời gian hiện tại, lúc này tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, tỷ suất mà tại đó NPV = 0 IRR cho biết tỷ lệ lãi mà dự án đạt được Dự án được chấp nhận khi IRR ≥ r (r được giới hạn là lãi suất đi vay) Rừng quế nào có IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao
1.1.5 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp
Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp giúp cho việc khai thác và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, tiết kiệm nhất từ đó nâng cao thu nhập cho người sản xuất
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin cần thiết, cơ bản cho việc phát triển lâm nghiệp đồng thời đề xuất một số giải pháp gây trồng bền vững cây lâm nghiệp tại địa phương
Đánh giá hiện trạng và khả năng phát triển của cây lâm nghiệp trong điều kiện sinh thái một số xã huyện Yên Lập, từ đó rút ra những kết luận khoa học góp phần vào việc định hướng phát triển rừng cho địa phương
Nghiên cứu hiện trạng (diện tích, phân bố, năng suất, sản lượng, giống,
kỹ thuật…) từ đó tìm ra những thuận lợi khó khăn của việc trồng rừng tại huyện Yên Lập
Đề xuất một số giải pháp nhằm định hướng phát triển ngành lâm nghiệp của địa phương theo hướng bền vững
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp
1.1.6.1 Các yếu tố tự nhiên
- Chế độ ánh sáng:
Trang 30Ánh sáng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất của cây quế Về chế độ ánh sáng có thể nhận định quế là loài cây trung tính, giai đoạn đầu (từ 1 - 3 năm) cần che bớt ánh sáng chiếu trực tiếp gay gắt mùa hè ở các vùng khí hậu nóng Sau đó, cây có nhu cầu ánh sáng tăng dần, nên phải hạ độ tàn che kịp thời hoặc tỉa thưa đúng lúc mới đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển bình thường
- Khí hậu:
Khí hậu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cây quế Các nhân tố đáng chú ý là: Lượng mưa, chế độ nhiệt, ẩm Quế là một cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều Vì vậy ở các vùng quế mọc tự nhiên ở nước ta là vùng có lượng mưa cao từ 2000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 21 - 22độC, ẩm độ bình quân trên 80%
- Đất đai:
Do quá trình tiến hóa lâu dài của thực vật, mỗi loài đều thích nghi với các điều kiện môi trường xác ñịnh, trong đó có yếu tố đất đai Quế có thể sinh trưởng tốt trên hầu hết các loại đất đồi núi, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước tốt, các loại đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, gnanit, riôlit
- Độ dốc:
Quế là cây có thể phát triển tốt ở nơi có địa hình đồi núi thoai thoải, với
độ dốc dưới 25độ vì với điều kiện đất đồi núi, độ dốc cao sẽ dẫn tới hiện tượng đất bị xói mòn, sạt lỡ nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây quế
Mỗi vùng miền có điều kiện tự nhiên khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển cũng như chất lượng sản phẩm cây quế cũng khác nhau
Trang 311.1.6.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội
- Chính sách:
Chính sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển,
mở rộng quy mô và chất lượng của ngành trồng quế nói chung và các ngành khác nói chung Chính sách có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển của cây quế và đời sống của người dân
Có 2 nhóm chính sách tác động đến trồng quế: một là nhóm chính sách thông qua giá như chính sách giá sản phẩm, chính sách đầu vào, thuế… có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế; hai là chính sách không thông qua giá như chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, khuyến nông, cung cấp tín dụng, nghiên cứu và phát triển có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế
- Khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ sản xuất được áp dụng vào sản xuất quế: Yếu tố này nghĩa là đổi mới công nghệ có thể hướng tới việc tiết kiệm các chi phí, nguồn lực Phát triển công nghệ đòi hỏi phải đảm bảo sử dụng đầu vào tiết kiệm Vì vậy hiệu quả sử dụng nguồn lực trong sản xuất quế phụ thuộc vào những thay đổi cải tiến và kỹ năng sử dụng công nghệ, từ đó sẽ thay đổi hiệu quả kinh tế của sản xuất quế
- Khả năng tiếp nhận kỹ thuật mới của người sản xuất:
Sự tiếp thu kỹ thuật của người nông dân và năng suất của cây quế có mối quan hệ chặt chẽ đến kiến thức và kỹ thuật canh tác Vì vậy trình độ và kinh nghiệm có thể thấy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của sản xuất quế
- Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của quá trình sản xuất:
Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, phần lớn thị trường có tính cạnh tranh hoàn hảo cao hơn so với các ngành khác Vì vậy, khi tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng là điều kiện để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
Trang 32lực Môi trường lành mạnh đó các thành phần có quyền ngang nhau trong tạo vốn, sử dụng thông tin, mua bán các sản phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình phát triển cây quế trên thế giới
Cây quế phát triển thích hợp trên loại đất mùn xốp, thoáng nước, có độ dốc 10-20o, cây ưa mát với nhiệt độ trung bình 20-25o
C Do vậy trên thế giới chỉ có một số nước mới có điều kiện thuận lợi để cho cây quế phát triển như Việt Nam, Trung quốc, Indonesia, Ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Nga Song ở những nơi này cây quế cũng chỉ có thể sinh trưởng được ở một số vùng nhất định, do vậy cây quế từ lâu đã trở thành một loại cây đặc sản của một số vùng nhiệt đới
- Thị trường xuất khẩu quế trên thế giới:
Sản phẩm quế được ưa chuộng và buôn bán trên thị trường thế giới từ rất xa xưa Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sản phẩm quế ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như trong sản xuất mỹ phẩm, công nghiệp dược phẩm, công nghiệp thực phẩm Quế được tiêu thụ mạnh ở các thị trường Ấn Độ, Trung Đông, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ và các nước châu Âu
- Nhu cầu về sản phẩm quế:
Thị trường của sản phẩm quế hiện nay bao gồm cả Châu Mỹ, Châu Á
và một phần Châu Phi Nước tiêu thụ sản phẩm quế nhiều nhất là Mỹ, mỗi năm có nhu cầu 20-22 nghìn tấn, nhưng chỉ mua được 12-15 nghìn tấn, Nhật Bản có nhu cầu khoảng 8 nghìn tấn mỗi năm, nhưng chỉ mua được dưới 1 nghìn tấn Mehico có nhu cầu hơn 3 nghìn tấn mỗi năm, Đức là 1-2 nghìn tấn mỗi năm, Cộng hòa liên bang Nga, Balan, Bungari cũng có nhu cầu lớn nhưng khả năng nhập khẩu cũng còn rất ít Chẳng hạn như Nga, có nhu cầu trên ngàn tấn nhưng chỉ nhập khẩu được một lượng nhỏ chỉ vài trăm tấn trên
Trang 33năm; đó chưa kể các nước sản xuất quế nhưng ưu tiên xuất khẩu chỉ tiêu dùng trong nước phần nhỏ
Như vậy, nhu cầu về sản phẩm quế là rất lớn, tuy nhiên số lượng thực
tế các nước mua được là không đáng kể so với nhu cầu ấy Không một nước nào có thể thu nhập được khối lượng lớn bằng đúng với nhu cầu thực tế của mình Chênh lệch giữa số lượng nhu cầu mặt hàng quế với số lượng thực nhập thường cao gấp 3-4 lần (Thái Lan, Mehico, Pháp) cá biệt có những nước số
chênh lệch này lên đến 15-20 lần (Nga, Ấn Độ) [5]
Nhu cầu sản phẩm quế nói chung là rất lớn và ngày càng tăng lên Ngày nay, trên thế giới đang hướng vào con đường bào chế thuốc chữa bệnh bằng nguyên liệu dược thảo nhiều hơn là hóa dược Sản phẩm quế cũng như các sản phẩm dược liệu khác vì vậy có nhu cầu lớn và tăng nhanh trên thị trường Nhu cầu lớn nhưng khả năng sản xuất lại hạn chế Chính sự mất cân đối giữa cung và cầu đã tạo cho sản phẩm quế một giá trị đặc biệt Giá trị của sản phẩm quế nhiều khi còn vượt xa giá trị thực tế sản xuất ra nó
Cho nên sản xuất xuất quế đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất, nhất là những nước có điều kiện tự nhiên phong phú, thuận lợi như nước ta Tuy nhiên, khả năng sản xuất quế bị hạn chế rất nhiều do thời gian sản xuất dài là đặc trưng cơ bản của ngành hàng sản xuất quế Một chu kỳ sản xuất quế trung bình mất 10-15 năm, thậm chí còn lâu hơn, tùy theo điều kiện sản xuất Đặc điểm này đã hạn chế rất nhiều khả năng sản xuất, kể cả việc mở rộng quy mô cũng như kích thích người sản xuất Thời gian sản xuất dài nên ngành sản xuất quế không thể sản xuất ngay một số lượng sản phẩm lớn, đáp ứng nhu cầu tăng lên thường xuyên và nhiều khi có tính chất đột biến trên một số thị trường
- Khả năng cung ứng sản phẩm quế:
Trang 34Trong những năm gần đây lượng sản phẩm quế trên thế giới không ngừng gia tăng về số lượng xuất khẩu, bình quân mỗi năm là trên 30 nghìn tấn Những nước tiêu dùng quế nhiều lại chính là những nước không thể tự sản xuất được quế vì thiếu điều kiện tự nhiên và môi trường Do đó, điều kiện này chính là yếu tố quyết định, là lợi thế cho những nước sản xuất và xuất khẩu sản phẩm quế chính trên thế giới
Cây quế sinh trưởng và phát triển ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, những nơi đó quế cũng chỉ phát triển tốt và thích hợp ở một số vùng Cung cấp sản phẩm quế trên thị trường thế giời chủ yếu là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam và Xrilanca Trong đó nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất là Indonesia chiếm khoảng 42% tổng số khối lượng sản phẩm quế trên thế giới, tiếp đó là Trung Quốc 40%, trong khi đó Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% một phân rất nhỏ mặc dù nước ta có phong phú về chủng loại, chất lượng tốt Nguyên nhân của việc khối lượng sản phẩm quế nước ta chiếm một phần nhỏ trong khối lượng xuất khẩu trên thị trường thế giới là do diện tích trồng quế nước ta còn nhỏ, chưa tập trung Bên cạnh đó, một phần do trình độ sản xuất, khai thác còn của nước ta còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người nông dân [5]
Như vậy, so với các sản phẩm xuất khẩu khác trong ngành nông lâm nghiệp (chè, hạt điều, cà phê) thì quế là sản phẩm có khối lượng xuất khẩu tương đối khiêm tốn mặc dù giá trị xuất khẩu khá cao Tình hình cung cấp sản phẩm quế so với nhu cầu sản phẩm này có một khoảng chênh lệch khá cao, trong khi đó nhu cầu sử dụng thì không ngừng tăng lên Có thể nói hiện tại và trong thời gian tới sản phẩm này là một mặt hàng lâm sản quý hiếm trên thị trường thế giới [5]
Trang 351.2.2 Tình hình phát triển cây quế ở Việt Nam
Ở nước ta, cây Quế (Cinnamomum cassia blunne) là cây đa tác dụng, được trồng ở Yên Bái, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Quảng Nam… Quế không chỉ là cây xóa đói giảm nghèo mà còn góp phần làm giàu cho nhiều gia đình đồng bào các dân tộc miền núi Quế được coi là một trong những loài cây đặc sản đang được Nhà nước khuyến khích gây trồng và được đưa vào danh mục loài cây trồng trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng và nhiều dự án trồng rừng ở nhiều tỉnh Ngày nay, khi Việt Nam đã là thành viên của WTO thì chắc chắn thị trường Quế sẽ ngày càng được mở rộng, điều đó hứa hẹn triển vọng tốt đẹp cho nghề trồng Quế ở nước ta Cây quế đã được trồng cách đây khá lâu nhưng chưa phát triển mạnh như mấy năm trở lại đây vì thời gian trồng đến khi khai thác lâu hơn cây mỡ, cây keo [8]
Cách đây một thời gian giá vỏ quế xuống thấp chỉ còn 2.000 đồng/kg, khai thác rồi thậm chí còn không có người đến mua nên một thời gian người dân lãng quên Chỉ đến khi giá quế nhích dần từ 5.000 - 7.000 đồng/kg lên 10.000 - 12.000 và nay đạt mức 15.000 - 25.000 đồng/kg vỏ tươi (tùy từng vùng) đã khiến nhiều người trồng rừng quay lại với cây quế
Cây quế giờ vừa cho thu hoạch lâu dài vừa cho thu hoạch hàng năm Mỗi năm có hai đợt thu hoạch quế Đợt một bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 3 và đợt hai từ tháng 7 đến tháng 8 (âm lịch) Trong khoảng thời gian này vỏ quế
dễ lột và có nhiều tinh dầu So với các loại cây nguyên liệu, cây quế có tuổi đời khá dài, thường từ 15- 20 năm mới cho giá trị cao, thế nhưng ít có loại cây trồng nào ở đất miền núi lại có giá trị kinh tế cao như cây quế
Ở nước ta có 4 vùng trồng quế phát triển có diện tích lớn và lâu đời là Quảng Ninh, Yên Bái, Thanh Hóa - Nghệ An và Quảng Nam - Quảng Ngãi Hiện có 02 loại giống quế chính là: giống lá nhỏ và giống lá to; giống lá nhỏ mặc dù chậm lớn nhưng vỏ dày, hàm lượng tinh dầu nhiều hơn giống quế lá
to, có giá bán cao hơn [8]
Trang 36Cây quế khai thác được tận dụng tất cả lá, cành, thân để chưng cất tinh dầu Trên thị trường hiện nay, vỏ cây quế được ưa chuộng, thường sử dụng trong chữa bệnh (đông y, tây y) Với mùi thơm đặc biệt, vỏ quế cũng được sử dụng làm gia vị cho các món ăn Từ vỏ quế còn chế biến ra rất nhiều sản phẩm phong phú khác như quế ống, bột quế, đồ thủ công mỹ nghệ… Tinh dầu quế chiết xuất từ lá, vỏ quế là một trong những hương liệu tạo nên các loại nước hoa nổi tiếng trên thị trường, còn thân cây cung cấp gỗ Với những ưu thế vượt trội đem lại, cây quế tiếp tục được xác định là cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế ở nhiều địa phương Tuy nhiên, để người dân xóa đói giảm nghèo, làm giàu từ cây quế được bền vững vẫn cần tập trung phát triển công nghiệp chế biến sâu, đa dạng các sản phẩm từ quế; quảng bá đưa sản phẩm quế có mặt trong và ngoài nước, góp phần nâng cao thu nhập người cho trồng quế, giúp bà con yên tâm phát triển cây đặc sản này
- Vùng quế Yên Bái
Vùng quế Yên Bái tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn
và Trấn Yên tỉnh Yên Bái Các khu vực có quế nhiều như Đại Sơn, Viễn Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm… có diện tích trồng quế và sản lượng vỏ quế chiếm khoảng 70% của cả vùng Sinh sống trên vùng quế Yên Bái chủ yếu là đồng bào Dao, có nghề trồng quế từ lâu đời Đặc điểm của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi chia cắt, hiểm trở, nằm phía Đông và Đông Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn, có độ cao tuyệt đối khoảng 300 - 700 m; nhiệt
độ trung bình năm là 22,7o C, lượng mưa bình quân năm trên 2000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mưa bình quân năm đạt đến trên 3000 mm; độ ẩm bình quân là 84% Đất đai phát triển trên đá sa thạch, phiến thạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước Vùng quế Yên Bái là vùng quế có diện tích quế và sản lượng vỏ quế cao nhất trong cả nước [8]
- Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng
Các huyện Trà Mi (tỉnh Quảng Nam) và Trà Bồng (Tỉnh Quảng Ngãi) cùng nằm về phía đông của dãy Trường Sơn Thượng nguồn phía Tây là đỉnh
Trang 37Ngọc Linh cao khoảng 1500m thấp dần về phía Đông Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng có độ cao khoảng 400 – 500 m; nhiệt độ bình quân năm 22oC, lượng mưa bình quân là 2.300 mm/năm, ẩm độ bình quân 85% Đất đai phát triển trên các loại đá mẹ, sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày ẩm, thoát nước, thành phần cơ giới trung bình Quế là nguồn lợi và gắn bó với đồng bào các dân tộc ít người như Cà tu, Cà toong, Bu từ lâu đời nay Các xã như Trà Quân, Trà Hiệp, Trà thuỷ (Trà bồng) Trà long, Trà giác, Trà mai (Trà mi) là các xã có nhiều quế nhất trong vùng Vùng quế Trà mi, Trà bồng đến nay đã được mở rộng ra các huyện xung quanh như Quế sơn, Phước sơn, Sơn Tây, Sơn Hà [8]
- Vùng quế Quế Phong, Thường Xuân
Các huyện Quế Phong, Quỳ Châu (Tỉnh Nghệ An) và Thường Xuân , Ngọc Lạc (tỉnh Thanh Hoá) là một vùng liền giải nằm về phía Đông dãy Trường Sơn; có vĩ độ từ 19o đến 20o vĩ độ Bắc Phía Tây thượng nguồn là các dãy núi cao khoảng 1500 - 2000 m án ngữ biên giới Viêt Lào và thấp dần
về phía Đông Vùng quế Quế Phong, Thường Xuân kẹp giữa lưu vực sông Chu và sông Hiến; có độ cao bình quân khoảng 300 - 700m Địa hình chia cắt
và đón gió Đông - Nam nên lượng mưa của vùng rất cao trên 2000 mm/năm, nguồn nước dồi dào, nhiệt độ bình quân năm 23,1oC, ẩm độ bình quân là 85% Thực vật trong vùng đa dạng và phong phú, có rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị như song, mây, tre, trúc và các cây làm thuốc, cây cho thực phẩm… Quế Thanh và quế Quỳ là quế tốt vì hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao nổi tiếng trong cả nước, đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mán sinh sống trong vùng có nghề trồng, khai thác sử dụng quế từ lâu đời Những vườn quế, đồi quế ở Châu Kim, Thông Thụ, Thái Vạn Trình, Thắng Lộc đã đem lại nguồn lợi kinh tế và môi sinh cho khu vực [8]
- Vùng quế Quảng Ninh
Các huyện Hải Ninh, Hà Cối, Đầm Hoà, Tiên Yên và Bình Liêu (Quảng Ninh) là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông Bắc kéo dài
Trang 38về phía biển Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc - Tây Nam là địa hình chắn gió vì vậy lượng mưa trong vùng rất cao khoảng trên 2.300 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm là 23oC Quế được gây trồng trên đai cao khoảng 200 - 400 m Quế Quảng Ninh là nguồn lợi đáng kể của đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sinh sống trong vùng Các vườn quế đồi quế ở Quảng Lâm, Hoàng Mô, Pò Hèm, Lục Phủ, Quất Động đã nhiều năm cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu [8]
- Thực trạng sản xuất quế ở nước ta
Diện tích trồng quế và sản lượng quế tăng lên nhanh chóng từ khi Lâm nghiệp xã hội phát triển Quế có thể được trồng tập trung và phân tán trong vườn hộ gia đình Vì có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ nên cây quế được các dự án Lâm nghiệp xã hội chọn làm cây trồng chủ yếu, đặc biệt
là các chương trình xoá đói giảm nghèo Tình hình trồng quế được tổng hợp ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích trồng quế ở một số tỉnh của Việt Nam giai đoạn
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006; Cổng thông tin điện tử các tỉnh 2018
Qua bảng 1.1 trên cho thấy rõ được sự phát triển của việc trồng quế trong đất Lâm nghiệp của các hộ gia đình và có sự kích thích của thị trường xuất khẩu Trong thời gian trước 1998 diện tích trồng Quế trong một số vùng giảm vì mất thị trường Đông Âu, nhiều diện tích quê bị phá Sau đó, việc xuất
Trang 39khẩu lại được tiếp tục với chính sách, cơ chế xuất khẩu mang lại lợi ích cao hơn nên trồng quế được nông dân phát triển mạnh; Từ năm 1998 diện tích quế một số tỉnh trong nước đã được trồng lại và phát triển từ 23.814.2 ha lên 63.503 ha vào năm 2016, đạt 75.994 ha năm 2018; đến nay một số tỉnh có diện tích trồng quế cao như Yên Bái, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Quảng Nam, cây quế đã được đưa vào quy hoạch phát triển đến năm 2020 - 2025 Tuy nhiên một số tỉnh sau khí giá quế tăng lên nhưng diện tích trồng quế vẫn chưa được khôi phục và phát triển, phần lớn diện tích mới trồng phải sau 15 năm mới có thể khai thác
Tính đến thời điểm này, diện tích Quế có thể đưa vào khai thác vỏ chỉ vào khoảng trên 20.000 ha (Quế trồng sau 10 năm mới có thể được khai thác), sản lượng vỏ một số vùng sản xuất chính được tổng hợp ở bảng 2.2
Bảng 1.2 Tổng sản lƣợng vỏ quế của một số tỉnh ở Việt Nam
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT 2016; Cổng thông tin điện tử các tỉnh 2018
- Xuất khẩu quế ở Việt Nam:
Theo thống kê của Hiệp hội Gia vị thế giới, Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về sản lượng quế, đứng thứ 2 sau Trung Quốc về sản lượng hồi với doanh thu xuất khẩu hàng trăm triệu USD/năm Mặc dù kim ngạch xuất
Trang 40khẩu các sản phẩm từ quế, hồi còn tương đối thấp so với nhiều sản phẩm khác nhưng với 200.000 ha hiện nay, tạo sinh kế bền vững cho hơn 200.000 hộ gia đình Kim ngạch quế xuất khẩu đã tăng lên đáng kể từ năm
2016 đến năm 2018 Quế trở thành cây xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi
Mặc dù nhiều tiềm năng nhưng giá thành của quế Việt Nam trên thị trường thế giới lại chưa cao vì nhiều hạn chế; hạn chế lớn nhất của ngành hiện nay là 70% giống quế do người dân tự sản xuất theo kinh nghiệm, chỉ 30% lượng giống tốt được cung cấp bởi các công ty nông nghiệp hoặc dự
án trồng mới của chính quyền Phần lớn nông dân canh tác theo tập quán
cũ, chất lượng sản phẩm đủ để thâm nhập vào các thị trường cao cấp chưa nhiều [10]
- Hiệu quả kinh tế của cây quế