Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự TTHS nước ta khi đề cập chức năng của viện kiểm sát các cấp.. thực hành quyền c
Trang 1TS Trần Văn Độ *
1 Quyền công tố và thực hành quyền
công tố là những khái niệm được nhắc đến
nhiều trong luật tố tụng hình sự (TTHS)
nước ta khi đề cập chức năng của viện kiểm
sát các cấp Điều 138 Hiến pháp năm 1980
lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân
dân tối cao nước Cộng hòa xB hội chủ
nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo
pháp luật thực hành quyền công tố, bảo
đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất; các viện kiểm sát
nhân dân địa phương và viện kiểm sát quân
sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực
hành quyền công tố trong phạm vi trách
nhiệm của mình Quy định đó cũng được
nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 Trên
cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân và các văn bản
pháp luật TTHS khác cũng có những quy
định tương tự
Trong khoa học luật TTHS, việc xác
định khái niệm quyền công tố và theo đó là
thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận
và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt
vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác
vai trò, vị trí của viện kiểm sát trong hệ
thống cơ quan nhà nước nói chung và trong
các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ
chức năng của viện kiểm sát, đặc biệt là
trong TTHS; từ đó có những quyết định
đúng đắn về tổ chức viện kiểm sát các cấp
Điều này đặc biệt quan trọng trong giai
đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước
Vấn đề khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đB được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nước ta với các mức độ khác nhau Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của tố tụng hình sự;(1) có những bài viết có tính chất chuyên khảo phân tích có hệ thống về
và gần đây có một số luận
án thạc sĩ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau (trong giai đoạn
điều tra, trong xét xử sơ thẩm ) Mặc dù vậy, quyền công tố và thực hành quyền công tố vẫn đang là vấn đề phức tạp, đang
có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau đòi hỏi phải được bàn luận tiếp
2 Hiện nay, trong sách báo pháp lí nước ta đang có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của viện kiểm sát
Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành 4 nhóm chính như sau:
* Tòa án quân sự trung ương
Trang 2- Quan điểm 1: Công tố không phải là
chức năng độc lập của viện kiểm sát mà chỉ
là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong TTHS Quan
hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa
phổ biến ở nước ta trước năm 1980 khi hiến
pháp chưa có quy định về chức năng thực
hành quyền công tố của viện kiểm sát và
cũng xuất phát từ quan niệm phổ biến của
- Quan điểm 2: Quyền công tố là quyền
của viện kiểm sát thay mặt nhà nước bảo vệ
lợi ích công (nhà nước, xB hội và công dân)
khi có các vi phạm pháp luật Vì vậy, viện
kiểm sát thực hành quyền công tố không
chỉ trong TTHS mà cả trong lĩnh vực tố
tụng khác như dân sự, kinh tế và các hoạt
- Quan điểm 3: Quyền công tố là quyền
của nhà nước giao cho viện kiểm sát truy tố
người phạm tội ra trước tòa án và thực hành
- Quan điểm 4: Quyền công tố là quyền
của nhà nước giao cho các cơ quan nhất
định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm
tội ra trước tòa án để xét xử và thực hiện
Quan điểm này phổ biến trong các nhà nước có sự
phân chia quyền lực
Do các quan niệm khác nhau như trên
về quyền công tố cho nên dẫn đến cách lí
giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng
như không gian của quyền công tố Về
không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS nhưng cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tố tụng dân sự, kinh tế, lao
động
Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố cũng chưa được nhận thức thống nhất Ngay trong TTHS cũng có người cho rằng quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; người khác lại cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà thôi Nhìn chung, mỗi quan điểm nêu trên
đều được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta và dù ít hay nhiều đều có hạt nhân hợp lí Tuy nhiên, theo chúng tôi các quan điểm đó vẫn còn những điểm bất cập nhất định nhìn từ khía cạnh quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn Những bất cập này thể hiện ở chỗ:
- Hoặc là thể hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công tố vào kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát; coi thực hành quyền công tố chỉ
là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS Vì vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền;
- Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi
Trang 3quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp
khác như dân sự, kinh tế
- Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công
tố, chỉ bó gọn quyền công tố trong giai
đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách
nhiệm của viện kiểm sát như là cơ quan có
trách nhiệm chính trong truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Theo chúng tôi, hạn chế chung nhất
trong các công trình nghiên cứu về quyền
công tố là hầu như các tác giả chịu bó tay
trong việc xác định hoạt động nào của viện
kiểm sát là để thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố; hoạt động nào là để
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong TTHS Đa số các tác
giả cho rằng hai chức năng trên của viện
kiểm sát vừa có tính độc lập tương đối vừa
liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung
cho nhau; giữa chúng có một số nội dung
xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách
rời tạo nên sự thống nhất trong chức năng
Để xác định khái niệm quyền công tố,
chúng tôi cho rằng cần phải khẳng định
một số vấn đề sau đây: Thứ nhất, quyền
công tố là quyền của nhà nước Nhà nước
uỷ quyền cho cơ quan cụ thể thực hiện
quyền này trong bộ máy cơ quan nhà nước
phân quyền hoặc phân công thực hiện chức
năng; thứ hai, quyền công tố về thực chất
là quyền của nhà nước truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để
làm được điều đó, cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải
điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước tòa
án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa; thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đB được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thể Không tồn tại quyền công tố chung chung
Từ những nhận thức trên, chúng tôi cho rằng quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó
Từ khái niệm trên có thể xác định phạm vi quyền công tố như sau:
- Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực TTHS;
- Nội dung quyền công tố là sự buộc tội Vì vậy, chức năng buộc tội và gỡ tội (bào chữa) không thể cùng thuộc một cơ quan, cá nhân;
- Quyền công tố đối với vụ án cụ thể xuất hiện từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động thực hành quyền công tố lại bắt đầu từ khi khởi
tố bị can và kết thúc trước khi hội đồng xét
xử (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) nghị án;
- Thực hành quyền công tố được thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét
Trang 4xử là hệ thống hoạt động thống nhất, liên
tục không đứt quBng, vì vậy phải do một cơ
quan tiến hành tố tụng, một người tiến
hành tố tụng thực hiện Chúng tôi cho rằng
quy định của BLTTHS về việc chức năng
điều tra và truy tố do hai cơ quan khác
nhau thực hiện, kiểm sát điều tra và thực
hiện việc truy tố do hai kiểm sát viên khác
nhau là chưa phù hợp
Từ khái niệm quyền công tố nêu trên,
chúng ta có thể xác định khái niệm và
phạm vi thực hành quyền công tố như sau:
Thực hành quyền công tố là việc thực hiện
các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định
của pháp luật TTHS để truy cứu trách
nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người
phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó
Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt
động thực hành quyền công tố bao gồm:
- Khởi tố bị can: Để có được quyết định
khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố
vụ án và điều tra, xác minh Không nên coi
giai đoạn này chỉ là “giai đoạn chuẩn bị
của giai đoạn thực hành quyền công tố”
- Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ
sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh
được người phạm tội;
- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội
trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo
trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận
tội và tranh luận trước phiên tòa sơ thẩm;
nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì
có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm
Việc đưa ra được các khái niệm chính xác về quyền công tố, thực hành quyền công tố và phạm vi của chúng trong TTHS
là cơ sở lí luận quan trọng để xác định chức năng của cơ quan được nhà nước giao thực hiện quyền công tố; quan hệ cơ quan điều tra và cơ quan công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; nguyên tắc tố tụng tại phiên tòa hình sự; thẩm quyền của cơ quan công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ
án hình sự và các chế định tố tụng quan trọng khác như bào chữa, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm v.v
3 Trên cơ sở phân tích các khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố nêu trên, chúng tôi có một số kiến nghị sau
đây nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền công tố nhà nước một cách có hiệu quả
+ Về tổ chức
- Thành lập viện công tố với chức năng duy nhất là thực hiện quyền công tố nhà nước trong TTHS Viện công tố thực hiện chức năng điều tra theo hướng dự thẩm, tức nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự do công tố
- dự thẩm viên đảm nhiệm trên cơ sở có sự trợ giúp của cơ quan cảnh sát và một số cơ quan khác thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu Đồng thời, công tố viên đó cũng
là người tham gia phiên tòa để đọc bản cáo
Trang 5trạng, tham gia xét hỏi buộc tội bị cáo và
trình bày lời luận tội Các cơ quan công tố
có thể được thành lập thành hệ thống độc
lập hoặc trực thuộc cơ quan hành pháp Thế
nhưng theo chúng tôi, nếu được tổ chức
thành hệ thống độc lập sẽ có hiệu quả hơn
Đồng thời với việc thành lập các cơ
quan công tố là hủy bỏ các cơ quan điều tra
như hiện nay; chỉ để cho lực lượng cảnh sát
và một số cơ quan khác như hải quan, kiểm
lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển
thực hiện một số hoạt động điều tra ban
đầu;
- Bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của viện kiểm sát, kể cả kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
TTHS Bởi vì, điều tra vụ án thuộc chức
năng của cơ quan công tố; giám đốc hoạt
động xét xử của tòa án cấp dưới do tòa án
cấp trên đảm nhận; giám sát thi hành án
hình sự là lĩnh vực hành pháp cũng như
giám sát các lĩnh vực quản lí khác đB có cơ
quan thanh tra thực hiện;
+ Về tố tụng hình sự
- Xây dựng cơ chế tranh tụng trong
TTHS, trong đó chức năng buộc tội và chức
năng bào chữa phải do các bên khác nhau
thực hiện một cách bình đẳng (trong quyền
và nghĩa vụ tố tụng, trong điều kiện và khả
năng chứng minh ); tòa án là cơ quan
phân xử (xét xử) trên cơ sở buộc tội cũng
như bào chữa;
- Xây dựng các giai đoạn tố tụng với cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng, với quyền
và nghĩa vụ hợp lí; không nên tách rời khởi
tố, điều tra và truy tố thành các giai đoạn
độc lập tách rời nhau dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn;
- Hoàn thiện các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm theo hướng với tư cách là bên tham gia TTHS, cơ quan công tố chỉ có thẩm quyền kháng nghị bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật như bị cáo và các đương sự khác theo nguyên tắc hai cấp xét xử; còn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm là thuộc thẩm quyền của chánh án tòa
án cấp trên - cơ quan có nhiệm vụ giám
đốc xét xử đối với tòa án cấp dưới./
(1) Võ Thọ - Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự, Nxb Pháp lí, năm 1985; Giáo trình công tác kiểm sát của Trường Cao đẳng kiểm sát
(2) Nguyễn Thái Phúc - Một số vấn đề về quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân, trong Kỉ yếu đề tài "Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của
tố tụng hình sự Việt Nam", Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 1995, tr.127 - 151
(3).Xem: Nguyễn Thái Phúc, Sđd
(4).Xem: Giáo trình tố tụng hình sự Xô viết, Nxb Sách pháp lí, Maxcơva, 1980, tr 92 - 95
(5).Xem: Giáo trình công tác kiểm sát, Trường Cao
đẳng kiểm sát, 1998.
(6).Xem: Võ Thọ, Sđd, tr.86-87.
(7) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1998, tr.204 (8).Xem: Nguyễn Đức Mai - "Vấn đề tranh tụng hình sự", Kỉ yếu đề tài "Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam", tr.33.
(9).Xem: Vũ Mộc - "Về thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị", Kỉ yếu đề tài “Những vấn đề ”, Sđd, tr
117