Sở hữu trí tuệ bao gồm hai bộ phận là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp; giữa chúng có nhiều điểm tương đồng về tính chất của đối tượng sở hữu, về việc chủ thể sáng tạo được hưởn
Trang 1Những khác biệt cơ bản giữa hai lĩnh vực của sở hữu trí tuệ
Ths Kiều Thanh *
ần đây, trong xu hướng toàn cầu hoá,
vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ trên thế giới
nói chung có tầm quan trọng đặc biệt Nó gần
như đ+ trở thành một trong những yếu tố cơ
bản để xác lập mối quan hệ đa phương hoặc
song phương giữa các quốc gia trong lĩnh vực
kinh tế, thương mại ở Việt Nam nói riêng,
theo xu hướng tất yếu của tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, khung pháp lí về bảo hộ sở
hữu trí tuệ cũng đang ngày càng được hoàn
thiện Đó là những quy định của Bộ luật dân
sự (BLDS) tại Phần thứ sáu - Quyền sở hữu trí
tuệ và chuyển giao công nghệ, với dung
lượng điều luật khá lớn (từ Điều 745 đến
Điều 825) cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi
hành BLDS của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền
Sở hữu trí tuệ bao gồm hai bộ phận là
quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp;
giữa chúng có nhiều điểm tương đồng về tính
chất của đối tượng sở hữu, về việc chủ thể
sáng tạo được hưởng các quyền nhân thân và
quyền tài sản theo quy định của pháp luật, về
quyền sử dụng đối tượng mang tính chất
thương mại, về việc giới hạn thời gian bảo
hộ Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những
khác biệt nhất định Trong phạm vi bài viết
này, tác giả chỉ đề cập những điểm khác biệt
cơ bản nhất giữa quyền tác giả và quyền sở
hữu công nghiệp
Trước hết, nếu xét về lịch sử sáng tạo thì
việc con người tạo ra tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học có bề dày lâu đời hơn so với
việc con người tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nh+n hiệu hàng hoá Điều này có thể dễ dàng được lí giải bởi việc sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nói chung là nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần về văn hoá, tình cảm, nhận thức, hiểu biết của con người nên chúng gần như được tiến hành song song với sự tiến triển của x+ hội loài người, với số lượng vô cùng lớn các tác phẩm
được sáng tạo Còn việc sáng tạo các đối tượng sở hữu công nghiệp về cơ bản là nhằm giải quyết những nhiệm vụ kĩ thuật, mĩ thuật với tính thương mại rất cao được đặt ra trong quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp bằng tiến trình máy móc thay cho phương pháp thủ công truyền thống Vì vậy, các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được con người sáng tạo ra có sự gắn bó hết sức chặt chẽ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với những quy luật khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường nhằm tạo ra nhiều sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao Theo ước tính của một số nhà chuyên môn thì đến nay, trên thế giới có khoảng trên
30 triệu sáng chế nhưng không ai có thể ước tính được con người đ+ sáng tạo ra bao nhiêu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học?
Điểm khác biệt cơ bản thứ hai giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là về bản
G
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2chất của sự bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ
Với quyền tác giả, sự bảo hộ pháp lí là đối
với hình thức sáng tạo chứa đựng nội dung
tác phẩm thông qua các phương thức biểu
hiện khác nhau như ngôn ngữ (viết, miệng),
kí tự âm nhạc, hình khối, mầu sắc với rất
nhiều loại hình tác phẩm được bảo hộ như tác
phẩm viết, tác phẩm mĩ thuật, tác phẩm đồ
hoạ, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm nhiếp ảnh,
tác phẩm điện ảnh, phần mềm máy tính Vì
vậy, một trong những nội dung cơ bản nhất
của luật bản quyền tác giả là cấm người khác
sao in tác phẩm nếu không được phép của tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả Mặt khác, trên
thực tế có rất nhiều loại hình tác phẩm có thể
gọi là tác phẩm phái sinh, do chúng được
sáng tạo dựa trên cơ sở nội dung của tác
phẩm khác theo hình thức biểu hiện mới như
tác phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, cải biên,
chuyển thể Giữa tác phẩm gốc ban đầu và
tác phẩm phái sinh không chỉ có mối liên hệ
chặt chẽ về nội dung mà vấn đề cơ bản là nội
dung của tác phẩm gốc đ+ được biểu hiện ở
tác phẩm phái sinh với hình thức hoàn toàn
mới (ví dụ, tác phẩm văn học viết được
chuyển thể thành kịch bản điện ảnh) Theo
quy định pháp luật thì cả hai loại hình tác
phẩm này đều được hưởng sự bảo hộ pháp lí
quyền tác giả Điều này có nghĩa là trong
những điều kiện nhất định, người ta hoàn toàn
có thể sử dụng nội dung cơ bản trong tác
phẩm của người khác để sáng tạo ra tác phẩm
của mình và các tác phẩm này đều được
hưởng sự bảo hộ pháp lí quyền tác giả một
cách bình đẳng, quyền tác giả tác phẩm phái
sinh không làm ảnh hưởng đến quyền tác giả
tác phẩm gốc
Đặc điểm trên của sự bảo hộ pháp lí quyền tác giả cũng là một trong những sự khác biệt cơ bản so với sự bảo hộ pháp lí quyền sở hữu công nghiệp Nếu như sự bảo
hộ pháp lí quyền tác giả là hướng tới hình thức chuyển tải ý tưởng, chuyển tải nội dung thì sự bảo hộ pháp lí quyền sở hữu công nghiệp về bản chất là bảo hộ nội dung đối tượng sáng tạo thông qua các quy định cấm người khác không được sử dụng giải pháp kĩ thuật, mĩ thuật đang được bảo hộ của chủ thể
để sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp tương ứng Điều này xuất phát từ mục đích của sự bảo hộ pháp lí quyền
sở hữu công nghiệp chủ yếu là nhằm bù đắp chi phí sáng tạo và áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong thực tiễn sản xuất các sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp bằng những quy định cho phép chủ sở hữu các đối tượng đó được độc quyền sử dụng chúng trong thời hạn nhất định Điều này
đồng thời có ý nghĩa khuyến khích sự sáng tạo của con người gắn liền với sự phát triển chung của x+ hội trước những thành tựu khoa học kĩ thuật và công nghệ mới Do đó, một trong những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật quy định là: “Sản xuất sản phẩm theo sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ tại Việt Nam; sử dụng, nhập khẩu, quảng cáo, lưu thông sản phẩm mà sản phẩm đó được sản xuất theo sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ tại Việt Nam” (điểm a, điểm b khoản 1 Điều 805 BLDS)
Từ sự khác biệt cơ bản nêu trên về bản chất của sự bảo hộ pháp lí quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, đ+ dẫn đến sự khác biệt cơ bản và quan trọng khác giữa chúng Với tính chất là bảo hộ sự sáng tạo cá nhân về hình thức thể hiện ý tưởng thì trong
Trang 3lĩnh vực quyền tác giả, việc con người sáng
tạo và biểu hiện tác phẩm dưới hình thức
khách quan nhất định đồng thời làm phát sinh
quyền tác giả của người sáng tạo đối với tác
phẩm đó mà không cần trải qua bất cứ điều
kiện, thủ tục gì Đây chính là nội dung của
nguyên tắc: “Bảo hộ tự động” đối với quyền
tác giả đ+ được thừa nhận ngay từ năm 1886,
khi có 10 quốc gia trên thế giới là Pháp, Anh,
Đức, Hali, Tây Ban Nha, Bỉ, Thuỵ Sỹ, Li Bi,
Haiiti và Tunisia cùng nhau thoả thuận kí kết
Công ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyền
tác giả tại Berne (Thuỵ Sỹ) Công ước này
được gọi là Công ước Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học và nghệ thuật Theo nguyên tắc
này, việc hưởng và thực hiện các quyền lợi
dành cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
không lệ thuộc vào bất kì thể thức, thủ tục
nào Quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác
giả ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây
cũng đều thể hiện xu hướng đó Chẳng hạn,
Điều 754 BLDS quy định: “Quyền tác giả
phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng
tạo dưới hình thức nhất định”
Khác biệt với tính chất bảo hộ tự động
của quyền tác giả, việc bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp mang tính chất riêng và phải
tuân theo thủ tục hành chính BLDS Việt
Nam quy định cụ thể về việc bảo hộ 5 đối
tượng sở hữu công nghiệp là sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nh+n
hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá
Để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với tất cả các đối tượng này, chủ thể đều
phải tuân theo trình tự, thủ tục hành chính là
gửi đơn xin phép và được cấp phép từ cơ quan
nhà nước có thẩm quyền Do đó, nếu chủ thể
chỉ sáng tạo giải pháp kĩ thuật, mĩ thuật mà
không có đơn yêu cầu bảo hộ hoặc có đơn
yêu cầu bảo hộ mà bị từ chối từ phía cơ quan chức năng thì việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng không tự động phát sinh Nội dung này được quy định tại Điều 788 BLDS là: “Quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nh:n hiệu hàng hoá và quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá được xác lập theo văn bằng bảo hộ
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Quyền sở hữu đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác cũng được xác lập theo quy
định của pháp luật” Vì lí do này mà các khái niệm như “quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ”, “quyền ưu tiên đối với đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ” là những khái niệm riêng chỉ có trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, không được sử dụng trong lĩnh vực quyền tác giả
Điểm khác biệt quan trọng khác của quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là
về thiên hướng bảo hộ quyền của chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật này Nếu như trong lĩnh vực quyền tác giả pháp luật nghiêng về bảo hộ quyền của tác giả là người sáng tạo tác phẩm, ít quy định về chủ sở hữu tác phẩm thì trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, pháp luật lại nghiêng về bảo hộ quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp còn người sáng tạo được nhắc đến không nhiều Cụ thể, khái niệm pháp lí về tác giả cùng nhiều quy định khác về quyền tác giả như quyền của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm; quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, quyền của tác giả dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể; giới hạn quyền tác giả; chuyển giao quyền tác giả được thể hiện đậm nét trong các quy định về quyền tác giả tại BLDS Trong khi đó, về chủ sở hữu tác phẩm
Trang 4lại chỉ có một vài quy định về việc xác định
chủ sở hữu tác phẩm, về quyền của chủ sở
hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả
Thậm chí, khái niệm pháp lí thế nào là chủ sở
hữu tác phẩm cũng chưa được BLDS đề cập
Quy định của BLDS về quyền sở hữu
công nghiệp có nội dung khác hẳn so với
quyền tác giả Chỉ có 2 trong tổng số 26 điều
luật của chế định này (từ Điều 780 đến Điều
805) quy định riêng về tác giả Đó là Điều
799 và Điều 800 quy định về tác giả và các
quyền của tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp Nếu thật chính xác
thì ngoài hai điều luật trên cũng có thêm
điểm a khoản 1 Điều 789 quy định về quyền
nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ của tác
giả, các đồng tác giả tạo ra sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp bằng
công sức và chi phí riêng của mình và khoản
1 Điều 798 quy định về nghĩa vụ của chủ sở
hữu các đối tượng này phải trả thù lao cho tác
giả, nếu giữa chủ sở hữu và tác giả không có
thoả thuận khác
Có thể lí giải như thế nào về điểm khác
biệt nêu trên giữa quyền tác giả và quyền sở
hữu công nghiệp? Người ta vẫn phải xuất phát
từ đặc điểm bản chất của sự bảo hộ pháp lí
trong hai lĩnh vực này để trả lời Rõ ràng để
tạo nên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học thì công lao trước hết và chủ yếu luôn
thuộc về tác giả là người sáng tạo tác phẩm
Bất kì loại hình tác phẩm nào cũng thể hiện
dấu ấn cá nhân của tác giả trên tác phẩm đó
nên sự bảo hộ pháp lí quyền tác giả thiên về
bảo hộ quyền của tác giả cũng là điều khó có
thể làm ngược lại Điều này không có nghĩa
là trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp người ta
xem nhẹ công sức sáng tạo của tác giả sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
mà cơ bản do đặc thù của lĩnh vực này khác với lĩnh vực quyền tác giả Sự thật hiển nhiên
là các giải pháp kĩ thuật, mĩ thuật mới được sáng tạo trong quá trình sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp hầu hết đều phải dựa trên cơ sở và nền tảng của những thành tựu đ+ có, đ+ biết trong lĩnh vực tương ứng Hơn nữa, để có thể áp dụng những giải pháp này tạo ra những sản phẩm chứa
đựng nội dung đối tượng sở hữu công nghiệp
được bảo hộ luôn đòi hỏi những chi phí vật chất hết sức lớn từ phía nhà sản xuất, từ phía chủ sở hữu đối tượng Không phải ngẫu nhiên
mà một trong những đặc điểm của nền kinh tế tri thức lại là sự đầu tư lớn cho những ngành
và lĩnh vực có chất lượng kĩ thuật cao để thu lời lớn nhưng lại là bạn đồng hành của tính rủi ro và mạo hiểm lớn Vì vậy, không có gì
đáng ngạc nhiên khi pháp luật về sở hữu công nghiệp thiên về quy định quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp so với quy
định về quyền của tác giả các đối tượng này
Sự khác biệt này so với quyền tác giả được lí giải xuất phát từ một trong những đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp là chủ sở hữu
đối tuợng sở hữu công nghiệp thường phải
đầu tư nhiều về tiền của, công sức trong quá trình tác giả nghiên cứu, sáng tạo các đối tượng sở hữu công nghiệp đó
Liên quan đến sự bảo hộ quyền của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp còn có một số khác biệt khá cơ bản về chi phí bảo hộ, về việc sử dụng các đối tượng được bảo hộ thể hiện trong những quy định pháp luật tương ứng Cụ thể, nếu như trong quan hệ
Trang 5quyền tác giả, xuất phát từ nguyên tắc bảo hộ
tự động mà quyền tác giả phát sinh kể từ thời
điểm tác phẩm được sáng tạo dưới hình thức
nhất định và được bảo hộ miễn phí thì trong
quan hệ về quyền sở hữu công nghiệp, mối
quan hệ xin phép - cấp phép bảo hộ giữa
người có quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ với
cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền
nhằm bảo hộ độc quyền áp dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp của chủ sở hữu các đối
tượng này trước tất cả những người khác đ+
dẫn đến khoản lệ phí bảo hộ mà chủ sở hữu
bắt buộc phải tuân thủ Chính sự khác biệt
này đ+ dẫn đến quy định pháp luật về một
trong những nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
là: “Nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng
bảo hộ” (khoản 2 Điều 798 BLDS) Trường
hợp nghĩa vụ này không được thực hiện đúng
thời hạn thì hiệu lực của văn bằng bảo hộ sẽ
bị đình chỉ (điểm a khoản 1 Điều 793 BLDS)
Ngoài những điểm khác biệt cơ bản nêu
trên, để phân biệt quyền tác giả và quyền sở
hữu công nghiệp tất nhiên còn có nhiều điểm
khác biệt khác nhưng ở đây tác giả chỉ xin đề
cập điểm khác biệt quan trọng nữa là về thời
hạn bảo hộ Xu hướng của một số quốc gia
trên thế giới hiện nay là nếu có thể thì kéo dài
thời hạn bảo hộ quyền tác giả như một sự
“gấp đôi cuộc đời” tác giả, nhằm khuyến
khích sự sáng tạo bằng cách tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho người thừa kế của họ về
khả năng được hưởng thành quả sáng tạo của
cha ông mình Vì thế, khi mà phần lớn các
nước quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả
là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo
năm tác giả chết thì ở Tây Ban Nha thời hạn
này là suốt cuộc đời tác giả và 60 năm sau khi tác giả qua đời Còn tại một số nước khác như Pháp, Đức thì số năm tiếp theo được bảo
hộ sau khi tác giả chết lên tới 70 năm ở Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy
định tại Điều 766 BLDS, theo đó các quyền tài sản và một số quyền nhân thân được bảo
hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết
Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được quy định ngắn hơn nhiều so với thời hạn bảo hộ quyền tác giả Chẳng hạn, hầu hết pháp luật sở hữu công nghiệp của các nước đều quy định thời hạn bảo hộ sáng chế kéo dài 20 năm Điều này được lí giải từ tính chất “bảo hộ độc quyền áp dụng” trước tất cả những người khác của chủ sở hữu đối tượng
sở hữu công nghiệp Hơn nữa, mục đích lớn nhất của sự bảo hộ pháp lí quyền sở hữu công nghiệp không chỉ nhằm bù đắp chi phí sáng tạo và áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp mà còn nhằm thừa nhận và thúc đẩy
sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật và công nghệ mới trên cơ sở kế thừa và tiếp tục những thành tựu đ+ có, tạo động lực mạnh mẽ và quyết định nhất cho sự phồn thịnh và phát triển kinh tế của đất nước thì việc quy định thời hạn bảo hộ tương đối ngắn
sẽ là phù hợp hơn với bản chất của quan hệ x+ hội mà luật điều chỉnh Pháp luật sở hữu công nghiệp Việt Nam hiện hành quy định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm, giải pháp hữu ích
là 10 năm, kiểu dáng công nghiệp là 5 năm, nh+n hiệu hàng hoá là 10 năm, tên gọi xuất
xứ hàng hoá là 10 năm, trong đó kiểu dáng công nghiệp có thể được gia hạn liên tiếp hai
(Xem tiếp trang 32)