1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Những nguyên tắc của luật danh hiệu thương mại Cộng hoà liên bang Đức " ppt

3 404 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 65,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài phần lớn những quy định này nằm trong Chương 3 Quyền 1 Bộ luật thương mại, còn có một số quy định về danh hiệu thương mại nằm trong các văn bản pháp luật khác của CHLB Đức, cụ thể

Trang 1

những nguyên tắc của luật danh hiệu thương mại CHLB Đức

ths Nguyễn Thị Khế * uật danh hiệu thương mại của CHLB

Đức bao gồm những quy định về

danh hiệu thương mại (firma) Ngoài

phần lớn những quy định này nằm trong

Chương 3 Quyền 1 Bộ luật thương mại,

còn có một số quy định về danh hiệu

thương mại nằm trong các văn bản pháp

luật khác của CHLB Đức, cụ thể là tại

Điều 4 và 279 Luật công ti cổ phần, Điều

4 Luật công ti trách nhiệm hữu hạn và

Điều 3 Luật hợp tác xF

Danh hiệu thương mại là tên của

thương gia trong hoạt động thương mại

Mặc dù là tên của thương gia nhưng

thương gia cũng không thể đặt và sử dụng

cái tên đó hoàn toàn tùy theo ý thích của

mình mà phải tuân theo những nguyên

tắc nhất định Những nguyên tắc mà pháp

luật đưa ra vừa đảm bảo lợi ích công cộng

trong giao lưu pháp luật vừa đảm bảo lợi

ích của thương gia

Danh hiệu thương mại theo đoạn 1

Điều 17 Bộ luật thương mại CHLB Đức

là tên của thương gia, thương gia hoạt

động dưới tên đó và kí bằng tên đó

Thương gia có thể bị kiện và đi kiện bằng

tên đó Danh hiệu thương mại về bản chất

chỉ là tên của thương gia trong hoạt động

thương mại Theo ý nghĩa pháp lí, danh

hiệu thương mại khác với ngôn ngữ sử

dụng hàng ngày, nó không phải là doanh

nghiệp, là công ti mà chỉ là kí hiệu đặc

biệt của chủ doanh nghiệp, nó là tên

thương mại của chủ doanh nghiệp Trong

ngôn ngữ hàng ngày, người ta vẫn nhầm

lẫn giữa danh hiệu thương mại với doanh

nghiệp hay công ti Theo luật thương mại

của CHLB Đức thì chỉ có thương gia đầy

đủ (vollkouymann) mới có danh hiệu thương mại, tiểu thương không được sử dụng danh hiệu thương mại mà chỉ có thể

sử dụng kí hiệu thương mại Mỗi thương gia chỉ được phép sử dụng một danh hiệu thương mại nhưng có thể sử dụng nhiều

kí hiệu thương mại Danh hiệu thương mại giúp cho khách hàng nhận dạng chính bản thân thương gia, còn kí hiệu thương mại là để nhận dạng cơ sở sản xuất hay cửa hàng thương mại Danh hiệu thương mại là tên của thương gia liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp của thương gia, người chủ doanh nghiệp là thương gia có quyền tuyệt đối đối với danh hiệu thương mại của mình Nhưng vấn đề đặt ra và còn nhiều tranh cFi là quyền danh hiệu thương mại tuyệt đối đó

là quyền nhân thân hay quyền tài sản hay

là cả hai?

Trước đây, Tòa án đế chế cho rằng quyền danh hiệu thương mại chỉ là quyền nhân thân nhưng ngày nay, Tòa án tối cao CHLB Đức đF nhấn mạnh bản chất kép của quyền danh hiệu thương mại, tức là quyền danh hiệu thương mại vừa là quyền nhân thân vừa là quyền tài sản

Là tên thương mại của thương gia, danh hiệu thương mại là quyền nhân thân, quyền này không thể bị tịch thu, trưng dụng, không thể đem cầm cố Nhưng khác với quyền đối với tên thông thường của cá nhân, quyền danh hiệu thương mại của thương gia không phải là

L

L

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

quyền nhân thân thuần tuý mà nó còn là

quyền mang yếu tố tài sản, quyền này có

thể được thừa kế và có thể bán được

Đương nhiên danh hiệu thương mại chỉ

có thể được bán cùng với doanh nghiệp

chứ không thể chỉ bán danh hiệu thương

mại, ngược lại, người ta có thể bán doanh

nghiệp mà không bán danh hiệu thương

mại Danh hiệu thương mại có giá trị

kinh tế lớn vì nó thể hiện danh tiếng của

doanh nghiệp

Việc xác định rõ bản chất pháp lí của

danh hiệu thương mại có ý nghĩa rất lớn

trong việc giải quyết phá sản đối với

thương gia Xuất phát từ giá trị kinh tế

của danh hiệu thương mại, học thuyết

chính thống và các tòa án đều thừa nhận

rằng: Nhân viên quản tài có thể bán

doanh nghiệp cùng với danh hiệu thương

mại nếu không có tên riêng của thương

gia trong danh hiệu thương mại đó Trong

trường hợp có tên của thương gia thì phải

được sự đồng ý của thương gia

Danh hiệu thương mại được đặt theo

nhiều cách khác nhau, do đó có rất nhiều

loại danh hiệu thương mại Pháp luật quy

định đầy đủ và rõ ràng là đối với từng

loại thương gia thì danh hiệu thương mại

phải được đặt như thế nào Chẳng hạn,

danh hiệu thương mại của công ti hợp

danh thì bắt buộc phải có họ và tên đầy

đủ của một thành viên công ti, còn đối

với công ti cổ phần thì tên thương mại

của công ti phải xuất phát từ đối tượng

kinh doanh của công ti

Việc đặt và sử dụng danh hiệu thương

mại phải tuân theo những nguyên tắc nhất

định, đó là:

1 Nguyên tắc sự thật và rõ ràng

Danh hiệu thương mại có nhiều chức

năng khác nhau Ngoài chức năng định

danh ra, nó còn có các chức năng khác có

ý nghĩa kinh tế và pháp lí như chức năng

xác định xuất xứ của hàng hoá, chức năng bảo hành, chức năng quảng cáo

Do đó, pháp luật quy định danh hiệu thương mại phải phù hợp với sự thật và phải rõ ràng, không được làm cho khách hàng và công chúng nhầm lẫn về chủng loại và phạm vi của hoạt động thương mại cũng như quan hệ nội bộ của doanh nghiệp Công chúng luôn muốn biết xem

đằng sau danh hiệu thương mại đó là ai Thông qua danh hiệu thương mại công chúng cần được biết đó là công ti đối nhân hay công ti đối vốn, chịu trách nhiệm vô hạn hay hữu hạn Điều đó có thể làm cho khách hàng có quyết định làm ăn với doanh nghiệp hay không, vì vậy mà danh hiệu thương mại phải rõ ràng và phù hợp với sự thật khách quan

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất

2 Nguyên tắc bền vững và liên tục của danh hiệu thương mại

Danh hiệu thương mại tượng trưng cho danh tiếng của công ti và biểu hiện giá trị kinh tế của công ti, do đó, người ta thường mượn danh công ti để quảng cáo Chức năng đó của danh hiệu thương mại chỉ có thể được thực hiện nếu danh hiệu thương mại ổn định, bền vững và đảm bảo tính liên tục Vì thế mà pháp luật đF quy định trong những điều kiện nhất

định, danh hiệu thương mại có thể được tiếp tục sử dụng mặc dù nó không còn

đúng với sự thật để vừa đảm bảo lợi ích của chủ cũ của danh hiệu thương mại vừa

đảm bảo lợi ích của chủ mới Chủ cũ có thể bán doanh nghiệp cùng với danh hiệu thương mại với giá cao hơn và chủ mới có thể sử dụng danh tiếng tốt của doanh nghiệp và vì vậy phải trả giá cao hơn Danh hiệu thương mại chỉ có thể được bán cùng với doanh nghiệp chứ không thể bán riêng một mình, ngược lại, doanh nghiệp có thể bán mà không nhất thiết

Trang 3

phải bán cùng với danh hiệu thương mại

Pháp luật có quy định rõ trong những

trường hợp nào thì danh hiệu thương mại

có thể được giữ nguyên mặc dù chủ của

nó đF thay đổi Nguyên tắc này mâu

thuẫn với nguyên tắc sự thật và rõ ràng

nhưng các nhà làm luật vẫn quy định

nguyên tắc này một cách có ý thức

Trong mối quan hệ giữa nguyên tắc sự

thật rõ ràng và nguyên tắc ổn định liên

tục thì nguyên tắc sự thật vẫn chiếm ưu

thế hơn Điều đó có nghĩa là ngay cả khi

chủ mới tiếp nhận danh hiệu thương mại

cũ thì cũng không được phép gây nhầm

lẫn cho khách hàng

3 Nguyên tắc duy nhất hay nguyên

tắc phân biệt

Là tên của thương gia, danh hiệu

thương mại là phương tiện để nhận dạng

thương gia và cơ sở kinh doanh của

thương gia Vì vậy, danh hiệu thương mại

của thương gia này phải khác với danh

hiệu thương mại của thương gia khác

Luật thương mại CHLB Đức quy định:

Danh hiệu thương mại phải có tính phân

biệt Nguyên tắc này bổ sung cho nguyên

tắc sự thật và rõ ràng Để tránh sự nhầm

lẫn của khách hàng thì trên một địa bàn

không thể có hai danh hiệu thương mại

giống hệt nhau Các danh hiệu thương

mại phải phân biệt được với nhau Điều

đó có nghĩa là thương gia không được

phép đặt tên thương mại của mình trùng

với tên thương mại của thương gia khác

đF đăng kí Ngay cả khi người chủ của

danh hiệu thương mại đồng ý với việc đặt

trùng này thì pháp luật cũng không cho

phép Vì mục đích của nguyên tắc này là

bảo vệ lợi ích của công chúng, của khách

hàng chứ không phải bảo vệ lợi ích của

chủ danh hiệu thương mại Người chủ

danh hiệu thương mại mới phải đảm bảo

rằng danh hiệu thương mại của anh ta có

sự phân biệt rõ ràng với danh hiệu thương mại khác

4 Nguyên tắc công khai của danh hiệu thương mại

Danh hiệu thương mại phải được công khai Sự công khai này được thực hiện thông qua việc đăng kí vào danh bạ thương mại, mọi người đều có quyền xem danh bạ thương mại để có thể biết được những thông tin cần thiết về thương gia dưới danh hiệu thương mại đó Thương gia có nghĩa vụ đăng kí danh hiệu thương mại của mình, khi thay đổi danh hiệu thương mại, thương gia cũng phải thông báo cho thẩm phán phụ trách danh bạ thương mại để thay đổi trong danh bạ thương mại cho phù hợp Danh hiệu thương mại chỉ được đăng kí nếu nó khác biệt với danh hiệu thương mại khác đF

đăng kí trong danh bạ đó Nếu không thì thẩm phán phụ trách có quyền không cho

đăng kí

5 Nguyên tắc thống nhất Theo nguyên tắc này, mỗi doanh nghiệp chỉ được phép có một danh hiệu thương mại Nguyên tắc thống nhất của danh hiệu thương mại không được quy

định trực tiếp trong luật, vì vậy đF gây ra nhiều tranh cFi: Nguyên tắc này có giá trị

đối với Luật danh hiệu thương mại CHLB

Đức hay không? Liệu một chủ thể có thể

có nhiều danh hiệu thương mại không và chủ thể này có được sử dụng nhiều danh hiệu thương mại cho một doanh nghiệp hay không? Câu trả lời cho hai vấn đề này phụ thuộc vào chủ doanh nghiệp là thể nhân hay công ti thương mại

Nếu chủ thể kinh doanh là thể nhân thì người đó có thể sử dụng một danh hiệu thương mại cho một doanh nghiệp của mình Nếu có nhiều doanh nghiệp hoạt

động độc lập với nhau thì mỗi doanh

(xem tiếp trang 59)

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w