Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức
Trang 1Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự
Hoàng Thị Sơn *
1 Theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự (BLTTHS), tòa án cấp phúc thẩm
xem xét những phần của bản án sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị Đối với những
phần của bản án không bị kháng cáo,
kháng nghị, tòa án chỉ xem xét trong
trường hợp cần thiết Khi xét xử phúc
thẩm, tòa án cấp phúc thẩm có quyền
"sửa bản án sơ thẩm" Việc sửa bản án sơ
thẩm được quy định cụ thể ở Điều 221
BLTTHS:
"1 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền
sửa bản án sơ thẩm như sau:
a Miễn trách nhiệm hình sự hoặc
miễn hình phạt cho bị cáo;
b áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự
về tội nhẹ hơn;
c Giảm hình phạt cho bị cáo;
d Giảm mức bồi thường thiệt hại và
sửa quyết định xử lí vật chứng
2 Nếu có căn cứ, tòa án cấp phúc
thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng
điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn
cho cả những bị cáo không kháng cáo
hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị
3 Trong trường hợp viện kiểm sát
kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo
yêu cầu thì tòa án cấp phúc thẩm có thể
tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ
luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức
bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị
của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của
người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, tòa án vẫn có thể giảm hình phạt,
áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại"
2 Số bị cáo được tòa án cấp phúc thẩm xét xử và sửa án từ năm 1992 đến năm 1996 được mô tả ở bảng (xem trang sau)
Theo quy định trên thì tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm trong 3 trường hợp:
2.1 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án khi có kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng đó đối với họ
Khoản 1 Điều 221 BLTTHS chỉ quy
định tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng trên nhưng lại không quy định căn cứ để sửa, trong khi
đây là vấn đề hết sức phức tạp, đặc biệt là tòa án cấp tỉnh nhiều lúc đT hiểu và vận dụng chưa đúng với tinh thần của pháp luật và còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn
đề này Theo chúng tôi, khoản 1 Điều 221 BLTTHS cần được hiểu như sau:
- Trường hợp thứ nhất: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó
* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2"Miễn trách nhiệm hình sự là không
buộc một người phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội mà họ đK phạm"(1) đó là
trường hợp người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xT hội có đầy đủ dấu hiệu của cấu
thành tội phạm cụ thể được quy định tại Bộ
luật hình sự (BLHS) nhưng viện kiểm sát
hoặc tòa án thấy không cần thiết buộc họ
phải chịu trách nhiệm hình sự(2) Miễn trách
nhiệm hình sự khác với không có trách
nhiệm hình sự, tức là trường hợp hành vi
của bị cáo không cấu thành tội phạm, chỉ
đáng bị xử lí về hành chính Căn cứ để miễn
trách nhiệm hình sự được quy định tại
khoản 1 Điều 48 BLHS bao gồm:
- Nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét
xử, do sự chuyển biến của tình hình xT hội mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xT hội nữa
Đây là trường hợp ở thời điểm tội phạm xảy ra thì hành vi đó được coi là nguy hiểm cho xT hội nhưng đến khi tội phạm bị phát giác, trong quá trình điều tra, xét xử, tình hình xT hội đT thay đổi nên hành vi đó không còn nguy hiểm cho
xT hội nữa Trường hợp này viện kiểm sát hoặc tòa án có thể quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
- Nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét
xử, do sự chuyển biến của tình hình xT
hội mà người phạm tội không còn nguy
hiểm cho xT hội nữa, tức là ở thời điểm
xảy ra tội phạm mà họ thực hiện thì họ là người nguy hiểm cho xT hội nhưng đến thời điểm điều tra, xét xử thì tình hình xT hội thay đổi nên họ không đáng phải chịu
Tổng số án Tỉ lệ % Quyết định sửa bản án của tòa án Năm đT xét xử Tăng án Giảm án Cải sửa, hình
phạt bổ sung
Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Bị cáo % Bị cáo % Bị cáo % 1) Xét xử phúc thẩm
của cấp tỉnh
1992 4163 6143 89,41 89,13 178 2,89 957 15,57 1285 20,47
1993 5248 8155 94,60 93,46 273 3,34 1118 13,70 1149 14,08
1994 4312 6607 90,60 91,16 201 3,04 842 12,74 888 13,44
1995 6083 8859 91,44 91,27 281 3,17 961 10,84 1149 12,96
1996 6654 10171 85,93 85,34 394 3,87 981 9,64 1417 13,93 Cộng 26460 39935 90,13 89,76 1327 3,32 4859 12,16 5861 14,67 2) Xét xử phúc thẩm
của TANDTC
1992 3659 6458 84,21 83,07 230 3,56 781 12,09 702 10,87
1993 3971 7226 82,42 82,66 464 6,42 815 11,27 406 5,61
1994 4399 7654 85,73 84,71 324 4,23 692 9,04 437 5,70
1995 4324 7368 72,52 67,41 344 4,66 719 9,57 424 5,75
1996 4902 8364 78,10 74,19 331 3,95 835 9,98 287 3,43 Cộng 21255 37070 80,11 77,63 1693 4,56 3842 10,36 2256 6,08
Trang 3trách nhiệm hình sự nữa Do vậy, cơ quan
có thẩm quyền có thể quyết định miễn
trách nhiệm hình sự cho họ
- Nếu trước khi hành vi phạm tội bị
phát giác, người phạm tội đT tự thú, khai
rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc
phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng
hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của
tội phạm
Việc thực hiện chính sách khoan hồng
của Nhà nước ta đối với những người
phạm tội ra tự thú phải căn cứ vào chính
sách hình sự; căn cứ vào tính chất, mức
độ của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại
xảy ra; thái độ khai báo, hối lỗi và sự góp
phần vào việc phát hiện, điều tra tội
phạm của người ra tự thú Theo quy
định hiện hành thì "người thực hiện hành
vi phạm tội nhưng chưa bị phát giác
không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp
nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà tự
thú thì có thể được miễn trách nhiệm
hình sự hoặc được giảm nhẹ hình phạt
theo quy định tại Điều 38 BLHS"(3)
"Miễn hình phạt là không buộc một
người phải chịu hình phạt về tội mà người
đó đK thực hiện"(4) Theo khoản 2 Điều 48
BLHS, người phạm tội có thể được miễn
hình phạt trong trường hợp phạm tội có
nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
Điều 38 BLHS, đáng được hưởng khoan
hồng nhưng chưa đến mức được miễn
trách nhiệm hình sự
- Trường hợp thứ hai: Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị theo hướng áp dụng điều
khoản BLHS về tội nhẹ hơn BLTTHS
không quy định rõ thế nào là áp dụng
điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn nhưng
trong thực tế, những trường hợp áp dụng
điều khoản BLHS có lợi cho bị cáo được coi là áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn:
+ Đổi tội danh nặng thành tội danh nhẹ;
+ Đổi điều khoản có khung hình phạt nặng sang điều khoản có khung hình phạt nhẹ;
+ Thêm một số tình tiết giảm nhẹ quy
định tại Điều 38 BLHS;
+ Bỏ một số tình tiết tăng nặng quy
định tại Điều 39 BLHS
- Trường hợp thứ ba: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo
Nếu xét thấy mức hình phạt mà tòa án sơ thẩm đT áp dụng đối với bị cáo quá nặng so với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định hình phạt nhẹ hơn hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm
đT tuyên đối với bị cáo Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, trong bản án phúc thẩm phải nêu rõ lí do của việc giảm
Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm quyết định chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn so với hình phạt mà tòa án sơ thẩm đT áp dụng đối với bị cáo như từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ thì được coi là giảm hình phạt Cũng cần lưu ý rằng, trường hợp tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù đối với bị cáo nhưng tòa án cấp phúc thẩm lại quyết định phạt tù cho hưởng án treo thì không được coi là giảm hình phạt, vì án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là
Trang 4hình phạt Vậy trường hợp này có được
coi là sửa bản án sơ thẩm không? Vấn đề
này không được quy định trong Điều 221
BLTTHS về việc sửa bản án sơ thẩm
nhưng rõ ràng tòa án cấp phúc thẩm đT
quyết định khác với quyết định của bản
án sơ thẩm Chúng tôi đồng ý với quan
điểm cho rằng đây là một trong những
trường hợp tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm(5) và đề nghị bổ sung thêm
một điểm nữa vào khoản 1 Điều 221
BLTTHS là "cho bị cáo hưởng án treo"
- Trường hợp thứ tư: Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị theo hướng giảm mức bồi
thường thiệt hại, tức là tòa án cấp phúc
thẩm quyết định mức bồi thường thiệt hại
thấp hơn mức bồi thường thiệt hại mà tòa
án cấp sơ thẩm đT quyết định nhưng phải
tuân thủ các quy định khác của pháp luật
về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm
tội gây ra (Điều 609 - Điều 625 BLDS)
Trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân
sự, người đại diện hợp pháp của họ vắng
mặt tại phiên tòa có lí do chính đáng (nếu
họ kháng cáo tăng mức bồi thường) thì
tòa án cấp phúc thẩm không được sửa bản
án sơ thẩm về việc giảm mức bồi thường
- Trường hợp thứ năm: Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
sửa quyết định xử lí vật chứng Vật chứng
là những vật thể mà dựa vào chúng, cơ
quan tiến hành tố tụng có thể xác định
những sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự Trong quá
trình xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc
thẩm có quyền sửa quyết định xử lí vật
chứng nếu thấy bản án sơ thẩm quyết
định xử lí vật chứng không đúng với quy
định tại Điều 58 BLTTHS Tòa án cấp
phúc thẩm có quyền quyết định xử lí vật chứng cho đúng với quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm về việc xử lí vật chứng(6) 2.2 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi (giảm hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn) cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị
Khi xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm trước hết xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị, "nếu xét thấy cần thiết thì tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án"(7) Đó là phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTHS Điều này có nghĩa là tòa án cấp phúc thẩm không buộc phải xem xét nhưng có thể xem xét nếu xét thấy cần thiết Trường hợp này, tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyết định theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bất cứ ai,
đó là giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn cho bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị
2.3 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó đối với họ
Vấn đề này được quy định tại khoản 3
Điều 221 BLTTHS Cũng như trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án, trường hợp này điều luật chỉ quy định quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm mà không quy định căn cứ để sửa, do vậy hiện nay có nhiều vướng mắc trong việc áp dụng Theo chúng tôi, vấn
Trang 5đề này được hiểu như sau:
Thứ nhất, tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điều
khoản BLHS về tội nặng hơn cũng như áp
dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn
Những trường hợp áp dụng điều khoản
BLHS không có lợi cho bị cáo là trường
hợp áp dụng điều khoản BLHS về tội
nặng hơn:
- Chuyển khung hình phạt có mức
hình phạt nhẹ sang khung hình phạt có
mức nặng hơn;
- Chuyển tội danh nhẹ sang tội danh
nặng hơn(8);
- áp dụng thêm tình tiết tăng nặng
Thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy,
do chỉ quy định chung chung mà không
có căn cứ rõ ràng, cụ thể đồng thời trình
độ hiểu biết pháp luật của nhân dân còn
hạn chế nên phần lớn họ chỉ kháng cáo
yêu cầu tăng hình phạt khi thấy tòa án
cấp sơ thẩm xử phạt nhẹ chứ ít khi họ biết
kháng cáo yêu cầu áp dụng điều khoản
BLHS về tội nặng hơn Do vậy, trong
nhiều trường hợp, mặc dù chỉ có kháng
cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của
viện kiểm sát yêu cầu tăng hình phạt
nhưng hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn áp
dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn
Quyết định như vậy là trái với khoản 3
Điều 221 BLHS Theo Thông tư liên
ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 của
Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát
nhân dân tối cao - Bộ nội vụ (nay là Bộ
công an) hướng dẫn áp dụng một số quy
định của BLTTHS thì nếu viện kiểm sát
kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo
chỉ yêu cầu tăng hình phạt thì tòa án cấp
phúc thẩm không được sửa bản án sơ
thẩm về áp dụng điều khoản BLHS về tội
nặng hơn, trừ trường hợp việc tăng hình phạt dẫn đến việc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn
Thứ hai, tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Trường hợp này nói chung không có gì vướng mắc khi áp dụng nhưng cũng cần lưu ý rằng cùng một hình phạt thì nặng, nhẹ căn cứ vào mức của hình phạt Hình phạt khác nhau thì đánh giá nặng nhẹ căn cứ vào tính chất của hình phạt, căn cứ vào khung hình phạt từ
tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn đến phạt tiền, cảnh cáo
Cũng tương tự như trường hợp thứ nhất, nếu viện kiểm sát kháng nghị, người
bị hại kháng cáo chỉ yêu cầu áp dụng
điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với
bị cáo mà không yêu cầu tăng nặng hình phạt thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ sửa bản
án sơ thẩm về việc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn mà không được tăng hình phạt đối với bị cáo
Thứ ba, tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng tăng mức bồi thường thiệt hại, tức là tòa án cấp phúc thẩm quyết định mức bồi thường thiệt hại cao hơn mức bồi thường thiệt hại mà tòa
án cấp sơ thẩm đT quyết định nếu có kháng nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại hay nguyên đơn dân
sự Khi xét xử phúc thẩm, những người này phải được tòa án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên tòa Nếu họ vắng mặt
có lí do chính đáng thì tòa án vẫn có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho
họ Trường hợp cần phải xử tăng mức bồi thường thiệt hại mà họ vắng mặt có lí do chính đáng thì tòa án cấp phúc thẩm phải
Trang 644 - Tạp chí luật học
hoTn phiên tòa
3 Qua nghiên cứu quy định về việc
sửa bản án sơ thẩm tại Điều 221 BLTTHS
và thực tiễn áp dụng quy định này, chúng
tôi thấy tòa án cấp phúc thẩm còn sửa bản
án sơ thẩm theo hướng từ không có tội
thành có tội theo kháng nghị của viện
kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại
Do nhận thức thiếu thống nhất trong quá
trình xét xử về việc áp dụng khoản 3 Điều
221 BLTTHS nên có trường hợp tòa án
cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội,
khi xét xử phúc thẩm thì tòa án cấp phúc
thẩm lại tuyên bị cáo có tội Tòa án nhân
dân tối cao đT kháng nghị đối với một số
bản án phúc thẩm nói trên và Tòa hình sự
Tòa án nhân dân tối cao đT xét xử giám
đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị, hủy bản
án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử
lại ở cấp sơ thẩm theo hướng kết tội bị
cáo(9) Vấn đề này hiện có nhiều ý kiến
khác nhau:
- ý kiến thứ nhát cho rằng việc tòa án
cấp phúc thẩm sửa "không thành có"
không chỉ vi phạm khoản 3 Điều 221
BLTTHS mà còn vi phạm nguyên tắc hai
cấp xét xử và tước mất quyền kháng cáo
của những người tham gia tố tụng và
quyền kháng nghị của viện kiểm sát
Trong trường hợp này, tòa án cấp phúc
thẩm chỉ có thể y án sơ thẩm và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại
- ý kiến thứ hai cho rằng tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa "không thành có" trong trường hợp này mà chỉ có thể hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm nhằm đảm bảo chế độ hai cấp xét xử chứ không cần báo cáo cấp giám đốc thẩm xem xét(10)
- ý kiến thứ ba cho rằng tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội theo kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của viện kiểm sát nếu có căn cứ để kết tội bị cáo Giải quyết theo cách này vẫn đảm bảo nguyên tắc tố tụng và quyền bào chữa cũng như quyền kháng cáo của bị cáo, vì quyền này đT được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm Hơn nữa, theo
Điều 225 BLTTHS thì "người được tòa án tuyên là vô tội cũng có quyền kháng cáo
lí do bản án sơ thẩm đK tuyên là họ không có tội"
Theo số liệu thống kê của Vụ kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì vào thời gian từ 21/11/1995 đến 20/5/1997, thống kê về số bản án do cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội nhưng khi xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm lại tuyên bị cáo có tội là(11):
Trong các vụ án nói trên, có trường
hợp bị cáo bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên
không phạm tội nhưng tòa án cấp phúc
thẩm tuyên 20 năm tù
Theo chúng tôi, nếu căn cứ vào khoản 3
Điều 221 BLTTHS hiện hành thì tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa "không thành có" nhưng trường hợp này có thể coi là kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án, vì vậy, việc tòa án
Tòa án Số bị cáo đT xử tuyên
không có tội
Số bị cáo kháng cáo, kháng nghị
Số bị cáo bị tòa án cấp phúc thẩm tuyên có tội Cấp huyện 59 43 22
Cấp tỉnh 74 36 17
Mấy ý kiến về …
(tiếp theo trang 34)
động hoàn toàn không vì thế mà thay đổi
và họ phải được pháp luật lao động bảo
vệ như các trường hợp bình thường khác Nói như vậy không có nghĩa là nguyên tắc "quan hệ lao động thực tế" nêu trên đều được áp dụng trong mọi
Trang 7cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng
kết tội sẽ làm cho việc giải quyết vụ án được
nhanh chóng, tránh tình trạng phải xét xử lại
ở nhiều cấp mà vẫn đảm bảo được các
nguyên tắc tố tụng và quyền của bị cáo Do
vậy chúng tôi đề nghị bổ sung thêm vào
khoản 3 Điều 221 BLTTHS nội dung nữa là:
"Trong trường hợp viện kiểm sát kháng
nghị thì tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng
hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội
nặng hơn, tăng mức bồi thường thiệt hại, kết
tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo được tòa
án cấp sơ thẩm tuyên không có tội hoặc
miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình
phạt nếu có kháng nghị của viện kiểm sát
hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên
đơn dân sự"
(1).Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật
hình sự phần chung Nxb CAND H.1997, tr.242
(2).Xem: Đinh Văn Quế, Thủ tục phúc thẩm trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam Nxb CTQG, H.1998,
tr.103
(3) Xem: Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày
2/6/1990
(4).Xem: Giáo trinh luật hình sự phần chung, Sđd,
tr.276
(5).Xem: Giáo trình luật hình sự phần chung, Sđd,
tr.109
(6).Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật
tố tụng hình sự Nxb CAND, H.1999, tr.276
(7).Xem: Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự
(8) Theo Thông tư số 19/TT ngày 2/10/1974 của Tòa
án nhân dân tối cao thì "không coi là sửa theo tội
danh nặng hơn nếu tội danh xử ở cấp phúc thẩm cùng
tính chất, cùng loại và khung hình phạt tương đương
với tội danh ở cấp sơ thẩm"
(9),(11).Xem: Tạp chí kiểm sát, số 7/1999, tr.23
(10).Xem: Đinh Văn Quế, Pháp luật, thực tiễn và án
lệ Nxb Đà Nẵng, 1998, tr.36