1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Sửa bản án sơ thẩm theo điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự " docx

7 610 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 133,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức

Trang 1

Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự

Hoàng Thị Sơn *

1 Theo quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự (BLTTHS), tòa án cấp phúc thẩm

xem xét những phần của bản án sơ thẩm

bị kháng cáo, kháng nghị Đối với những

phần của bản án không bị kháng cáo,

kháng nghị, tòa án chỉ xem xét trong

trường hợp cần thiết Khi xét xử phúc

thẩm, tòa án cấp phúc thẩm có quyền

"sửa bản án sơ thẩm" Việc sửa bản án sơ

thẩm được quy định cụ thể ở Điều 221

BLTTHS:

"1 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền

sửa bản án sơ thẩm như sau:

a Miễn trách nhiệm hình sự hoặc

miễn hình phạt cho bị cáo;

b áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự

về tội nhẹ hơn;

c Giảm hình phạt cho bị cáo;

d Giảm mức bồi thường thiệt hại và

sửa quyết định xử lí vật chứng

2 Nếu có căn cứ, tòa án cấp phúc

thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng

điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn

cho cả những bị cáo không kháng cáo

hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị

3 Trong trường hợp viện kiểm sát

kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo

yêu cầu thì tòa án cấp phúc thẩm có thể

tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ

luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức

bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị

của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của

người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, tòa án vẫn có thể giảm hình phạt,

áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại"

2 Số bị cáo được tòa án cấp phúc thẩm xét xử và sửa án từ năm 1992 đến năm 1996 được mô tả ở bảng (xem trang sau)

Theo quy định trên thì tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm trong 3 trường hợp:

2.1 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án khi có kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng đó đối với họ

Khoản 1 Điều 221 BLTTHS chỉ quy

định tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng trên nhưng lại không quy định căn cứ để sửa, trong khi

đây là vấn đề hết sức phức tạp, đặc biệt là tòa án cấp tỉnh nhiều lúc đT hiểu và vận dụng chưa đúng với tinh thần của pháp luật và còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn

đề này Theo chúng tôi, khoản 1 Điều 221 BLTTHS cần được hiểu như sau:

- Trường hợp thứ nhất: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó

* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

"Miễn trách nhiệm hình sự là không

buộc một người phải chịu trách nhiệm

hình sự về tội mà họ đK phạm"(1) đó là

trường hợp người thực hiện hành vi nguy

hiểm cho xT hội có đầy đủ dấu hiệu của cấu

thành tội phạm cụ thể được quy định tại Bộ

luật hình sự (BLHS) nhưng viện kiểm sát

hoặc tòa án thấy không cần thiết buộc họ

phải chịu trách nhiệm hình sự(2) Miễn trách

nhiệm hình sự khác với không có trách

nhiệm hình sự, tức là trường hợp hành vi

của bị cáo không cấu thành tội phạm, chỉ

đáng bị xử lí về hành chính Căn cứ để miễn

trách nhiệm hình sự được quy định tại

khoản 1 Điều 48 BLHS bao gồm:

- Nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét

xử, do sự chuyển biến của tình hình xT hội mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xT hội nữa

Đây là trường hợp ở thời điểm tội phạm xảy ra thì hành vi đó được coi là nguy hiểm cho xT hội nhưng đến khi tội phạm bị phát giác, trong quá trình điều tra, xét xử, tình hình xT hội đT thay đổi nên hành vi đó không còn nguy hiểm cho

xT hội nữa Trường hợp này viện kiểm sát hoặc tòa án có thể quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội

- Nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét

xử, do sự chuyển biến của tình hình xT

hội mà người phạm tội không còn nguy

hiểm cho xT hội nữa, tức là ở thời điểm

xảy ra tội phạm mà họ thực hiện thì họ là người nguy hiểm cho xT hội nhưng đến thời điểm điều tra, xét xử thì tình hình xT hội thay đổi nên họ không đáng phải chịu

Tổng số án Tỉ lệ % Quyết định sửa bản án của tòa án Năm đT xét xử Tăng án Giảm án Cải sửa, hình

phạt bổ sung

Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Bị cáo % Bị cáo % Bị cáo % 1) Xét xử phúc thẩm

của cấp tỉnh

1992 4163 6143 89,41 89,13 178 2,89 957 15,57 1285 20,47

1993 5248 8155 94,60 93,46 273 3,34 1118 13,70 1149 14,08

1994 4312 6607 90,60 91,16 201 3,04 842 12,74 888 13,44

1995 6083 8859 91,44 91,27 281 3,17 961 10,84 1149 12,96

1996 6654 10171 85,93 85,34 394 3,87 981 9,64 1417 13,93 Cộng 26460 39935 90,13 89,76 1327 3,32 4859 12,16 5861 14,67 2) Xét xử phúc thẩm

của TANDTC

1992 3659 6458 84,21 83,07 230 3,56 781 12,09 702 10,87

1993 3971 7226 82,42 82,66 464 6,42 815 11,27 406 5,61

1994 4399 7654 85,73 84,71 324 4,23 692 9,04 437 5,70

1995 4324 7368 72,52 67,41 344 4,66 719 9,57 424 5,75

1996 4902 8364 78,10 74,19 331 3,95 835 9,98 287 3,43 Cộng 21255 37070 80,11 77,63 1693 4,56 3842 10,36 2256 6,08

Trang 3

trách nhiệm hình sự nữa Do vậy, cơ quan

có thẩm quyền có thể quyết định miễn

trách nhiệm hình sự cho họ

- Nếu trước khi hành vi phạm tội bị

phát giác, người phạm tội đT tự thú, khai

rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc

phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng

hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của

tội phạm

Việc thực hiện chính sách khoan hồng

của Nhà nước ta đối với những người

phạm tội ra tự thú phải căn cứ vào chính

sách hình sự; căn cứ vào tính chất, mức

độ của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại

xảy ra; thái độ khai báo, hối lỗi và sự góp

phần vào việc phát hiện, điều tra tội

phạm của người ra tự thú Theo quy

định hiện hành thì "người thực hiện hành

vi phạm tội nhưng chưa bị phát giác

không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp

nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà tự

thú thì có thể được miễn trách nhiệm

hình sự hoặc được giảm nhẹ hình phạt

theo quy định tại Điều 38 BLHS"(3)

"Miễn hình phạt là không buộc một

người phải chịu hình phạt về tội mà người

đó đK thực hiện"(4) Theo khoản 2 Điều 48

BLHS, người phạm tội có thể được miễn

hình phạt trong trường hợp phạm tội có

nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại

Điều 38 BLHS, đáng được hưởng khoan

hồng nhưng chưa đến mức được miễn

trách nhiệm hình sự

- Trường hợp thứ hai: Tòa án cấp phúc

thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo,

kháng nghị theo hướng áp dụng điều

khoản BLHS về tội nhẹ hơn BLTTHS

không quy định rõ thế nào là áp dụng

điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn nhưng

trong thực tế, những trường hợp áp dụng

điều khoản BLHS có lợi cho bị cáo được coi là áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn:

+ Đổi tội danh nặng thành tội danh nhẹ;

+ Đổi điều khoản có khung hình phạt nặng sang điều khoản có khung hình phạt nhẹ;

+ Thêm một số tình tiết giảm nhẹ quy

định tại Điều 38 BLHS;

+ Bỏ một số tình tiết tăng nặng quy

định tại Điều 39 BLHS

- Trường hợp thứ ba: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo

Nếu xét thấy mức hình phạt mà tòa án sơ thẩm đT áp dụng đối với bị cáo quá nặng so với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định hình phạt nhẹ hơn hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm

đT tuyên đối với bị cáo Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, trong bản án phúc thẩm phải nêu rõ lí do của việc giảm

Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm quyết định chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn so với hình phạt mà tòa án sơ thẩm đT áp dụng đối với bị cáo như từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ thì được coi là giảm hình phạt Cũng cần lưu ý rằng, trường hợp tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù đối với bị cáo nhưng tòa án cấp phúc thẩm lại quyết định phạt tù cho hưởng án treo thì không được coi là giảm hình phạt, vì án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là

Trang 4

hình phạt Vậy trường hợp này có được

coi là sửa bản án sơ thẩm không? Vấn đề

này không được quy định trong Điều 221

BLTTHS về việc sửa bản án sơ thẩm

nhưng rõ ràng tòa án cấp phúc thẩm đT

quyết định khác với quyết định của bản

án sơ thẩm Chúng tôi đồng ý với quan

điểm cho rằng đây là một trong những

trường hợp tòa án cấp phúc thẩm sửa bản

án sơ thẩm(5) và đề nghị bổ sung thêm

một điểm nữa vào khoản 1 Điều 221

BLTTHS là "cho bị cáo hưởng án treo"

- Trường hợp thứ tư: Tòa án cấp phúc

thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo,

kháng nghị theo hướng giảm mức bồi

thường thiệt hại, tức là tòa án cấp phúc

thẩm quyết định mức bồi thường thiệt hại

thấp hơn mức bồi thường thiệt hại mà tòa

án cấp sơ thẩm đT quyết định nhưng phải

tuân thủ các quy định khác của pháp luật

về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm

tội gây ra (Điều 609 - Điều 625 BLDS)

Trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân

sự, người đại diện hợp pháp của họ vắng

mặt tại phiên tòa có lí do chính đáng (nếu

họ kháng cáo tăng mức bồi thường) thì

tòa án cấp phúc thẩm không được sửa bản

án sơ thẩm về việc giảm mức bồi thường

- Trường hợp thứ năm: Tòa án cấp

phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng

sửa quyết định xử lí vật chứng Vật chứng

là những vật thể mà dựa vào chúng, cơ

quan tiến hành tố tụng có thể xác định

những sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải

quyết đúng đắn vụ án hình sự Trong quá

trình xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc

thẩm có quyền sửa quyết định xử lí vật

chứng nếu thấy bản án sơ thẩm quyết

định xử lí vật chứng không đúng với quy

định tại Điều 58 BLTTHS Tòa án cấp

phúc thẩm có quyền quyết định xử lí vật chứng cho đúng với quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm về việc xử lí vật chứng(6) 2.2 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi (giảm hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn) cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị

Khi xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm trước hết xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị, "nếu xét thấy cần thiết thì tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án"(7) Đó là phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTHS Điều này có nghĩa là tòa án cấp phúc thẩm không buộc phải xem xét nhưng có thể xem xét nếu xét thấy cần thiết Trường hợp này, tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyết định theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bất cứ ai,

đó là giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn cho bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị

2.3 Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó đối với họ

Vấn đề này được quy định tại khoản 3

Điều 221 BLTTHS Cũng như trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án, trường hợp này điều luật chỉ quy định quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm mà không quy định căn cứ để sửa, do vậy hiện nay có nhiều vướng mắc trong việc áp dụng Theo chúng tôi, vấn

Trang 5

đề này được hiểu như sau:

Thứ nhất, tòa án cấp phúc thẩm sửa

bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điều

khoản BLHS về tội nặng hơn cũng như áp

dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn

Những trường hợp áp dụng điều khoản

BLHS không có lợi cho bị cáo là trường

hợp áp dụng điều khoản BLHS về tội

nặng hơn:

- Chuyển khung hình phạt có mức

hình phạt nhẹ sang khung hình phạt có

mức nặng hơn;

- Chuyển tội danh nhẹ sang tội danh

nặng hơn(8);

- áp dụng thêm tình tiết tăng nặng

Thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy,

do chỉ quy định chung chung mà không

có căn cứ rõ ràng, cụ thể đồng thời trình

độ hiểu biết pháp luật của nhân dân còn

hạn chế nên phần lớn họ chỉ kháng cáo

yêu cầu tăng hình phạt khi thấy tòa án

cấp sơ thẩm xử phạt nhẹ chứ ít khi họ biết

kháng cáo yêu cầu áp dụng điều khoản

BLHS về tội nặng hơn Do vậy, trong

nhiều trường hợp, mặc dù chỉ có kháng

cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của

viện kiểm sát yêu cầu tăng hình phạt

nhưng hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn áp

dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn

Quyết định như vậy là trái với khoản 3

Điều 221 BLHS Theo Thông tư liên

ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 của

Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát

nhân dân tối cao - Bộ nội vụ (nay là Bộ

công an) hướng dẫn áp dụng một số quy

định của BLTTHS thì nếu viện kiểm sát

kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo

chỉ yêu cầu tăng hình phạt thì tòa án cấp

phúc thẩm không được sửa bản án sơ

thẩm về áp dụng điều khoản BLHS về tội

nặng hơn, trừ trường hợp việc tăng hình phạt dẫn đến việc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn

Thứ hai, tòa án cấp phúc thẩm sửa bản

án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Trường hợp này nói chung không có gì vướng mắc khi áp dụng nhưng cũng cần lưu ý rằng cùng một hình phạt thì nặng, nhẹ căn cứ vào mức của hình phạt Hình phạt khác nhau thì đánh giá nặng nhẹ căn cứ vào tính chất của hình phạt, căn cứ vào khung hình phạt từ

tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn đến phạt tiền, cảnh cáo

Cũng tương tự như trường hợp thứ nhất, nếu viện kiểm sát kháng nghị, người

bị hại kháng cáo chỉ yêu cầu áp dụng

điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với

bị cáo mà không yêu cầu tăng nặng hình phạt thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ sửa bản

án sơ thẩm về việc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn mà không được tăng hình phạt đối với bị cáo

Thứ ba, tòa án cấp phúc thẩm sửa bản

án sơ thẩm theo hướng tăng mức bồi thường thiệt hại, tức là tòa án cấp phúc thẩm quyết định mức bồi thường thiệt hại cao hơn mức bồi thường thiệt hại mà tòa

án cấp sơ thẩm đT quyết định nếu có kháng nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại hay nguyên đơn dân

sự Khi xét xử phúc thẩm, những người này phải được tòa án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên tòa Nếu họ vắng mặt

có lí do chính đáng thì tòa án vẫn có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho

họ Trường hợp cần phải xử tăng mức bồi thường thiệt hại mà họ vắng mặt có lí do chính đáng thì tòa án cấp phúc thẩm phải

Trang 6

44 - Tạp chí luật học

hoTn phiên tòa

3 Qua nghiên cứu quy định về việc

sửa bản án sơ thẩm tại Điều 221 BLTTHS

và thực tiễn áp dụng quy định này, chúng

tôi thấy tòa án cấp phúc thẩm còn sửa bản

án sơ thẩm theo hướng từ không có tội

thành có tội theo kháng nghị của viện

kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại

Do nhận thức thiếu thống nhất trong quá

trình xét xử về việc áp dụng khoản 3 Điều

221 BLTTHS nên có trường hợp tòa án

cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội,

khi xét xử phúc thẩm thì tòa án cấp phúc

thẩm lại tuyên bị cáo có tội Tòa án nhân

dân tối cao đT kháng nghị đối với một số

bản án phúc thẩm nói trên và Tòa hình sự

Tòa án nhân dân tối cao đT xét xử giám

đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị, hủy bản

án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử

lại ở cấp sơ thẩm theo hướng kết tội bị

cáo(9) Vấn đề này hiện có nhiều ý kiến

khác nhau:

- ý kiến thứ nhát cho rằng việc tòa án

cấp phúc thẩm sửa "không thành có"

không chỉ vi phạm khoản 3 Điều 221

BLTTHS mà còn vi phạm nguyên tắc hai

cấp xét xử và tước mất quyền kháng cáo

của những người tham gia tố tụng và

quyền kháng nghị của viện kiểm sát

Trong trường hợp này, tòa án cấp phúc

thẩm chỉ có thể y án sơ thẩm và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại

- ý kiến thứ hai cho rằng tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa "không thành có" trong trường hợp này mà chỉ có thể hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm nhằm đảm bảo chế độ hai cấp xét xử chứ không cần báo cáo cấp giám đốc thẩm xem xét(10)

- ý kiến thứ ba cho rằng tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội theo kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của viện kiểm sát nếu có căn cứ để kết tội bị cáo Giải quyết theo cách này vẫn đảm bảo nguyên tắc tố tụng và quyền bào chữa cũng như quyền kháng cáo của bị cáo, vì quyền này đT được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm Hơn nữa, theo

Điều 225 BLTTHS thì "người được tòa án tuyên là vô tội cũng có quyền kháng cáo

lí do bản án sơ thẩm đK tuyên là họ không có tội"

Theo số liệu thống kê của Vụ kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì vào thời gian từ 21/11/1995 đến 20/5/1997, thống kê về số bản án do cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội nhưng khi xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm lại tuyên bị cáo có tội là(11):

Trong các vụ án nói trên, có trường

hợp bị cáo bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên

không phạm tội nhưng tòa án cấp phúc

thẩm tuyên 20 năm tù

Theo chúng tôi, nếu căn cứ vào khoản 3

Điều 221 BLTTHS hiện hành thì tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa "không thành có" nhưng trường hợp này có thể coi là kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án, vì vậy, việc tòa án

Tòa án Số bị cáo đT xử tuyên

không có tội

Số bị cáo kháng cáo, kháng nghị

Số bị cáo bị tòa án cấp phúc thẩm tuyên có tội Cấp huyện 59 43 22

Cấp tỉnh 74 36 17

Mấy ý kiến về …

(tiếp theo trang 34)

động hoàn toàn không vì thế mà thay đổi

và họ phải được pháp luật lao động bảo

vệ như các trường hợp bình thường khác Nói như vậy không có nghĩa là nguyên tắc "quan hệ lao động thực tế" nêu trên đều được áp dụng trong mọi

Trang 7

cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng

kết tội sẽ làm cho việc giải quyết vụ án được

nhanh chóng, tránh tình trạng phải xét xử lại

ở nhiều cấp mà vẫn đảm bảo được các

nguyên tắc tố tụng và quyền của bị cáo Do

vậy chúng tôi đề nghị bổ sung thêm vào

khoản 3 Điều 221 BLTTHS nội dung nữa là:

"Trong trường hợp viện kiểm sát kháng

nghị thì tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng

hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội

nặng hơn, tăng mức bồi thường thiệt hại, kết

tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo được tòa

án cấp sơ thẩm tuyên không có tội hoặc

miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình

phạt nếu có kháng nghị của viện kiểm sát

hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên

đơn dân sự"

(1).Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật

hình sự phần chung Nxb CAND H.1997, tr.242

(2).Xem: Đinh Văn Quế, Thủ tục phúc thẩm trong

luật tố tụng hình sự Việt Nam Nxb CTQG, H.1998,

tr.103

(3) Xem: Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày

2/6/1990

(4).Xem: Giáo trinh luật hình sự phần chung, Sđd,

tr.276

(5).Xem: Giáo trình luật hình sự phần chung, Sđd,

tr.109

(6).Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật

tố tụng hình sự Nxb CAND, H.1999, tr.276

(7).Xem: Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự

(8) Theo Thông tư số 19/TT ngày 2/10/1974 của Tòa

án nhân dân tối cao thì "không coi là sửa theo tội

danh nặng hơn nếu tội danh xử ở cấp phúc thẩm cùng

tính chất, cùng loại và khung hình phạt tương đương

với tội danh ở cấp sơ thẩm"

(9),(11).Xem: Tạp chí kiểm sát, số 7/1999, tr.23

(10).Xem: Đinh Văn Quế, Pháp luật, thực tiễn và án

lệ Nxb Đà Nẵng, 1998, tr.36

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sự  về  tội  mà  họ  đK  phạm" (1)   đó  là - Báo cáo "Sửa bản án sơ thẩm theo điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự " docx
nh sự về tội mà họ đK phạm" (1) đó là (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w