Từ những kết luận rút ra như đ nêu ở trên, ta thấy những vướng mắc trong điều tra, xử lí các vụ án có yếu tố chiếm đoạt thường gặp trong thực tiễn là: - Giữa các cơ quan pháp luật có ý k
Trang 1Một số khó khăn vướng mắc trong
điều tra, xử lí các vụ án có yếu tố chiếm đoạt và giải pháp khắc phục
PTS Trần Hữu ứng *
ự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế từ quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần ở nước ta từ
đầu thập kỉ đến nay đ) cho chúng ta
nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong
khâu quản lí kinh tế bằng pháp luật
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta càng
thấy rõ công tác quản lí từ vĩ mô đến vi
mô có nhiều sơ hở, thiếu sót cần phải
được nghiên cứu một cách nghiêm túc
nhằm tìm ra những giải pháp tích cực để
khắc phục Trong phạm vi bài viết, tôi chỉ
đề cập một mảng nhỏ trong vấn đề lớn đ)
nêu Đó là một số khó khăn trong việc
xác định tội lừa đảo và tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản x) hội chủ
nghĩa hoặc tài sản của công dân được quy
định tại các Điều 134, 135, 157, 158
BLHS
Trước tiên xin được nêu số liệu thống
kê về công tác điều tra, xử lí mà Cục cảnh
sát điều tra Bộ công an đ) tổng kết
Trong 2 năm 1996 - 1997 cơ quan
cảnh sát điều tra của 51/61 tỉnh, thành
phố trên cả nước đ) thụ lí điều tra 6.808
vụ án lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản x) hội chủ nghĩa hoặc tài sản
của công dân với 8.395 bị can Cơ sở để
khởi tố là bắt quả tang 42 vụ chiếm 0,6%,
qua đơn khiếu nại, tố cáo 6.106 vụ chiếm
89,6%, qua kết quả thanh tra, kiểm tra
chuyên ngành là 660 vụ, chiếm 9,7%
Trong số này, có 5.321 vụ, chiếm 78,1%
với 5.946 bị can chiếm 70,8% được
chuyển sang viện kiểm sát để truy tố; có
245 vụ chiếm 3,59% với 330 bị can
chiếm 3,93% được đình chỉ điều tra Lí
do đình chỉ là bị can bồi thường thiệt hại
và có đơn b)i nại (179 vụ chiếm 2,62% với 234 bị can chiếm 2,78%) hoặc hành
vi không cấu thành tội phạm (62 vụ chiếm 0,91% với 92 bị can chiếm 1,09%)
Những con số nêu trên cho thấy:
- Phần lớn (89,6%) số vụ án ở dạng này có căn cứ để khởi tố là đơn, thư tố giác của công dân;
- Hầu hết các vụ khởi tố đều được đưa
ra xét xử (78,1%);
- Chỉ có 3,6% số vụ được đình chỉ
điều tra và lí do chính là do bị can đ) khắc phục hậu quả, người kiện rút đơn và xin b)i nại (2,62%) Một số ít là 0,91% số
vụ được thụ lí và 1,09% số bị can có hành
vi không cấu thành tội phạm Tuy vậy, những con số này còn cho chúng ta thấy
sự thật vẫn còn những vụ án oan, sai mà những người vô tội phải gánh chịu hậu quả
Từ những kết luận rút ra như đ) nêu ở trên, ta thấy những vướng mắc trong điều tra, xử lí các vụ án có yếu tố chiếm đoạt thường gặp trong thực tiễn là:
- Giữa các cơ quan pháp luật có ý kiến không thống nhất về các tội nêu trên là hành vi vi phạm có thể hiện ý thức chiếm
đoạt tài sản hay không ý thức chiếm
đoạt tài sản là khái niệm tâm lí trừu tượng rất khó chứng minh, thậm chí trong nhiều trường hợp không thể chứng minh được,
S
* Cục cảnh sát điều tra
Bộ công an
Trang 2nhất là đối với những người có hiểu biết
về pháp luật và đ) có sự chuẩn bị trước
nhằm cố tình che giấu ý thức chủ quan
của họ Họ sẽ không bao giờ chịu thừa
nhận là họ có ý thức chiếm đoạt tài sản
của người khác Tôi nhất trí với quan
điểm là từ hành vi cụ thể sẽ chứng minh
được sự chiếm đoạt chứ không phải là
phải chứng minh được ý thức chiếm đoạt
Vì vậy, từ thực tế điều tra, xét xử cần rút
ra được những hành vi cụ thể để quy định
rõ thành tiêu chí pháp luật là hành vi nào
là vi phạm luật hình sự (chiếm đoạt),
hành vi nào là vi phạm luật hành chính,
dân sự, kinh tế (không có yếu tố chiếm
đoạt) Quy định này phải được cơ quan
lập pháp phê chuẩn để thực hiện trong
toàn quốc một cách thống nhất
- Thực tế điều tra cho thấy một số vụ
đ) có đủ căn cứ để khởi tố vụ án nhưng
do còn tranh luận là hình sự, dân sự hay
kinh tế làm mất nhiều thời gian nên đối
tượng đ) kịp chạy trốn Sau đó, khởi tố vụ
án, điều tra mở rộng thì thấy đối tượng nợ
nhiều người, nhiều đơn vị kinh tế khác tới
hàng chục tỉ đồng Tài sản của Nhà nước
và của công dân đ) được chuyển ra nước
ngoài và không thể thu hồi nhưng không
ai phải chịu trách nhiệm Có nhiều vụ dân
khiếu kiện đến nhiều nơi, các cơ quan
pháp luật không kịp thời xử lí đ) dẫn đến
người bị hại phải dùng đến "luật rừng" để
xử lí để rồi họ lại trở thành bị can của
một vụ án khác như giết người, cố ý gây
thương tích, gây rối trật tự công cộng,
cướp tài sản của công dân Rõ ràng, sự
chậm trễ của các cơ quan pháp luật, sự
thiếu cụ thể trong luật đ) ảnh hưởng lớn
tới công tác phòng ngừa, điều tra và xử lí
tội phạm
- Khi bị mất tiền thì người bị hại
khiếu kiện và khẳng định là bị lừa đảo, bị
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt , cơ
quan điều tra phải xác minh, tốn thời
gian, công sức, tiền của nhưng khi hoàn thành hồ sơ để truy tố thì người bị hại lại thỏa thuận với bị can để bị can trả tiền cho họ và họ xin rút đơn kiện Một số trường hợp bị can hứa trả tiền và đe dọa trả thù người bị hại , người bị hại buộc phải làm đơn b)i nại Cơ quan tiến hành
tố tụng đành phải đình chỉ điều tra Tôi cho rằng làm như thế là không đúng với nội dung của Điều 88 BLTTHS Và rõ ràng đây là "dân sự hóa quan hệ hình sự" Hành vi khắc phục hậu quả chỉ là tình tiết giảm nhẹ, chứ không phải là căn cứ để
đình chỉ điều tra Nhưng trên thực tế vẫn còn 2,62% vụ được đình chỉ theo căn cứ này (cả ở cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án) Đây cũng là kẽ hở để dẫn đến tiêu cực, cần được "bịt kín" bằng việc tuân thủ nghiêm túc những quy định trong Điều 88 BLTTHS
- Nhiều vụ rõ ràng là vụ án dân sự hoặc kinh tế nhưng người dân cho rằng nếu gửi đơn đến tòa án thì họ phải nộp lệ phí bằng 5% giá trị tài sản mà họ lại không có tiền để nộp Nếu tòa án không thu hồi được tài sản cho họ thì họ bị mất thêm cả tiền lệ phí nộp cho tòa án Nhiều bản án dân sự tuy đ) có hiệu lực nhưng vẫn không thi hành được Đến nay, trên cả nước vẫn còn khoảng gần 60.000 bản
án dân sự không thi hành được Xuất phát
từ lí do nêu trên mà người dân thích gửi
đơn đến cơ quan công an hơn là gửi đơn
đến tòa dân sự hay kinh tế
Khi nhận được tố cáo, cơ quan chức năng của công an phải nghiên cứu, nếu thấy đó là vụ án dân sự hay kinh tế thì chuyển đơn cho tòa dân sự hay kinh tế Với cơ chế dân chủ hiện nay, nhiều văn phòng luật sư, tư vấn pháp lí ra đời nên hầu hết những đơn tố cáo về tài sản thường được các luật gia viết giùm nên các hành vi chiếm đoạt đôi khi được nhấn mạnh tưởng như phải bắt ngay kẻ phạm
Trang 3tội Tuy vậy, mọi trường hợp cơ quan
điều tra đều phải xác minh, làm rõ, khi có
đủ căn cứ mới khởi tố để điều tra Khi
mời hay triệu tập người bị tố cáo lên hỏi
để làm rõ sự việc, cho đối chất với người
khiếu kiện thì họ phàn nàn, thậm chí còn
khiếu kiện và cho rằng cơ quan điều tra
đ) "hình sự hóa vụ việc dân sự" Nếu
sau khi xác minh thấy rõ dấu hiệu là vụ
án dân sự, cơ quan điều tra chuyển hồ sơ
sang tòa dân sự thì người bị hại lại kêu là
cơ quan điều tra dung túng, bao che cho
kẻ lừa đảo Thực tế này thường xuyên
xảy ra và cơ quan điều tra phải gánh chịu
sự phê phán từ hai phía
Thực tế hiện nay đ) có một số người
phải tự tử vì bị chiếm đoạt hết tài sản;
anh, em, cha, con đánh chửi nhau, thậm
chí giết nhau vì một người trong gia đình
thiếu trách nhiệm trong việc cho vay nên
bị mất tài sản mà cả gia đình ki cóp trong
nhiều năm mới có được Chúng ta cần
đứng về phía người bị hại, bênh vực cho
quyền lợi hợp pháp của họ Gần 60.000
bản án dân sự không thi hành được đ)
dẫn đến hậu quả là phát sinh thêm hàng
chục vụ giết người, cướp của, hàng trăm
vụ cố ý gây thương tích, gây rối trật tự
công cộng xảy ra ở hầu hết các địa
phương
- Từ những nhận xét nêu trên, tôi xin
đề xuất mấy ý kiến về giải pháp khắc
phục như sau:
Trước mắt, để kịp thời giải quyết khó
khăn vướng mắc nêu trên cần có thông tư
liên tịch của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an,
Bộ tư pháp hướng dẫn cụ thể việc thi
hành Có lẽ đây cũng chỉ là giải pháp tình
thế nhằm giải quyết những vấn đề mang
tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay và
để rút kinh nghiệm nhằm tiến tới xây
dựng văn bản "hướng dẫn thi hành các
điều luật của BLHS" có sự phê chuẩn của
Quốc hội
Những khó khăn vướng mắc nhất hiện nay trong điều tra, xử lí các vụ việc về tài sản là xác định ranh giới của hành vi chiếm đoạt hay không chiếm đoạt Vì vậy, cần quy định cụ thể hành vi chiếm
đoạt và hành vi không bị coi là chiếm
đoạt Chỉ có giải quyết được vấn đề mấu chốt này mới có thể giảm bớt được những sai phạm, tiêu cực, đảm bảo được sự công bằng và việc xử lí được thống nhất trong phạm vi toàn quốc
Theo chúng tôi, các hành vi được gọi
là chiếm đoạt nếu:
- Vay tài sản quá hạn, có tài sản nhưng chây ỳ không trả Trong trường hợp này phải chứng minh được là có việc vay nợ, khi vay có sự thỏa thuận về thời hạn trả nợ, có tài sản để có thể trả nợ, bên cho vay đ) đòi nhiều lần, bên vay hứa hẹn nhiều lần là trả nhưng chây ỳ không trả;
- Khi vay tài sản thì nói là để làm một việc hợp pháp (kinh doanh, sản xuất ) nhưng trên thực tế lại để sử dụng vào việc bất hợp pháp (chơi số đề, buôn lậu, buôn bán hàng cấm, đánh bạc ), quá hạn trả nhưng không trả (hoặc không có khả năng trả);
- Vay tài sản quá hạn không trả rồi bỏ trốn hòng trốn tránh nghĩa vụ trả nợ;
- Dùng một tài sản thế chấp để vay tiền ở 2 nơi trở lên, quá hạn không trả Trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm hình sự với khoản vay có thế chấp không hợp pháp;
- Mượn hoặc được giao quản lí, trông coi tài sản nhưng lại dùng tài sản đó đem thế chấp vay tiền không được sự đồng ý của chủ tài sản, sau đó không trả tài sản
được giao quản lí;
- Dùng thủ đoạn gian dối để nâng giá trị tài sản thế chấp không đúng với giá trị thực của tài sản đó để vay tiền ngân hàng hoặc các cơ quan, tổ chức với số lượng
Trang 4cao hơn giá trị thực của nó và không sử
dụng đúng mục đích như trong hợp đồng
vay, dẫn đến thua lỗ không có khả năng
thanh toán (hoặc chỉ trả được một phần);
- Kí kết hợp đồng kinh tế hoặc hợp
đồng dân sự để thực hiện một việc nào
đó, đ) nhận tiền đặt cọc hoặc nhận tiền
trước (một phần hoặc toàn bộ) nhưng đ)
không thực hiện hợp đồng, sau đó chây ỳ,
không trả tiền đ) nhận ứng trước;
- Có hành vi gian dối như tạo dựng
chứng từ, hóa đơn giả với mục đích trốn
tránh nghĩa vụ thanh toán;
- Có sự gian dối trong việc kí kết (ví
dụ: Sử dụng hợp đồng giả, hợp đồng trái
pháp luật để kí kết hợp đồng khác với
mục đích chiếm đoạt tài sản );
- Sử dụng tiền bán sản phẩm từ một
hợp đồng kinh tế (hoặc hợp đồng dân sự)
để kinh doanh hoặc làm việc khác Không
thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng
ban đầu;
+ Cố tình xâm phạm tài sản đ) thế
chấp như chuyển đổi, bán một phần hoặc
toàn bộ làm mất khả năng thanh toán số
tài sản đ) vay
Những hành vi không thể hiện sự
chiếm đoạt là:
+ Vay mượn một cách ngay thẳng,
đúng pháp luật, có tài sản thế chấp tương
đương hoặc nhiều hơn số tiền vay, quá
hạn nhưng chưa trả được
+ Vay mượn không có tài sản thế
chấp hoặc có giá trị tài sản thế chấp thấp
hơn số tài sản vay, sử dụng tài sản vay
một cách hợp pháp, đúng mục đích như
thỏa thuận nhưng do rủi ro trong kinh
doanh, sản xuất hoặc những lí do chính
đáng khác nên khi đến hạn không trả
được Trong trường hợp này người vay
phải có đầy đủ tài liệu thể hiện việc làm
ăn thua lỗ những rủi ro đ) nêu phù hợp
với số tài sản không trả được;
+ Các pháp nhân hoặc cá nhân kí kết hợp đồng kinh tế một cách hợp pháp, không có sự lừa dối nhưng vì những lí do chính đáng không thực hiện được hợp
đồng, cam kết bằng văn bản sẽ hoàn trả tài sản./
Chế độ bảo hiểm…
(tiếp theo trang 35)
là thời gian tham gia BHXH cho cả 5 chế
độ Vì thực ra, trong cơ cấu đóng bảo hiểm đ) nói ở phần trên thì nó đ) bao gồm đầy đủ phần chi phí cho hai chế độ hưu trí và tử tuất, còn lại quỹ BHXH của Nhà nước chỉ phải bù một phần không lớn
để hỗ trợ cho chế độ trợ cấp ốm đau của người lao động (việc tính này không ảnh hưởng tới việc chi phí cho hai chế độ thai sản và tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp) ý nghĩa lớn hơn của cách giải quyết này là ở chỗ Nhà nước sẽ tạo ra
được chính sách đủ để động viên, khuyến khích và khẳng định vị trí quan trọng, trách nhiệm cao trong công tác của cán
bộ x) Từ đó, cán bộ x) vừa yên tâm, vừa
tự thấy được trách nhiệm lớn lao của mình đối với việc công, họ sẽ gắn bó hơn, làm việc tích cực hơn và cống hiến nhiều hơn cho lợi ích chung của x) hội Thông qua đó, Nhà nước sẽ thực hiện chủ trương
ổn định lao động tại chỗ một cách có hiệu quả nhất
Chính sách BHXH của Nhà nước ta đ) thu được những kết quả nhất định và đang dần đi vào thế ổn định Đối với chế độ BHXH của cán bộ x), việc làm thiết thực nhất của các cơ quan chức năng nhà nước trong thời gian tới là lưu tâm đến những nguyện vọng chính đáng của cán bộ x), tiếp tục hoàn thiện, tạo ra chính sách bảo hiểm x) hội hợp lí, vừa đảm bảo lợi ích của người lao động vừa phù hợp với lợi ích chung của toàn x) hội./