Để đảm bảo sự phù hợp với quy định đó của Hiến pháp 1992, tại Điều 32 Luật quốc tịch 1998 quy định Chủ tịch nước quyết định việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam,
Trang 1Một số vấn đề mới của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998
Nguyễn Công Khanh * uật quốc tịch Việt Nam ngày
28/6/1988 là đạo luật đầu tiên của
Nhà nước ta quy định khá đầy đủ,
thống nhất các vấn đề về quốc tịch Việt
Nam Tuy nhiên, vì được ban hành vào thời
kì đầu của công cuộc đổi mới đất nước nên
bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc
tế, các quy định của Luật quốc tịch 1988 đ9
bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không đáp
ứng được các yêu cầu của thực tiễn Vì vậy,
ngày 20/5/1998, Quốc hội khóa X tại kì
họp thứ ba đ9 thông qua Luật quốc tịch
Việt Nam (Luật số 07/1998/ QH10 - gọi tắt
là Luật quốc tịch 1998)
Trong bài viết này, chúng tôi xin trao
đổi về một số vấn đề mới của Luật quốc
tịch 1998 so với Luật quốc tịch 1988
I Mục đích, yêu cầu ban hành
Luật quốc tịch 1998
Việc ban hành Luật quốc tịch 1998
lần này nhằm đạt được những mục đích,
yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục khẳng định và thực
hiện chủ trương, đường lối đại đoàn kết
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta thông
qua chính sách về quốc tịch Việt Nam
nhằm động viên và tăng cường sức mạnh
của toàn dân (ở trong và ngoài nước) thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Đây là nguyên tắc
kế thừa quan trọng trong hoạt động lập
pháp của Nhà nước ta nói chung và trong
lĩnh vực pháp luật quốc tịch nói riêng
Một mặt, Luật quốc tịch 1998 vẫn
khẳng định nguyên tắc Nhà nước Cộng
hòa x9 hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam (Điều 3), mặt khác không buộc công dân Việt Nam phải thôi quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước ngoài, kể cả đối với công dân Việt Nam
đang đồng thời có quốc tịch nước ngoài Quy định này nhằm tạo ra sự yên tâm cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phần lớn vì lí do ổn định cuộc sống mà phải nhập quốc tịch nước ngoài, tránh gây xáo trộn về tâm lí của họ Trên tinh thần
đó, Điều 5 Luật quốc tịch 1998 khẳng
định rõ nghĩa vụ của Nhà nước ta trong việc bảo hộ quyền lợi của người Việt Nam ở nước ngoài Quy định như vậy hoàn toàn phù hợp với xu thế mở cửa hiện nay đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi chính sách đại đoàn kết dân tộc do
Đảng và Bác Hồ đề ra
Thứ hai, đảm bảo phù hợp với các quy
định của Hiến pháp 1992 và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác liên quan đến quốc tịch Việt Nam Về thẩm quyền giải quyết các vấn đề về quốc tịch, tại Điều 15 Luật quốc tịch năm 1988 quy định Hội
đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết
định những trường hợp cho vào, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho vào quốc tịch Việt Nam trong khi đó tại khoản 10 Điều 103 Hiến pháp 1992 lại quy định Chủ tịch nước quyết định cho nhập, cho thôi, tước
L
* Vụ pháp luật và hợp tác quốc tế
Bộ tư pháp
Trang 2quốc tịch Việt Nam Để đảm bảo sự phù
hợp với quy định đó của Hiến pháp 1992,
tại Điều 32 Luật quốc tịch 1998 quy định
Chủ tịch nước quyết định việc cho nhập,
cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt
Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc
tịch Việt Nam, nhân danh Nhà nước kí
kết và phê chuẩn điều ước quốc tế về
quốc tịch
Đồng thời, để đảm bảo sự đồng bộ với
các văn bản pháp luật khác quy định về
quyền quốc tịch (Bộ luật dân sự, Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ) cũng
như phù hợp với các công ước quốc tế về
nhân quyền mà Nhà nước ta kí kết hoặc
tham gia, tại Điều 1 Luật quốc tịch 1998
quy định ở nước Cộng hòa x9 hội chủ
nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có
quyền có quốc tịch, không ai bị tước quốc
tịch một cách bất hợp pháp; trẻ em bị bỏ
rơi hoặc tìm thấy trên l9nh thổ Việt Nam
mà không rõ cha mẹ là ai cũng được đảm
bảo có quốc tịch Việt Nam (Điều 19)
Thứ ba, sửa đổi những quy định của
Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988
không còn phù hợp với tình hình mới; bổ
sung, hoàn thiện các quy định mới nhằm
đáp ứng yêu cầu do thực tiễn đặt ra, phục
vụ công tác quản lí nhà nước về quốc tịch
Việt Nam, góp phần cải cách thủ tục hành
chính trong lĩnh vực này Đây là mục
đích, yêu cầu cơ bản của việc ban hành
Luật quốc tịch 1998
II Một số nguyên tắc cơ bản
được Luật quốc tịch 1998 ghi
nhận
1 Quyền bình đẳng đối với quốc
tịch Việt Nam
Điều 1 Luật quốc tịch 1998 quy định
về quyền của cá nhân đối với quốc tịch:
Công dân Việt Nam không ai bị tước
quốc tịch Việt Nam trừ trường hợp luật
định; quyền bình đẳng của mọi thành viên thuộc các dân tộc cùng sinh sống trên l9nh thổ Việt Nam về quốc tịch Việt Nam Nguyên tắc này được đảm bảo thi hành bằng các quy định tại Điều 14, 15,
16 và 17 Luật quốc tịch 1998 thông qua việc xác định quốc tịch Việt Nam của cá nhân ngay từ khi mới sinh ra theo nguyên tắc huyết thống hoặc kết hợp yếu tố nơi sinh trên l9nh thổ Việt Nam với nguyên tắc huyết thống
2 Nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam
Điều 3 Luật quốc tịch 1998 quy định:
"Nhà nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam
có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam" Quy định này một mặt vẫn tiếp tục khẳng
định nguyên tắc một quốc tịch đ9 được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta, mặt khác được thể hiện một cách mềm dẻo và linh hoạt hơn (so với quy định tại Điều 3 Luật quốc tịch năm 1988, điều luật này đ9 bỏ đi chữ
"chỉ") Tuy nhiên, điểm khác căn bản của Luật quốc tịch 1998 so với Luật quốc tịch năm 1988 về vấn đề này là ở biện pháp
đảm bảo thi hành Khoản 3 Điều 20 Luật quốc tịch 1998 quy định: " công dân nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam thì không còn giữ quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt do Chủ tịch nước quyết định" Như vậy, về nguyên tắc có thể nói, công dân nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam thì trước đó phải thôi quốc tịch nước ngoài của họ Đây được coi là quy định "cứng",
là điều kiện bắt buộc đối với công dân nước ngoài khi xin nhập quốc tịch Việt Nam Tuy vậy, theo quy định tại khoản 1
Điều 8 Nghị định số 104/1988/NĐ-CP ngày 31/12/1988 của Chính phủ quy định
Trang 3chi tiết hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch
Việt Nam (gọi tắt là Nghị định số 104) thì
người nước ngoài phải cam kết việc giữ
quốc tịch nước ngoài của họ "không làm
cản trở" đến việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam
3 Nghĩa vụ của Nhà nước trong
việc bảo hộ người Việt Nam ở nước
ngoài
Đây là nguyên tắc hiến định và được
cụ thể hóa rất rõ và nhấn mạnh tại Điều 5
Luật quốc tịch 1998: Các cơ quan nhà
nước ở trong nước, cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam ở nước
ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện
pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của
nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế
để thực hiện sự bảo hộ đó
Cần lưu ý thêm về các quy định tại
Điều 6 và Điều 7 Luật quốc tịch 1998 về
chính sách của Nhà nước Việt Nam đối
với người gốc Việt Nam và công dân Việt
Nam ở nước ngoài Một mặt, Nhà nước
có chính sách khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam ở
nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia
đình, quê hương, đất nước, góp phần xây
dựng quê hương, đất nước; tạo điều kiện
thuận lợi để những người bị mất quốc tịch
Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt
Nam Mặt khác, đối với công dân Việt
Nam ở nước ngoài, lần đầu tiên pháp luật
nước ta quy định rõ Nhà nước có chính
sách để họ có điều kiện hưởng các quyền
và làm các nghĩa vụ công dân của mình
phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước
III Có quốc tịch Việt Nam
Theo quy định tại Điều 14 Luật quốc
tịch 1998, người có quốc tịch Việt Nam
bao gồm người đang có quốc tịch Việt
Nam cho đến ngày Luật quốc tịch 1998
có hiệu lực (1/1/1999) và người có quốc
tịch Việt Nam kể từ ngày đó trở đi Trong
trường hợp thứ nhất, người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày 1/1/1999 bao gồm cả công dân Việt Nam ở trong nước
và công dân Việt Nam ở nước ngoài, kể cả người đ9 nhập quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi (mất) quốc tịch Việt Nam (người hai quốc tịch) Cũng có ý kiến cho rằng quy định như vậy là nửa vời, không triệt để theo nguyên tắc một quốc tịch Song như đ9 trình bày ở trên, xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù của đất nước (phải trải qua hai cuộc chiến tranh, người Việt Nam ra nước ngoài vì nhiều lí
do khác nhau) và trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc nhằm thu hút sự ủng hộ, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập khu vực và thế giới nên chúng ta vẫn tạm thời phải chấp nhận thực trạng này Trong trường hợp thứ hai, theo quy
định tại Điều 15 Luật quốc tịch 1998, một người được xác định là có quốc tịch Việt Nam nếu có một trong các căn cứ là
do sinh ra, do được nhập quốc tịch Việt Nam, do được trở lại quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia, do bị bỏ rơi hoặc tìm thấy trên l9nh thổ Việt Nam, do được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi
ở đây, chúng tôi chỉ đề cập việc có quốc tịch Việt Nam do được nhập quốc tịch Nhập quốc tịch Việt Nam là việc người vốn không phải là công dân Việt Nam nay có quốc tịch Việt Nam do được cho phép nhập quốc tịch Việt Nam Tất nhiên, cũng như ở nhiều nước, việc nhập quốc tịch Việt Nam phải tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ về điều kiện và trình tự, thủ tục giải quyết Luật quốc tịch
1998 khác với Luật quốc tịch năm 1988 ở chỗ Luật mới quy định đầy đủ hơn về
Trang 4những vấn đề này và có tính khả thi hơn
Cụ thể như sau:
1 Điều kiện nhập quốc tịch Việt
Nam
Theo quy định tại Điều 20 Luật quốc
tịch 1998, người nước ngoài và người
không quốc tịch xin nhập quốc tịch Việt
Nam phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện
sau:
- Phải là người đang thường trú tại
Việt Nam vào thời điểm xin nhập quốc
tịch Việt Nam;
- Phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam
(Điều 21 Bộ luật dân sự) Tất nhiên, quy
định này chỉ áp dụng trong trường hợp
đương sự là người trực tiếp làm đơn xin
nhập quốc tịch Việt Nam (không áp dụng
đối với con chưa thành niên nếu họ xin
nhập quốc tịch Việt Nam cùng cha mẹ);
- Phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
Việt Nam; tôn trọng truyền thống văn
hóa, phong tục, tập quán của dân tộc Việt
Nam;
- Phải đảm bảo điều kiện về trình độ
tiếng Việt, am hiểu văn hóa, lịch sử và
pháp luật Việt Nam đủ đề hòa nhập vào
cộng đồng x9 hội Việt Nam;
- Phải đảm bảo điều kiện về thời gian
thường trú tại Việt Nam ít nhất là 5 năm.;
- Phải có khả năng thực tế đảm bảo
cuộc sống tại Việt Nam;
- Trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt
Nam của người nước ngoài phải có văn
bản cam kết về việc từ bỏ quốc tịch nước
ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam
Như trên đ9 nói, đây được coi là điều
kiện bắt buộc đối với công dân nước
ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam Công
dân nước ngoài được nhập quốc tịch Việt
Nam phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài trừ
trường hợp được Chủ tịch nước cho phép
giữ quốc tịch nước ngoài Tuy nhiên, người đó phải cam kết bằng văn bản rằng việc giữ quốc tịch nước ngoài sẽ không làm cản trở đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam
2 Miễn, giảm điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Luật quốc tịch 1998 và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 104 thì việc miễn, giảm
điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam được
áp dụng cho 3 đối tượng sau;
Thứ nhất, người có cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam (đối tượng 1), người có công lao đóng góp cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam (đối tượng 2) Những người này được giảm 2 năm thường trú tại Việt Nam và được miễn các điều kiện về trình
độ tiếng Việt và khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam
Thứ hai, trong trường hợp cá biệt mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài rõ ràng là sẽ có lợi đặc biệt cho sự phát triển kinh tế - x9 hội, khoa học, an ninh quốc phòng của nước Cộng hòa x9 hội chủ nghĩa Việt Nam (đối tượng 3) thì được miễn cả 3 điều kiện về thời gian thường trú tại Việt Nam, về trình độ tiếng Việt và khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam
Tuy nhiên, những người được miễn, giảm điều kiện trên đây phải nộp giấy tờ chứng minh họ thuộc diện được miễn, giảm đó
3 Trình tự, thủ tục giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam
Theo quy định tại các điều từ Điều 32
đến Điều 38 Luật quốc tịch 1998 và các
điều từ Điều 8 đến Điều 12 Nghị định số
104 thì trình tự, thủ tục giải quyết đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam được thực hiện
Trang 5theo quy trình chặt chẽ, đảm bảo sự
nghiêm túc trong việc nghiên cứu, thẩm
tra hồ sơ đồng thời phát huy vai trò tích
cực, chủ động của các cơ quan chức năng
trong việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam
Đơn và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt
Nam ở trong nước được nộp tại sở tư pháp
nơi đương sự cư trú, ở nước ngoài thì nộp
tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
l9nh sự Việt Nam nơi cư trú của đương sự
theo địa bàn mà cơ quan đó phụ trách
Thời hạn giải quyết đơn xin nhập
quốc tịch Việt Nam được quy định tối đa
là 12 tháng kể từ ngày sở tư pháp hoặc cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự
Việt Nam nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Sau khi một người được Chủ tịch nước
kí quyết định cho nhập quốc tịch Việt
Nam, kể từ thời điểm quyết định đó có
hiệu lực pháp luật, người đó trở thành
công dân Việt Nam và được hưởng đầy
đủ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như gánh
vác nghĩa vụ trách nhiệm theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật trên cơ sở
bình đẳng như mọi công dân Việt Nam
khác
IV Mất quốc tịch Việt Nam
Mất quốc tịch Việt Nam là việc người
đang có quốc tịch Việt Nam nay không
còn quốc tịch Việt Nam do tự nguyện xin
thôi quốc tịch Việt Nam, do bị tước quốc
tịch Việt Nam, do bị hủy bỏ quyết định
cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc do bị
mất quốc tịch Việt Nam theo điều ước
quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham
gia (Điều 23 Luật quốc tịch 1998)
ở đây, chúng tôi chỉ đề cập việc mất
quốc tịch Việt Nam do xin thôi quốc tịch
Việt Nam - hiện tượng phổ biến nhất lâu
nay Thôi quốc tịch Việt Nam là việc
công dân Việt Nam tự nguyện xin thôi (từ
bỏ) quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài Như vậy, có thể coi đây là việc nhập quốc tịch nước ngoài (hoặc có quốc tịch nước ngoài) là lí do, động cơ duy nhất của việc cho xin thôi quốc tịch Việt Nam; ngoài ra, pháp luật không thừa nhận các lí do khác như xin thôi quốc tịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ công dân Qua nghiên cứu luật quốc tịch của nhiều nước cho thấy, ở những nước chỉ thừa nhận một quốc tịch thường đặt điều kiện khắt khe, chặt chẽ đối với việc xin nhập cũng như xin thôi quốc tịch Một trong những điều kiện đó là người xin nhập quốc tịch nước ngoài phải từ bỏ quốc tịch gốc của mình trước đó (hoặc
đương nhiên mất quốc tịch cũ nếu nhập quốc tịch mới) Đây được xem là điều kiện bắt buộc cần và đủ để được nhập quốc tịch Luật quốc tịch 1998 của Việt Nam giống các nước này ở chỗ coi việc nhập quốc tịch nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài) là lí do duy nhất để được thôi quốc tịch Việt Nam (mục đích là tránh để
họ rơi vào tình trạng không quốc tịch) Thủ tục và trình tự giải quyết cho thôi quốc tịch Việt Nam được quy định khá kĩ trong Nghị định số 104, chẳng hạn, đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam ở trong nước thì nộp tại ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
đương sự thường trú, ở nước ngoài thì nộp tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam ở nước ngoài nơi đương
sự cư trú theo địa bàn mà cơ quan đó phụ trách Quy trình giải quyết việc xin thôi quốc tịch Việt Nam nhìn chung cũng tương tự như giải quyết việc cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam Thời hạn giải quyết việc xin thôi quốc tịch Việt Nam là không quá 6 tháng kể từ ngày ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ
Trang 6Tuy nhiên, điểm mới cần nhấn mạnh
trong việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc
tịch Việt Nam là việc miễn thủ tục thẩm
tra hồ sơ theo Điều 21 Nghị định số 104
Người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc
các trường hợp sau được miễn thẩm tra hồ
sơ tại cơ quan công an:
- Người dưới 14 tuổi;
- Người sinh ra và lớn lên ở nước
ngoài;
- Người đ9 định cư ở nước ngoài trên
15 năm;
- Người đ9 được xuất cảnh Việt Nam
theo diện đoàn tụ gia đình
Trong các trường hợp trên đây, điểm
cần chú ý là trường hợp thứ ba và thứ tư
Bởi vì không nên hiểu người đ9 được xuất
cảnh Việt Nam theo diện đoàn tụ gia đình
cũng thuộc trường hợp định cư ở nước
ngoài trên 15 năm ở đây, cần phân biệt
rõ 2 trường hợp này để vận dụng thống
nhất Người đ9 được xuất cảnh theo diện
đoàn tụ gia đình bao gồm tất cả công dân
Việt Nam đ9 được phép xuất cảnh hợp
pháp nhằm đoàn tụ gia đình, không phụ
thuộc vào thời gian đ9 xuất cảnh Việt
Nam là bao lâu
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2
Điều 24 Luật quốc tịch 1998, một số
trường hợp sau đây chưa được xem xét
cho thôi quốc tịch Việt Nam:
- Người đang nợ thuế đối với Nhà
nước hoặc nghĩa vụ tài sản đối với cơ
quan, tổ chức hoặc công dân Việt Nam;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự;
- Người chưa chấp hành xong bản án,
quyết định của tòa án Việt Nam
Cần nhấn mạnh thêm rằng trong mọi
trường hợp, nếu việc thôi quốc tịch Việt
Nam của một người dẫn đến hậu quả làm
phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt
Nam thì người đó không được thôi quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 24 Luật quốc tịch 1998)
V Các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam
Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật quốc tịch năm 1988 Điều 11 Luật quốc tịch 1998 quy định các giấy tờ được dùng làm căn cứ chứng minh quốc tịch Việt Nam gồm: Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, quyết định của Chủ tịch nước cho trở lại quốc tịch Việt Nam, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Việt Nam, giấy khai sinh của đương sự kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch của cha mẹ, giấy tờ khác do Chính phủ quy
định
Trong các loại giấy tờ trên, chúng tôi
đặc biệt lưu ý đến giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam Theo quy định tại
Điều 22 Luật quốc tịch 1998, công dân Việt Nam có quyền yêu cầu ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú ở trong nước hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam nơi cư trú ở nước ngoài cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam Nghị định số 104 quy định đương
sự đề nghị cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam phải nộp kèm theo một trong các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của mình Ngoài các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 11 Luật quốc tịch 1998 như trình bày ở trên, Điều 17 Nghị định số 104 còn quy định một số loại giấy tờ sau đây cũng
được coi là căn cứ chứng minh quốc tịch Việt Nam:
- Quyết định công nhận nuôi con nuôi
đối với trẻ em là người nước ngoài Loại giấy này phù hợp với quy định tại khoản
2 Điều 30 Luật quốc tịch 1998: Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt nam nhận làm con nuôi mặc nhiên có
Trang 7quốc tịch Việt Nam kể từ ngày được ủy
ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định công
nhận việc nuôi con nuôi đó
- Giấy xác nhận đăng kí công dân do
cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh
sự của Việt Nam cấp cho công dân Việt
Nam ở nước ngoài
- Giấy tờ, tài liệu để chứng minh
đương sự là người có quốc tịch Việt Nam
theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết
hoặc tham gia (phù hợp với quy định tại
khoản 4 Điều 15 Luật quốc tịch 1998)
- Ngoài ra, Nghị định số 104 còn quy
định nếu đương sự yêu cầu cấp giấy
chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, nếu
không có giấy tờ nêu trên thì phải nộp
bản sao giấy khai sinh kèm theo bản sao
có chứng thực sổ hộ khẩu gia đình hoặc
thẻ cử tri mới nhất Trong trường hợp
không có cả những loại giấy tờ đó thì có
thể nộp bản khai danh dự về ngày, tháng,
năm sinh, nơi sinh, quê quán, nơi cư trú
của bản thân; họ, tên, tuổi, quốc tịch, nơi
cư trú của cha mẹ và nguồn gốc gia đình
Bản khai danh dự phải được ít nhất 2
người biết rõ sự việc làm chứng và được
ủy ban nhân dân cấp x9 nơi đương sự sinh
ra xác nhận
Như vậy, các quy định trên đây là phù
hợp với nhu cầu do thực tiễn phát sinh
ngày càng nhiều yêu cầu của người xin
cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt
Nam (để thực hiện những mục đích chính
đáng khác như bổ sung hồ sơ xin kết hôn,
xin xuất cảnh )
Điều 27 Luật quốc tịch 1998 còn quy
định về việc đương sự có thể yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy
xác nhận mất quốc tịch Việt Nam Đây là
loại giấy tờ được cấp cho những người có
đơn yêu cầu và chứng minh được rằng họ
đ9 từng có quốc tịch Việt Nam nhưng bị
mất (do xin thôi, bị tước quốc tịch )
Trình tự, thủ tục cấp loại giấy tờ này được thực hiện tương tự như việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam
VI Thẩm quyền giải quyết các việc về quốc tịch
Đây cũng là một trong những vấn đề mới của Luật quốc tịch 1998 và được quy
định tại các điều từ Điều 31 đến Điều 40 Nghị định số 104 cũng đ9 hướng dẫn rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước giải quyết các việc về quốc tịch Có thể nói đây là lần đầu tiên pháp luật của Nhà nước ta quy định một cách rõ ràng, thống nhất về hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam Về vấn
đề này, xin lưu ý một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, Luật quốc tịch 1998 quy
định một cách rõ ràng thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam ở nước ngoài trong việc giải quyết các việc
về quốc tịch Theo quy định tại Điều 35
và Điều 36 Luật quốc tịch 1998 và Điều 4 Nghị định số 104 thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam tại nước ngoài có thẩm quyền tiếp nhận đơn và hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xem xét, kiến nghị việc giải quyết các hồ sơ đó Đối với việc xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, các cơ quan này có thẩm quyền trực tiếp cấp các loại giấy tờ này theo đơn yêu cầu của
đương sự
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1
Điều 4 Nghị định số 104, sở tư pháp là cơ quan giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về quốc tịch tại địa phương đồng thời trực tiếp thực hiện các công việc về quốc tịch như
Trang 8sau:
- Tiếp nhận đơn và lệ phí xin nhập,
xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam,
xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch
Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch
Việt Nam
- Chủ động và phối hợp với cơ quan
công an cấp tỉnh và cơ quan chức năng
khác trong việc nghiên cứu, thẩm tra hồ
sơ theo đúng thời hạn quy định tại Nghị
định số 104 Sở tư pháp có trách nhiệm
chủ động kiểm tra, xem xét toàn bộ hồ sơ
xin giải quyết các việc về quốc tịch Việt
Nam (như xin nhập, xin trở lại, xin thôi
quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng
nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác
nhận mất quốc tịch Việt Nam ), đối
chiếu các quy định của Luật quốc tịch
mới, Nghị định số 104 với điều kiện thực
tế của đương sự
- Sau khi có ý kiến của cơ quan công
an và cơ quan chức năng khác, sở tư pháp
dự thảo văn bản đề xuất ý kiến của ủy
ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết hồ sơ
xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch
Việt Nam; đề xuất ý kiến trình chủ tịch
ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc
cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt
Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt
Nam cho người có đơn yêu cầu
Nhằm thực hiện cải cách hành chính
trong lĩnh vực quốc tịch, nâng cao năng
lực và tính chủ động, hiệu quả của các cơ
quan chức năng, Luật quốc tịch 1998 và
Nghị định số 104 đ9 phân cấp rõ ràng cho
ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt
Nam ở nước ngoài trong việc giải quyết
các vấn đề về quốc tịch Với tư cách là cơ
quan trung ương giúp Chính phủ thực
hiện công tác quản lí nhà nước trong lĩnh
vực này, Bộ tư pháp và các bộ ngành khác
không trực tiếp xem xét, thẩm tra hồ sơ
như trước đây mà chỉ kiểm tra trên giấy
tờ, nếu cần bổ sung, hoàn thiện thì đề nghị ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l9nh sự Việt Nam tại nước ngoài thực hiện Quy
định như vậy cũng đồng thời đề cao trách nhiệm của các cơ quan này trước nhân dân và trong quan hệ công tác với nhau Tóm lại, chế định quốc tịch Việt Nam nói chung hay Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 nói riêng là vấn đề gắn liền với chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế
và luôn có tính thời sự, nhạy cảm, gắn liền với lợi ích của người dân Do đó, việc giải quyết kịp thời, thỏa đáng các vấn đề
về quốc tịch không những đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng của đương sự mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào nền hành chính nhà nước, nâng cao vị thế của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế và đương nhiên còn tạo ra căn cứ pháp luật cần thiết và quan trọng cho công tác quản lí nhà nước nói chung Vì vậy, việc ban hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 104/1998/ NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 08, 09) và các mẫu biểu quốc tịch đ9 tạo ra cơ sở pháp lí thống nhất để giải quyết các vấn
đề phát sinh liên quan đến quốc tịch./