1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Kiểm tra lời khai của bị can " doc

4 552 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 79,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó không chỉ làm cho hoạt động hỏi cung bị can - biện pháp điều tra nhằm thu thập lời khai của bị can do điều tra viên tiến hành thường mang tính xung đột cao mà còn đòi hỏi điều tr

Trang 1

Kiểm tra lời khai của bị can

Ths Bùi kiên điện *

1 Trong giai đoạn điều tra, lời khai

của bị can được đánh giá là phương tiện

chứng minh có ý nghĩa quan trọng và

không thể thay thế Bản thân bị can là

người nắm lượng thông tin lớn nhất về tội

phạm mà họ bị cáo buộc là thủ phạm

Hơn bất kì người tham gia tố tụng nào

khác (người bị hại, người làm chứng,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự ), bị

can biết rõ về mọi tình tiết có liên quan

đến việc chuẩn bị, thực hiện, che giấu

hành vi phạm tội đA xảy ra Vì vậy, việc

thu thập đầy đủ những thông tin về vụ án

mà bị can nắm được luôn dành được sự

quan tâm của điều tra viên và nó được coi

là cơ sở quan trọng để dựng lại sự kiện

phạm tội đA xảy ra một cách khách quan,

toàn diện, đầy đủ theo đúng yêu cầu của

pháp luật

2 Thực tế của công tác điều tra cho

thấy, phần lớn các trường hợp khi tham

gia tố tụng, bị can thường đặt cho mình

mục đích là làm sao che giấu hoặc làm

giảm trách nhiệm hình sự đối với tội

phạm mà họ đA thực hiện và vì vậy gây

khó khăn cho hoạt động điều tra, làm rõ

vụ án ở mức độ đáng kể Điều đó không

chỉ làm cho hoạt động hỏi cung bị can -

biện pháp điều tra nhằm thu thập lời khai

của bị can do điều tra viên tiến hành

thường mang tính xung đột cao mà còn

đòi hỏi điều tra viên phải có thái độ thận

trọng, khách quan khi đánh giá những

tình tiết mà bị can cung cấp đồng thời

phải sử dụng các biện pháp phù hợp để

kiểm tra, xác minh những tình tiết đó

trước khi sử dụng chúng làm cơ sở cho

các hành vi tố tụng tiếp theo(1) Thái độ

cần thiết đó còn xuất phát từ đòi hỏi của pháp luật hiện hành Theo quy định của

Bộ luật hình sự, khi bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo những tội danh tương ứng(2) Ngoài ra, theo quy

định của đoạn 2 Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự thì "trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng " Đồng thời, khi bị can phủ nhận hoặc khẳng định sự liên quan của mình

đối với hành vi phạm tội mà họ bị cáo buộc nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được bị can là người có tội thì phải coi bị can không có tội và phải

đình chỉ điều tra theo điểm b, khoản 1

Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự Vì vậy, lời khai của bị can (cũng như bị cáo), dù

ý nghĩa quan trọng của nó trong việc xác

định sự thật của vụ án không thể phủ nhận nhưng cũng chỉ được coi là một trong các phương tiện chứng minh của quá trình tố tụng hình sự Khi đánh giá lời khai của họ, kể cả khi họ nhận mình

có tội, đòi hỏi phải có thái độ khách quan như đối với các tình tiết của vụ án có ở các phương tiện chứng minh khác đA thu thập được trong quá trình điều tra, xét xử Thái độ cần có nêu trên được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự: "Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án

Không được coi lời nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ duy nhất để kết

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

tội"

3 Việc kiểm tra lời khai của bị can

trước khi quyết định sử dụng những thông

tin mà bị can cung cấp làm cơ sở cho các

hành vi tố tụng tiếp theo là công việc cần

thiết nhưng phức tạp, đòi hỏi điều tra viên

phải có thái độ khách quan và khoa học

Trong thực tế điều tra, có thể áp dụng một

số biện pháp cơ bản sau đây để kiểm tra,

xác minh tính xác thực, mức độ tin cậy

của những tình tiết mà bị can khai báo

Thứ nhất, lời khai của bị can được

kiểm tra bằng cách phân tích tính hợp lí

của những tình tiết mà bị can cung cấp

Đây là cách kiểm tra, xác minh đơn giản

và nhanh nhưng đòi hỏi điều tra viên phải

có kiến thức sâu rộng về những vấn đề

liên quan đến tình tiết mà bị can khai báo

Trên cơ sở phân tích những tình tiết đó,

điều tra viên có thể phát hiện được những

bất hợp lí, những mâu thuẫn trong lời

khai của bị can Ví dụ, bị can khai rằng

nguyên nhân của vụ cố ý gây thương tích

dẫn đến hậu quả chết người mà bị can

thực hiện là bởi khi anh ta ngồi trên ghế

đá trong công viên đang ngắm trăng (19h,

ngày cuối tháng âm lịch), người bị hại khi

đi trên đường trước mặt anh ta, (qua xác

định đó là đường bê tông, khô) đA nhiều

lần cố tình dẫm mạnh chân cho bùn đất

trên đường bắn vào mặt bị can Khi bị can

nhắc nhở thì anh ta đA xông vào tấn công

bị can, buộc bị can phải chống trả Tính

bất hợp lí trong lời khai trên của bị can

thể hiện tương đối rõ: Vào lúc 19h ngày

cuối tháng âm lịch sẽ không có trăng và

trên đường bê tông khô không thể có bùn

đất Như vậy, bị can có mặt ở hiện trường

không phải với mục đích ngắm trăng và

nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương

tích cho nạn nhân không phải như lời

khai của bị can

Thứ hai, đối chiếu lời khai của bị can với các tài liệu, chứng cứ đA thu được trong vụ án Những tài liệu, chứng cứ đó

có thể là vật chứng, lời khai của người làm chứng, người bị hại, của chính bị can, kết luận giám định đA được kiểm tra, xác minh, bảo đảm tính xác thực của nó Bằng cách này, điều tra viên có thể xác

định được mức độ tin cậy của những tình tiết mà bị can cung cấp Chẳng hạn, bị can khai rằng chưa bao giờ có mặt tại hiện trường nhưng kết luận giám định dấu vết vân tay thu được trên hiện trường lại khẳng định đó là dấu vết vân tay của chính bị can Khi bị can khai rằng, bị can không biết trong xe máy do một mình bị can sử dụng có ma túy nhưng kết quả của hoạt động khám xét lại chỉ ra rằng, gói

ma túy có trọng lượng lớn được tìm thấy dưới lớp vỏ bọc của yên xe bị can đang ngồi Trong các trường hợp trên, các chứng cứ thu được qua hoạt động trưng cầu giám định, khám xét chính là những chứng cứ chỉ ra sự gian dối trong lời khai của bị can Để biện pháp trên được áp dụng một cách có hiệu quả, đòi hỏi điều tra viên phải có tư duy logic, khoa học và nắm chắc những tài liệu, chứng cứ đA thu

được trong vụ án Khi ấy, tính hợp lí, bất hợp lí của những tình tiết có trong lời khai của bị can sẽ được xác định và là cơ

sở để điều tra viên đánh giá mức độ tin cậy của những tình tiết đó

Thứ ba, sử dụng câu hỏi kiểm tra để kiểm tra lời khai của bị can Câu hỏi kiểm tra là một trong 5 loại câu hỏi được sử dụng trong quá trình hỏi cung bị can Đó

là câu hỏi được đặt ra nhằm mục đích kiểm tra lời khai hoặc để thu thập tài liệu làm cơ sở cho việc kiểm tra lời khai của

bị can Chẳng hạn, khi bị can khai rằng, chính A là kẻ chủ mưu của vụ án, còn bị can chỉ tham gia trong vụ án với vai trò là

Trang 3

người thực hành Trong tình huống trên,

điều tra viên có thể hỏi bị can: Dựa trên

cơ sở nào anh khẳng định A là kẻ chủ

mưu của vụ án này? Với câu hỏi đó, nếu

bị can đưa ra được những thông tin hợp lí

khẳng định tình tiết trên là đúng thì lời

khai của bị can có thể tin cậy được

Ngược lại, nếu bị can không đưa ra được

hoặc đưa ra những thông tin mâu thuẫn

với khẳng định trên của mình thì lời khai

của bị can không đáng tin cậy Khi bị can

khai rằng, vào thời điểm xảy ra vụ án, bị

can không có mặt ở hiện trường mà đang

đi du lịch ở thành phố H Khi ấy, điều tra

viên có thể hỏi bị can về phong cảnh,

cuộc sống, tình hình giao thông ở thành

phố H - nơi bị can nói rằng đA có mặt ở

thời điểm xảy ra vụ án và nếu đúng vậy

thì bị can phải biết được Căn cứ vào tính

chất những câu trả lời của bị can (biết hay

không biết những tình tiết mà bị can nếu

có mặt ở thành phố H vào thời điểm đó

phải biết), điều tra viên sẽ có cơ sở để kết

luận về tình tiết mà bị can đA khai báo

trước đó

Thứ tư, tiến hành các biện pháp điều

tra phù hợp để thu thập tài liệu, chứng cứ

mới Đây được xem là biện pháp cơ bản

nhất trong việc kiểm tra lời khai của bị

can nhưng đòi hỏi chi phí nhiều nhất về

thời gian và công sức của cơ quan điều

tra Chẳng hạn, khi bị can khai rằng công

cụ, phương tiện phạm tội hoặc tài sản mà

bị can chiếm đoạt được qua việc thực hiện

hành vi phạm tội đó đang được bị can cất

giấu tại chỗ ở của mình thì biện pháp điều

tra phù hợp nhất trong tình huống trên mà

cơ quan điều tra có thể áp dụng là khám

xét chỗ ở (Điều 118 Bộ luật tố tụng hình

sự) Căn cứ vào kết quả của biện pháp

điều tra đó (tìm được hay không tìm được

vật mà bị can khai là đA cất giấu tại vị trí

nhất định trong chỗ ở của bị can), cơ

quan điều tra có thể kết luận về tính trung thực, mức độ tin cậy trong lời khai của bị can Hoặc khi bị can khai rằng, để mở

được khóa treo ngoài có độ an toàn cao tại hiện trường, bị can đA dùng một que sắt nhỏ thì trong trường hợp này, biện pháp điều tra phù hợp nhất cần phải áp dụng đó là thực nghiệm điều tra (Điều

128 Bộ luật tố tụng hình sự) Cơ quan

điều tra sẽ tái tạo lại hiện trường, yêu cầu

bị can diễn lại hành vi mở khóa như bị can khai đA làm trước đây Kết quả của biện pháp điều tra đó (bị can mở được hay không mở được khóa bằng cách như

đA khai) sẽ là cơ sở để cơ quan điều tra kết luận về lời khai của bị can Việc áp dụng biện pháp này để kiểm tra lời khai của bị can sẽ mang lại hiệu quả cao nếu

điều tra viên xác định được một cách khoa học: Với tình tiết mà bị can khai báo, biện pháp điều tra nào trong số các biện pháp điều tra được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, dựa vào tính chất của

nó, cần được áp dụng là phù hợp nhất, giúp cơ quan điều tra có cơ sở kiểm tra lời khai của bị can một cách đáng tin cậy nhất

Thứ năm, tìm hiểu động cơ khai báo của bị can Thực tiễn hỏi cung bị can cho thấy, việc bị can giữ thái độ như thế nào trong cuộc hỏi cung (thành khẩn khai báo hay khai báo gian dối) đều xuất phát từ những động cơ nhất định Thông thường, khi bị can có thái độ ăn năn, hối hận về hành vi mà mình đA thực hiện hoặc biết rằng cơ quan điều tra đA có đầy đủ chứng

cứ chứng minh hành vi phạm tội của mình và muốn giải thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về tinh thần hay muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật thì lời khai của bị can thường trung thực, đáng tin cậy (trừ trường hợp nhầm lẫn bị động) Khi việc khai báo của bị can bị chi phối,

Trang 4

nghiên cứu - trao đổi

thúc đẩy bởi ý định che giấu hoặc làm

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với

hành vi mà bị can hoặc thân nhân, bạn bè

anh ta đA thực hiện trong thực tế, trả thù

đồng bọn hoặc cơ quan điều tra do những

hành vi mà bị can cho rằng bất công với

anh ta thì lời khai của bị can không thể

đáng tin cậy Để tìm hiểu được động cơ

khai báo của bị can, điều tra viên cần chú

ý quan sát, thăm dò, đánh giá chính xác

những biểu hiện của bị can trong quá

trình điều tra và nhất là phải cố gắng thiết

lập được sự giao tiếp tâm lí giữa điều tra

viên và bị can, tạo ra bầu không khí tôn

trọng, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa

điều tra viên và bị can

Tóm lại, những tình tiết mà bị can

khai báo có thể trở thành phương tiện

quan trọng giúp điều tra viên tái tạo lại sự

kiện phạm tội đA xảy ra Nhưng khi lời

khai của bị can không được kiểm tra, xác

minh trước khi sử dụng sẽ gây ra những

hậu quả nghiêm trọng cho quá trình điều

tra, làm rõ vụ án như bỏ lọt tội phạm, làm

oan người vô tội, vi phạm pháp luật Vì

vậy, trong quá trình điều tra, điều tra viên

cần dành sự quan tâm thỏa đáng để lựa

chọn và áp dụng các biện pháp phù hợp

để kiểm tra, xác minh lời khai của bị

can./

(1) Hiện nay, ở nước ta chưa có số liệu thống kê xác

định tỉ lệ các trường hợp bị can thành khẩn khai báo

và khai báo gian dối trong giai đoạn điều tra Tham

khảo tài liệu của Cộng hòa liên bang Nga thì trong số

216 vụ án với 282 bị can được chọn ngẫu nhiên để

nghiên cứu, tỉ lệ đó là 34% và 64% Xem: P.A

Pêtrêlin, Lỗi - đối tượng của quá trình chứng minh -

Tạp chí tư pháp xô viết Số 12/1982, tr.18

(2).Xem: Điều 241, Điều 242 Bộ luật hình sự

(tiếp theo trang 7) xét xử tranh chấp và chọn luật cho tố tụng trọng tài còn có sự khác nhau, đó là nếu việc chọn luật áp dụng cho xét xử tranh chấp bị chi phối bởi nguyên tắc luật có quan hệ gần gũi với hợp đồng thì việc chọn luật cho tố tụng trọng tài phụ thuộc vào nguyên tắc nơi tọa lạc của trọng tài Việc tôn trọng những nguyên tắc chọn luật cho trọng tài trên đây đA làm cho hoạt động của trọng tài thương mại quốc tế đảm bảo tính công bằng và hợp lí trong việc xét xử tranh chấp trong giao dịch thương mại quốc tế./

(1).Xem: Michael Pryles, Legal issues Concerning International Arbitration, (1990) 64 The Law Journal, tr 470

(2).Xem: Michael Pryles, International Trade Law - Commentary and Materials, LBC Information Services, Melbourne, 1996, tr.649

(3).Xem: Michael Pryles, Choice of Law Issues In International Arbitration (1997) 15 The Arbitrator, The Journal of the Institute of Arbitrators Australia, tr.260

(4).Xem: Union of India v McDonnell Douglas Corporation (1993) 2 Loyd's Rep, tr 48

(5).Xem: CIA Maritima Zorroza S.A v Sesotris S.A.E (1984) 1 Loy's Rep, tr 651

(6).Xem: Vita Food Products Inc v Unus Shipping

Co (1939) AC, tr 277

(7).Xem: Michael Pryles, 1996 Sđd, tr.673

(8).Xem: D.M Day, Bernardette Griffin, 1993, The Law of International Trade, Butterworths, London, Dublin, Edinburgh, tr.185

(9).Xem: Okezie Chukwumerije, Mandatory Rule of Law in International Commercial Arbitration, (1993) 5, American Journal of International and Comparative Law, tr.565

(10).Xem: LewJ, Aplicable Law International Commercial Arbitration: A Study in Commercial Arbitration Awards, 1978, Oceana Publication, New York, tr.536

(11).Xem: Okezie Chukwumerije, (1993) Sđd, tr.561 (12).Xem: Michael Pryles, 1996 Sđd, tr.653 (13).Xem: Alan Redfern and Matin Hunter, 1991, Law and Practice of International Commercial Arbitration, Swet & Maxwell, London, tr.356

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w