31/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chắnh tả tiếẨwww.vanhoanghean.com.vn/component/
Trang 131/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chắnh tả tiếẨ
www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/12744-nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-taẨ 1/14
Điện ảnh Trang chủ Văn hóa và đời sống Góc nhìn văn hóa Đất và người xứ Nghệ Du lịch Tin tức Mục lục
Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu
tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chắnh tả tiếng Việt
GONđALO FERNANDES & CARLOS ASSUNđấO
Thứ năm, 01 Tháng 11 2018 05:10
font size
TốM TẮT
Chúng tôi phân tắch tầm quan trọng của các thế hệ truyền giáo đạo Chúa Jesus dưới sự bảo trợ của Bồ
Đào Nha đối với việc thực hiện chữ Quốc ngữ [ngôn ngữ quốc gia] ở Việt Nam ngày nay và sự miêu tả
ngôn ngữ học các thanh điệu tiếng Đàng Ngoài (Annamese hay Tonkinese Ố những tên gọi trước đây của
tiếng Việt) Cụ thể, chúng tôi phân tắch văn bản Manuductio ad Linguam Tunckinensem (khoảng 1745
[bản đầu 1623]) của Francisco de Pina, S.J.(1585/1586Ố1625),và Dictionarium Annamiticum Lusitanum et
Latinum và phần viết về ngữ pháp Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Rome
1651)của Alexandre de Rhodes, S.J (1593Ố1660) Chúng tôi chứng minh rằng Pina thực sự là người đầu
tiên dùng hệ thống Latin hóa tiếng Việt và biện luận rằng ông là người đầu tiên miêu tả sáu thanh điệu
của ngôn ngữ này một cách chi tiết A de Rhodes đã phát triển kiến thức của Pina, cụ thể là những điều
được nói rõ trong miêu tả các thanh điệu tiếng Đàng Ngoài Chúng tôi cũng lý giải rằng Rhodes sử dụng
các từ điển đã thất lạc của Gaspardo Amaral, S.J (1594Ố1646) và AntónioBarbosa, S.J (1594Ố1647),
màbằng chứng chủ yếu là việc dùng chữ kép <nh>của chắnh tả tiếng Bồ Đào Nha ghi âm vị /ɲ/
GIỚI THIỆU
Chúng tôi phân tắch công trình của các nhà truyền giáo tiên phong người Bồ Đào Nha ở Việt Nam trong
giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVII và văn bản siêu ngôn ngữ (metalinguistic) của họ Bài viết có kết cấu như
sau: trước hết chúng tôi trình bày bối cảnh lịch sử của những khám phá của Bồ Đào Nha, sự thành lập
Hội Bảo trợ Bồ Đào Nha hay Ius Patronatus [Right of Patronage]theo các sắc lệnh của giáo hoàngvà tầm
quan trọng của chúng đối với việc truyền bá đạo Chúa Jesus ở Đông Nam Á, cụ thể là Macau, nơi trở
thành trung tâm của đạo Chúa Jesus ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nước láng giềng, mặc dù nó chỉ là
một Phụ Tỉnh Sau đó, chúng tôi sẽ nói đến các hoạt động của các giáo sĩ tiên phong phục vụ dưới sự bảo
trợ của Bồ Đào Nha, chủ yếu là các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Francisco de Pina, S.J (1585/1586Ố1625),
Gaspar do Amaral, S.J (1594Ố1646) và António Barbosa, S.J (1594Ố1647), và giáo sĩ người Pháp,
Alexandre de Rhodes, S.J (1593Ố1660)
Chúng tôi miêu tả các công trình siêu ngôn ngữ về tiếng Việt được xuất bản đầu tiên, như Dictionarium
Annamiticum Lusitanum et Latinum và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Rome
1651) của Alexandre de Rhodes và các nguồn chắnh của chúng Phần này được chia làm hai phần nhỏ
Trong phần thứ nhất, chúng tôi sẽ phân tắch việc áp dụng hệ thống Latin hóa hiện giờ gọi là Quốc ngữ
[ngôn ngữ quốc gia] và chắnh tả tiếng Bồ Đào Nha trong tiếng Việt, cụ thể là sự thể hiện âm vị /ɲ/ bằng
chữ kép <nh> Bồ Đào Nha Ở phần hai chúng tôi sẽ phân tắch rõ ảnh hưởng của Francisco de Pina trong
miêu tả của Rhodes về sáu thanh điệu của tiếng Đàng Ngoài, so sánh văn bản Manuductio ad linguam
Tunchinensem (khoảng 1745 [trước 1623]) của Pina và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis
Declaratio (Rome 1651) của de Rhodes.
BỐI CẢNH LỊCH SỬ[1]
Hiệp ước Tordesillas (7/6/1494) và Zaragoza (22/4/1529), ký giữa vua Bồ Đào Nha và vua Tây Ban Nha
quy định phạm vi ảnh hưởng hay các phần lãnh thổ thuộc địa/truyền giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha ở phương tây và phương đông Hai nước chia thế giới làm hai phần ngang nhau, phần đất giữa 370
dặm (khoảng 2,193 km) tây các đảo Cabo Verde (khoảng 46thkinh độ tây) và 297,5 dặm (khoảng 142nd
kinh độ đông) thuộc về Bồ Đào Nha Ngoài ra đối với các nước Thiên Chúa giáo như Bồ Đào Nha và Tây
Ban Nha, sự ủy quyền của Giáo hoàng đối với thuộc địa là bắt buộc vì lý do chủ yếu là hướng người bản
xứ đến với đạo Chúa Jesus
Theo đó, sau năm 1452, với sắc lệnh Dum Diversas (8/6/1452) và chủ yếu là sắc lệnh Romanus Pontifex
(8/1/1455), Giáo hoàng Nicholas V (1397Ố1455) đã trao cho vua Bồ Đào Nha, D Afonso V (1432Ố1481)
Ius Patronatus [Quyền Bảo trợ] và toàn quyền pháplý đối với các vùng đất đã và sẽ tiếp tục phát hiện
được ở nước ngoài (xem, vắ dụ: Rego 1940, tr.7-8, Jacques 1999: 43-52) Các quyền này (và các bổn
BầI NỔI BẬT
Tweet
Thắch 1 Chia sẻ
Từ ỡSự Ưụng Ưộ Giữa Các Nền Văn Minhữ v Nhân Chủng Học nhìn lại Chủ Nghĩa Tương Ưối Văn Hoá
Giải thuộc địa và hậu thuộc địa Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và hoa
Lá bài tẩy trong Chiến Tranh Thương Mại M Trung
80 năm thành lập ấp Hà Đông (Đà Lạt): Tổn đốc Hoàng Trọng Phu có vai trò như thế nà Thi tốt nghiệp THPT: Nên hay không? Nguy cơ từ một nền giáo dục gian lận Phản biện Huntington: Sự đụng độ của các định nghĩa
Những giá trị tắch cực và hạn chế trong nhâ sinh quan của người Việt
Nhớ anh Mai Khắc Ứng
Trang 231/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế… phận) được ghi trong sự giám quản riêng của các hoạt động hành chính và truyền giáo ở các vùng đất hải
ngoại, việc thành lập các xứ đạo, giáo khu, việc thụ phong giám mục và các phúc lợi thuộc giáo hội, tài trợ
cho các tăng lữ (thường kỳ và thế tục) cũng nhưviệc xây dựng và giám quản các nhà thờ, trường học và
tu viện, v v… (Sena 2014, tr 91–92)
Các giáo sĩ Bồ Đào Nha – hay những ai phục vụ dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha – lúc ban đầu không
biết ngôn ngữ bản xứ Họ đem theo thông dịch, dịch giả hay “linguas” như họ được biết Như vậy một
trong những công việc đầu tiên của họ là học ngôn ngữ của người bản xứ và viết các bài giảng đạo, các
cuốn hội thoại, từ điển và ngữ pháp để giao tiếp với người bản xứ và để dạy các nhà truyền giáo đến sau
họ
Điều đó rất quan trọng sau khi Giáo hoàng Paul III (1468-1549) thành lập Dòng Tên (Society of Jesus)
năm 1540, Công đồng Trento (1545–1563) và đặc biệt đối với châu Á, năm Hội đồng địa phận đầu tiên
của Goa ở Ấn Độ (1567, 1575, 1585, 1592 và 1606), đã để lại một cuộc cách mạng về tôn giáo và xã hội
của đế chế Bồ Đào Nha ở châu Á (Souza 2008, tr 424).Mục đích chính là đảm bảo đầy đủ các giáo luật
của Công đồng Trento hay Chấn hưng Tôn giáo(Counter-Reformation) đến các thực tế ở Phương Đông
Chẳng hạn, một trong những đề nghị của Hội đồng địa phận thứ ba ở Goa (1585) là xuất bản phép giảng
bằng tiếng Bồ Đào Nha và tiếng bản xứ để truyền bá tốt hơn tín ngưỡng đạo Thiên chúa (Faria 2013, tr
227; cũng xem Fonseca 2006, tr 87)
Sự có mặt của người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam xuất hiện vào giữa thế kỷ XVI
(xem, ví dụ: Jacques 1999).Giáo khu rộng lớn ở Goa (Ấn Độ), được xây dựng theo sắc lệnh Romani
pontificis circumspection (31/1/1533) của Giáo hoàng Clement VII (1478–1534) về pháp lý bao trùm toàn
bộ phương Đông, tức là từ Mũi Good Hope (Cape Town,Nam Phi) đến
Trung Quốc và Nhật Bản Năm 1558, Giáo hoàng Paul IV (1476–1559) thành lập Giáo khu Malacca
(Malaysia) bằng Tông hiến Pro Excellent! Praeminentia (4/2), và, 18 năm sau, Giáo hoàng Gregory XIII
(1502–1585) thành lập giáo khu Macau (Trung Quốc) bằng Tông hiếnSuper specula militantis Ecclesiae
(23/2/1576),những địa hạt dưới quyền Tổng giám mục Goa (Xem: Fernandes & Assunção 2014)
Macau trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha vào năm 1557 (xem, ví dụ: Correia 2012), nhận một Hiến
chương từ vua D Filipe I của Bồ Đào Nha (Filipe II của Tây Ban Nha) (1527–1598) năm 1586 và là trung
tâm của Đạo chúa Jesus ở Trung Quốc, Nhật Bản và các vùng lân cận Đó là bối cảnh ít nhất cho đến cuối
thế kỷ thứ 17 với việc thành lập Giáo khu Nanjing bằng Tông hiến (apostolic constitution)Pontificis
Sollicitudo và Giáo khu Bắc Kinh (Trung Quốc) bằng Romanus Pontifex, Beati Petri (April 10, 1690) của
Giáo hoàng Alexander VIII (1610–1691), (xem: Teixeira 1996, tr 15–16) Sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha ở
Viễn Đông chấm dứt với việc Macao được chuyển cho nước Cộng hòa Nhân dân trung Hoa ngày
19/12/1999
Người Bồ Đào Nha đến vùng Chăm Pa (lãnh thổ Việt Nam ngày nay, lúc bấy giờ là Nam Trung bộ) vào
giữa tháng Chín năm 1516 (xem, ví dụ: Manguin 1972, tr 1-3; 45-46) Những tiếp xúc đầu tiên chưa được
thực hiện và kết quả là một cơn bão đã buộc các thuyền phải đổi hướng và việc “khám phá” Đàng Trong
của người Bồ Đào Nha phải lùi lại 7 năm sau, năm 1523 Trên thực tế, mặc dù người Bồ Đào Nha chưa
bao giờ xâm chiếm Việt Nam, sự hiện diện của họ ở đây đã kéo dài hơn 3 thế kỉ, với nhiều mối liên hệ
(xem, ví dụ: Manguin 1972, tr 1-3; 236), chủ yếu thông qua việc truyền giáo do các nhà truyền giáo tiến
hành dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha
Vào thế kỷ thứ 17, quốc gia bị chia làm hai vương quốc theo vĩ tuyến 18 bắc: Tonkin, tức miền bắc Việt
Nam với thủ đô Thăng Long (nay là Hà Nội) và Annam/Cochinchina là miền trung và nam Việt Nam với
kinh đô Phú Xuân (Huế) Sau cuộc chiến năm 1614, nhà Trịnh thống trị Vương quốc Đàng Ngoài và nhà
Nguyễn thống trị Vương quốc Đàng Trong (Annam/Cochinchina) Trong nước Việt Nam được gọi là Đại
Việt, nhưng với bên ngoài, trong quan hệ với Trung Quốc họ dùng tên An Nam, cái tên được người Bồ
Đào Nha gọi là “Cochin-China” (xem, ví dụ: Jacques 2004, tr 56-58)
CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN DƯỚI SỰ BẢO TRỢ CỦA BỒ ĐÀO NHA Ở VIỆT NAM
Cuốn sách đầu tiên nói đến những tiếp xúc đầu tiên giữa người Bồ Đào Nha và Việt Nam là của nhà ngữ
pháp và biên khảo João de Barros (1496–1570), có tên Terceira decada da Asia: Dos feytos, que os
Portugueses fizeram no Descobrimento & conquista dos mares & terras do Oriente (Lisbon 1563) Barros
viết rằng Tổng trấn Ấn Độ, Afonso de Albuquerque (1453–1515), cử Fernão Peres de Andrade (1458–
1552), một nhà hàng hải, thương gia và nhà ngoại giao đi khám phá bờ biển Trung Quốc và tạo lập quan
hệ đầu tiên với người Trung Quốc Ông ta rời Malacca vào ngày 12/8/1516, nhưng bị buộc phải chuyển
hướng vì một cơn bão và họ đã đến Vương quốc Chăm Pa ở Đàng Trong Fernão Peres de Andrade đặt
chân lên bờ biển để nhìn làn nước trong lành và có thể tường trình về chất lượng cuộc sống của người
dân Sau ấn tượng đầu tiên, Fernão Peres ra lệnh cho các thủy thủ tặng quà cho người dân bản xứ, cố
gắng làm giảm xung đột tạm thời và thiết lập quan hệ với họ Fernão Peres tiếp tục hành trình của mình
nhưng ông không thể đi đến Trung Quốc Ông ta dừng lại ở Côn Sơn, trên bờ biển phía nam Việt Nam,
thuộc quần đảo Côn Đảo hiện nay, ở miền Nam Việt Nam thuộc Biển Đông Côn Sơn được người Bồ Đào
Nha gọi là “Pullo Condor”, lấy từ tiếng Malaysia “Pu Lao Kundur” Lúc bấy giờ Côn Sơn hay Pullo Condor
chưa có người ở, nhưng nó được các nhà hàng hải biết đến rất rõ vì nguồn nước sạch, gia cầm, chim thú,
rùa và nhiều loại cá khác nhau (Barros 1563, tờ 42r-43v)
THÔNG BÁO GIA HẠN NỘP HỒ SƠ DỰ TUYỂN PHÓNG VIÊN
Tạp chí Văn hóa Nghệ An gia hạn nộp hồ sơ dự tuyển phóng viên thêm 1 tháng (từ 03/7-03/8/2019) Các ứng viên dự tuyển nếu ở xa có thể gửi file mềm
hồ sơ qua Email:tapchivanhoanghean@yahoo.com
VĂN HÓA NGHỆ AN
Về video ông Trump chiếu cho ông Kim ở Singapore
Trang 331/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/12744-nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-ta… 3/14
Một trong những văn bản tiếng Bồ Đào Nha đầu tiên khác viết về Việt Nam là giáo sĩ dịng Đa Minh,
Gaspar da Cruz, O.P (khoảng 1520–1570), cĩ tênTratadoem que se contam muito por extenso as cousas
da China (Évora 1570) Đây là cuốn sách châu Âu đầu tiên viết về Trung Quốc Gaspar da Cruz là nhà
truyền giáo đầu tiên ở Malaccavà ơng quyết định đến Trung Quốc để biết rõ hơn về vương quốc nổi tiếng
này Trong chuyến đi của mình ơng đã dừng chân ở vương quốc Cochinchina để nghỉ và lấy nước sạch
Ơng mơ tả đây là một vương quốc tuyệt vời với nhiều người và những người dân giàu cĩ Đặc biệt, ơng
viết rằng Cochinchina giáp với phía nam Trung Quốc với khoảng một trăm dặmbờ biển Ơng cũng nhận
xét rằng Cochinchina lệ thuộc Trung Quốcvà con người cũng như ăn mặc giống người Trung Quốc Đáng
tiếc, ơng ta khơng mơ tả gì về tiếng Việt, nhưng ơng nĩi rằng chữ viết của Cochinchina tương tự như chữ
của Trung Quốc cho dù nĩ là ngơn ngữ khác hẳn Đối với ơng, người Việt Nam và người Trung Quốc chỉ
hiểu được nhau qua chữ viết chứ khơng phải bằng lời nĩi bởi vì Trung Quốc cĩ nhiều ngơn ngữ khác
nhau và người nĩi các ngơn ngữ này cũng khơng hiểu được nhau (Cruz 1569, tờ b iiir; về các tư liệu
khác, xem Fernandes & Assunção 2014, p 9-10)
Roland Jacques, O.M.I, hiện nay là giáo sư danh dự của Đại học Saint Paul ở Ottawa và đại diện của Việt
Nam từ giáo đồn “Missionary Oblates of Mary Immaculate”, là một học giả người Pháp đã nghiên cứu chi
tiết về quan hệ giữa Việt Nam và các nhà truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha.Khi nghiên cứu
các thế hệ tiên phong của giáo đồn được tổ chức[2] đầu tiên, ơng bàn về các nhà truyền giáo phục vụ
dưới sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha giữa năm 1623 và 1678 với sự tập trung vào Francisco de Pina,S.J
(1585/1586–1625), Gaspar do Amaral, S.J (1594–1646), Antĩnio Barbosa, S.J (1594–1647) và
Alexandre de Rhodes, S.J (1593–1660) (xem Jacques 2012, tr 43–48)
Francisco de Pina sinh ở Guarda, miền bắc Bồ Đào Nha giữa năm 1585 và 1586 Ơng gia nhập Dịng Tên
năm 19 tuổi và dành một số năm học ở Học viện Madre de Deus ở Macau, nơi ơng là học trị của Cha
Jỗo Rodrigues “Tçuzu” (1562–1633) và cĩ khả năng sử dụng năng khiếu ngơn ngữ của mình Ơng đến
Việt Nam ở Chăm Pa (Hội An, được người Bồ Đào Nha gọi là “Fạfo”) vào năm 1617 và qua đời trong một
tai nạn chỉ tám năm sau (15/12/1625) ở tuổi 40 khi cố gắng cứu khách đang gặp nguy hiểm ở ĐàNẵng
(“Turam” or “Turão” theo cách gọi của người Bồ Đào Nha), một cảng trên sơng Hàn ven bờ biển miền Nam
Trung Bộ của Việt Nam (Jacques 2002, tr 24–27; Mourão 2005, tr 317–319)
Gaspar do Amaral sinh ở Corvaceira, một huyện thuộc Viseu, miền bắc Bồ Đào Nha năm 1594; ơng được
phong linh mục Dịng Tên năm 1622, và năm sau ơng được cử đến Nhật Bản, sau khi đã ở Học viện
Madre de Deus ở Macau Ơng được Giám đốc Học viện, Cha Pedro Morejĩn (khoảng 1562–1639) cử đến
Tonkin năm 1629, bởi vì “ơng này khơng cĩ tin tức gì từ các nhà truyền giáo” (Ribeiro 2001, tr 68) Gaspar
do Amaral là Giám đốc Học viện Macau và Phĩ Tỉnh dịng Tên Nhật Bản (1641–1645) (Wernz, Schmitt &
Goetstouwers 1950, tr 650) Ơng qua đời trong một tai nạn đắm tàu ở gần đảo Hải Nam trên biển Đơng
(26/2/1646) lúc khoảng 52 tuổi (Mourão[3] 2005, tr 310–313, 2012, tr 54–61)
Antĩnio Barbosa sinh ở Arrifana do Sousa, Penafiel, một huyện của Porto,cũng ở miền bắc Bồ Đào Nha
năm 1594 Ơng gia nhập Dịng Tên năm 1624, vàđến Goa và Macau để cộng tác với Gaspar do Amaral
làm phiên bản tiếng Bồ Đào Nha của cuốn từ điển tiếng Việt (Zwartjes 2011, tr 291) Năm 1635,ơng dạy ở
Học viện Macau, và, giữa năm 1636 - 1642, ơng ở Tonkin Năm 1644 cĩ tin về sự cĩ mặt của ơng ở
Macau (Mourão 2012, tr 59, chú thích16); ơng bị ốm, vì thế, “được gửi đến Goa điều trị và mất ở đây năm
1647 (Jacques 2002, tr 30, chú thích 36)
Alexandre de Rhodes sinh năm 1593 ở Avignon, miền nam nước France,
trong một gia đình gốc Do Thái Tổ tiên ơng đến từ Calatayud, ở Aragon gầnZaragoza,Tây Ban Nha, “chạy
trốn các cuộc khủng bố của người Iberia và đổi tên của họ từ Rueda[4], sống ở Avignon” (Maryks 2010, tr
151) Rhodes đã giấu nguồn gốc Do Thái và Tây Ban Nha của mình khi gia nhập trường dịng Thánh
Andrew ở Rome năm 1612 để được nhận vào Dịng Tên Nhưng, ơng coi mình là người Pháp, như ơng
nĩi rõ trong cuốn sách Divers Voyages: “ma chere patrie” (de Rhodes 1653, tờ ẽ ii v., “Epistre à la
Reyne”) Ơng xin được nhận vào tỉnh dịng Roman thay vì Lyon bởi vì thành viên của nĩ dễ được nhận
nhiệm vụ của vua Bồ Đào Nha đi truyền giáo ở Ấn Độ hơn (Phan 1998, tr 39).Rhodes được thụ phong
năm 1618 và cùng năm đĩ được cử đi Viễn Đơng Ơng đến Lisbon bằng đường bộ, từ đĩ ơng lên tàu
“Santa Teresa”, dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha và năm sau đến Goa Theo Fidel González Fernández
(2011), hoạt động truyền giáo của Rhodes cĩ thể chia làm ba thời kỳ khác nhau: 1) giữa 1619 và 1645 ở
Viễn Đơng dưới sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha; 2) giữa 1645 và 1655 ở châu Âu, chủ yếu ở Pháp và Italia,
và 3) giữa 1655 và1660 ở Ba Tư, hiện nay là Iran, nơi ơng mất vào năm 1660, ở tuổi 67
Alexandre de Rhodes muốn đi theo dấu chân của Thánh Francisco Xavier, S.J.(1506–1552), nhưng, vì
khủng bố ở Nhật Bản sau năm 1614, Rhodes buộc phải ở lại Goa hai năm rưỡivà dành thời gian học ngơn
ngữ bản địa, Ơng đến Malacca năm 1622 và Macau năm 1623; ở đây ơng được nhận vào học viện Madre
de Deus, nơi ơng bắt đầu học tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật Bản Một năm sau, năm 1624, ơng cĩ
chuyến đi đầu tiên đến Chiêm Thành (Chăm Pa), Cochinchina Ở đây ơng gặp Francisco de Pina, và bắt
đầu học tiếng Việt với ơng ấy Tuy nhiên, một năm sau, Pina bị chết trong một tai nạn đắm tàu ở Đà Nẵng
(González Fernández 2011, tr 283) Rhodes cịn ở lại một số năm ở ven biển Trung Bộ thuộc tỉnh Nghệ
An, Tonkin, nơi ơng gặp Gaspar do Amaral Năm 1630, trong thời gian trị vì đầu tiên (1619–1642) của vua
Lê ThầnTơng (1607–1662), chúa Trịnh Tráng (1577–1654) xem Đạo Thiên chúa nguy hiểm và bắt đầu
cấm đạo (Brockey 2009: 338–339)
Trang 431/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế… Rhodes bị trục xuất khỏi Tonkin, ơng trở lại Macau cho đến năm 1640, nơi ơng vẫn cĩ thể biết cha Jỗo
Rodrigues “Tçuzu”, S.J (1562–1633) và liên hệ lại với Gaspar do Amaral, S.J (1594–1646) Rhodes trở
lại Cochinchina, nhưng, trong cuộc nội chiến Trịnh–Nguyễn (1627–1673)[5], ơng bị chúa Nguyễn Phúc Tần
(1620–1687) buộc tội tử hình (chặt đầu) ở Phú Xuân (Huế) miền trung Việt Nam Ơng được người của vua
Tonkin, Lê Thần Tơng (1607–1662) cứu thốt Tuy nhiên, tội chết được thay bằng việc bị trục xuất Vì vậy,
ơng lên một chiếc tàu Bồ Đào Nha ở Hội An vào ngày 3/7/1645, và khơng bao giờ trở lại nữa
(GonzálezFernández 2011, tr 288)
Một điều cũng quan trọng là cần đề cập đến nhà ngơn ngữ nổi tiếng đầu tiên về tiếng Nhật Bản, giáo sĩ Bồ
Đào Nha, Jỗo Rodrigues “Tçuzu”, S.J (1562–1633)[6], cho dù ơng chưa hề đặt chân đến Việt Nam Ơng
ở Macau giữa 1614 và 1633 và cĩ lẽ đã làm thay đổi ngơn ngữ học Việt Nam, chủ yếu là hoạt động tiếp
theo của đồng nghiệp và là học trị của ơng là Francisco de Pina.Nĩi vắn tắt, Jỗo Rodrigues đã viết một
tác phẩm khởi nguồn, thêm vào đĩ những sáng tạo ngơn ngữ và tạo ra một tác phẩm siêu ngơn ngữ từ
vốn kiến thức của ơng về xã hội và văn học Nhật Bản Ơng là người đầu tiên viết về tiếng Nhật Bản bằng
các kí tự Latin, và những miêu tả của ơng về xưng gọi của người Nhật Bản, việc sử dụng sắc thái kính
trọng, các quan hệ tơn ti trong xã hội Nhật Bản và những sự khác nhau về xã hội cụ thể giữa nam và nữ
(Zwartjes 201, tr 94–142; Rodrigues 1604 [-1608],1993 [1620]) Cha Jỗo Rodrigues[7]xứng đáng, như
Zwartjes (2011, tr 141) nĩi “được xếp là một trong năm nhà ngữ pháp Đạo Thiên Chúa nổi tiếng nhất từ
thời thuộc địa”, chủ yếu là với tác phẩm Arte da lingoa de Iapam (Nagasaki 1604–1608).Roland Jacques
(2012: 44) gọiơnglà “một thiên tài ngơn ngữ học - un génie de la linguistique” và CharlesRalph Boxer
(1904–2000), “cha đẻ của nghiên cứungơn ngữ Nhật Bản” (Boxer1950, p 363) Về cuốn ngữ pháp chính
của ơng (1604-08), Richard L Spear cho rằng “về mọi phương diện nĩ là nghiên cứu ngữ pháp tuyệt vời
nhất về tiếng Nhật ra đời trong thế kỷ đạo Thiên Chúa” (Spear 1975, tr 2)
NHỮNG VĂN BẢN SIÊU NGƠN NGỮ TIẾNG VIỆT ĐẦU TIÊN ĐƯỢC XUẤT BẢN[8]
Văn bản siêu ngơn ngữ đầu tiên được xuất bản về tiếng Việt là Dictionarium Annamiticum Lusitanum et
Latinum và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio của Alexandre de Rhodes Chúng
được Propaganda Fide (Bộ Truyền giáo) in (Rome 1651) sáu năm sau khi ơng rời Việt Nam Như vậy, ơng
khơng thể hồn thành chúng ở đấy và cĩ khả năng ơng mang theo văn bản của Gaspar doAmaral và
Antĩnio Barbosa mà ơng dùng để biên soạn cuốn từ điển, như chúng ta sẽ thấy Dictionarium cĩ tất cả591
trang Riêng phần từ điển gồm 450 trang chia thành 900 cột, Rhodes gọi là trang hay tờ; kèm theo nĩ là
một phụ lục giải thích, một đính chính bằng tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latin và một index với
các mục từ Latin ([440]–[490]) Trái lại, LinguaeAnnamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio là (một
khái lược) một miêt tả về ngữ pháp tiếng Việt, đối chiếu, trong một số bản, ở đầu cuốn từ điển, và một số
trường hợp ở cuối Nĩ gồm cĩ 31 (độc lập-autonomous) trang, trong đĩ Rhodes phân tích tiếng Việt hay
những vấn đề ngữ pháp tiếng Đàng Ngồi, chẳng hạn như chữ cái và âm tiết (2–7), các biến thể và các
dấu (8–10), các danh từ (10–14), các đại từ trang trọng (“honorific”) (14–20), các đại từ khác (21–23), các
động từ (23–26), các phầnkhơng biến cách khác (26–29) và một số châm ngơn cú pháp (29–31)
Lời nĩi đầu của từ điển, “Ad lectorem” [với bạn đọc] (6–7), nĩi rất rõ ràng về nguồn tài liệu chính của de
Rhodes và giải thích về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngồi như thế nào Những chi tiết này trên thực tế
quan trọng với các nhà truyền giáo châu Âu trong tương lai, những người cĩ thể là những người đọc tiềm
năng của nĩ Chẳng hạn,Rhodes giải thích rằngtiếng Annam hay Tonkin được nĩi khơng chỉ ở hai vương
quốc này, Tonkin và Annam (Cochinchina), mà cũng được dùng như một ngơn ngữ chung lingua franca ở
các vương quốc lân cận ở Cao Bằng (ở đơng bắc Việt Nam ngày nay), Chăm Pa (Trung BộViệt Nam),
Cambodia,Lao và Siam (Thái Lan) (de Rhodes 1651a, tr [VI])
Rhodes cũng nĩi rằng ơng ta dành mười hai năm nghe người bản xứ nĩi và, thêm nữa, ơng bắt đầu học
tiếng này với giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Franciscode Pina, người mà theo ơng, thơng thạo tiếng Việt và là
một trong những giáo sĩ đầu tiên nắm vững và giảng đạo khơng cần phiên dịch:
In hoc autem opere praeter ea quae ab ipsis indigenis didici per duodecim fermeannos quibus in illis
egionibus tam Cocincinae quam Tunkini sum commoratus, ab initio magistrum linguae audiens
Patrem Franciscum de Pina lusitanum e nostra minima Societate IESV, qui primus e Nostris linguam
illam apprimecalluit, et primus sine interprete concionari eo idiomate caepit (de Rhodes 1651a,
[VI-VII])
[Nhưng, trong tác phẩm này, bên cạnh điều tơi tự học được từ người bản xứ trong suốt mười hai
năm tơi sống ở các vùng Annam và cả ở Tonkin, tơi đưa vào điều tơi đã học từ lúc đầu với cha
Francisco de Pina, một người Bồ Đào Nha từ Dịng Tên nhỏ bé của chúng ta, người đầu tiên trong
số chúng ta cĩ kiến thức sâu tồn diện về thứ tiếng này và người đầu tiên bắt đầu giảng đạo bằng
thứ tiếng đĩ mà khơng cần phiên dịch.]
Lời tán dương này được nhắc lại trong Divers Voyages, nơi Rhodes khẳng địnhsự am hiểu tuyệt vời của
Pina về tiếng Việt:
Nous partimes de Macao au mois de Decembre de cette année 1624 et dix-neufjours, nous
arrivâmes tous en la Cochinchine, pleins du desir d’y bien travailler: Nous y rencontrâmes le Pere
Pina qui s’estoit rendu sçavant en la langue du pạs entierement differente de la Chinoise (de
Rhodes 1653, p 71-72)
Trang 531/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/12744-nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-ta… 5/14
Ngoài ra, trong lời nói đầu của Từ điển, Rhodes cũng nói thêm rằng ông dùng công trình của hai nhà
truyền giáo khác của Dòng Tên, hai giáo sĩ Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral và António Barbosa Họ biên
soạn từ điển Việt-Bồ Đào Nha (Gaspar do Amaral) và Bồ Đào Nha-Việt (António Barbosa), mặc dù các từ
điển này chưa được hoàn thành vì họ đột ngột qua đời Rhodes giải thích rằng ông đã phát triển chúng và
thêm tiếng Latin qua hiểu biết của ông (de Rhodes 1651a, tr [VII]) Trong số những người khác, Michel
Ferlus (1982, tr 85), đã chứng minh rằng từ điển của de Rhodes là công trình được biên soạn dựa trên
các công trình đã có
Vay mượn bảng chữ cái tiếng Latin và chính tả tiếng Bồ Đào Nha
Trong một bản sao một bức thư gửi Giám sát Tỉnh dòng Nhật Bản và Trung Quốc, có thể được viết vào
năm 1623, Francisco de Pina nói rằng ông đã viết một miêu tảvắn tắt về việc dùng chính tả và thanh điệu
tiếng An Nam - Đàng Ngoài và ông bắt đầu soạn một cuốn về ngữ pháp Ông cũng nói rằng ông viết nó
bằng tiếng Bồ Đào Nha để “chúng ta” (người Bồ Đào Nha và/hay các giáo sĩ đạo Thiên Chúa) có thể đọc
nó và học thuộc lòng được
Eu já tenho feito hum Tratadozinho sobre a orthografia e toadas desta lingua, vou entrando pela
Arte (…) eu escrevilas [em] letra portuguesa, e para os nossos poderem lelas, aprendendo de cor
(Pina ca 1745b [ca 1623], f 414v)
[tôi đã viết một mô tả nhỏ về việc dùng chính tả và thanh điệu ngôn ngữ Tôi bắt đầu với ngữ pháp…
Tôi viết chúng bằng chữ Bồ Đào Nha để những người anhem của chúng ta có thể đọc và học thuộc
lòng.]
Trong đoạn trích này, Pina đã dùngmutatis mutandisnhững lý do tương tự với lý do của João Rodrigues
“Tçuzu” in the Arte da Lingoa de Iapam:
No escreuer esta lingoa em nossa letra seguimos principalmente a o mutatis mutandis
rtographiaatina, e a Portuguesa, assi por ter a pronunciação de Iapão semelhança com aPortuguesa
em algũas syllabas como sam, cha, chi, cho, chu, nha, nho, nhu, etcetera Como tambem por que
Iapão em os Padres e irmãos entre si usam dalingoa e ortographia Portuguesa (Rodrigues
1604[-1608], f 55v)
[Viết ngôn ngữ này [tiếng Nhật] bằng chữ của chúng ta, chúng tôi chủ yếu dựa vào chính tả tiếng
Latin và tiếng Bồ Đào Nha bởi vì việc phát âm tiếng Nhật tương tự như tiếng Bồ Đào Nha trong các
âm tiết, gồm cha, chi, cho, chu,nha, nho, nhu, etc., và cũng bởi vì, ở Nhật Bản, các giáo sĩ và những
người anh em dùng tiếng và chính tả Bồ Đào Nha với nhau.]
João Rodrigues, đã viết trongArte Breve, một vài năm trước bức thư của Pina, rằng ông chủ yếu dựa trên
chính tả tiếng Latin vì tất cả các giáo sĩ biết nó Ông cũng nói rằng ông cần dùng tiếng Bồ Đào Nha bởi vì
nó có nhiều sự giống nhau về ngữ âm với tiếng Nhật và ít giống với tiếng Italia và tiếng Tây Ban Nha:
E por que a latina he commum a todas as naçoens, essa seguimos em geral,e o que falta à latina
tomamos, ou do Portugues, que tem muitas syllabassemelhantes às Iapoas, que algũas terras de
Europa nam tem, ou do Italiano, oufinalmente do Castelhano (Rodrigues 1993 [1620], f 6r, p 367)
[Và,vì tiếng Latin là thứ tiếng chung của tất cả các dân tộc, chúng ta dựa vào nó [language] về cơ
bản, và điều gì thiếu trong tiếng Latin, chúng ta lấy từ tiếng Bồ Đào Nha, thứ tiếng có nhiều âm tiết
giống tiếng Nhật Điều này không có đối với các ngôn ngữ khác ở lục địa châu Âu, chẳng hạn tiếng
Italia và tiếng Tây Ban Nha.]
Có thể là Pina, trong bức thư, đã ám chỉ đến Manuductio ad Linguam Tunckinensem [Sổ tay về tiếng
Tonkin], tài liệu mà một bản sao từ thế kỷ 18 hiện có trong Biblioteca da Ajuda (Lisbon, Bồ Đào Nha) và
một bản sao đã được Jacques (2002, tr 146-167) công bố Roland Jacques cho rằng tác giả của nó là
người Thụy Sĩ, Honufer Bürgin, trong tiếng Bồ Đào Nha là Onofre Borges (1614-1664) Tuy nhiên, các
chứng cứ của Jacques không hoàn toàn thuyết phục Ảnh hưởng ngữ âm của tiếng Bồ Đào Nha là bằng
chứng trong toàn bộ văn bản, Rhodes không thể bổ sung vào một văn bản được viết khoảng 15 năm sau
khi ông đã rời Việt Nam và bức thư của Pina nói rõ rằng ông đã viết một mô tả về hệ thống thanh điệu
tiếng Việt Ngoài ra, Jacques tin rằng “tratadozinho” [miêu tả vắn tắt] của Pina ảnh hưởng tới Manuductio
của Bürgin (xem Jacques 2002, tr 31-39) Như vậy, cho đến khi phát hiện được tư liệu mới, chúng ta vẫn
tin rằng nguồn tư liệu chính của Rhodes đúng thực là của Francisco de Pina và Manuductio ad Linguam
Tunckinensem do ông viết.
Trên thực tế, Manuductio là một tóm tắt ngữ pháp hay một mô tả ngắn về tiếng Annam hay Đàng Ngoài.
Nó gồm 22 trang, chia làm ba phần chính (về thanh điệu (accents), các con chữ của bảng chữ cái và các
danh từ) và một số ghi chú thêm (hội thoại, phát ngôn thường dùng, một số cách diễn đạt quen thuộc
hàng ngày vàmột số câu có thể có nghĩa tục tĩu) Đó là một phiên bản sao lại từ một bản được Cha João
Álvares, S.J (?–cuối 1762) viết năm 1745 tại học viện Madre de Deus ở Macau và được gửi tới Đại diện
Tỉnh dòng Nhật Bản ở Lisbon khoảng năm 1747 cùng với các bản sao những tài liệu tôn giáo quan trọng
khác(Rodrigues1931–1950, tập 4, tr 162)
Những năm gần đây, chủ yếu là sau nghiên cứu của Roland Jacques (2002, 2004, 2012), dường như các
học giả quốc tế thiên về giả thiết rằng Francisco de Pina là người sáng tạo thực sự của chữ Việt Latin hóa
(dựa trên cơ sở bảng chữ cái tiếng Latin), chữ viết hiện nay gọi là chữ Quốc ngữ “ngôn ngữ quốc gia”
(xem thêm: Guillemin 2014) Việc nó được dùng làm chữ viết chính thức của hệ thống hành chính Việt
Trang 631/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế… Nam được quy định vào năm 1898 bằng một Nghị định của Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương (và tổng
thống tương lai của Pháp) Paul Doumer (1857–1932) Tuy nhiên, việc thực hiện nó chỉ được hoàn tất năm
1909 và cuối cùng, một sắc lệnh bãi bỏ phương pháp dạy truyền thống với việc đưa vào hệ thống giáo
dục chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ (xem: Jacques 2004, tr 24, chú thích 3) Sau khi độc lập (2/9/1945) và
thống nhất (30/4/1975), quốc ngữ vẫn giữ vị trí là văn tự chính thức ở Việt Nam (xem: Thompson 1987)
Tóm lại, mặc dù các nhà truyền giáo châu Âuđược cung cấp mọi thứ, Francisco de Pina rõ ràng chịu ảnh
hưởng từ Cha João Rodrigues “Tçuzu”, như trong trường hợp tiếng Nhật Bản Gaspar do Amaral, António
Barbosa và Alexandrede Rhodes đã phát triển và nâng cao phương pháp Gần đây, chẳng hạn,
OttoZwartjes (2011: 291) và Fidel González Fernández (2011, tr 299) nhận thấy rằng các tác phẩm của
Rhodes dựa trên các công trình của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha trước đó
Mặt khác, Thompson lưu ý rằng có nhiều ảnh hưởng của Bồ Đào Nhatrong từ điển của de Rhodes, song
ông không hiểu vì sao nó lại xảy ra:
Điều rắc rối nhất có lẽ là Alexandre de Rhodes, người chịu trách nhiệm đối với những nội dung cơ
bản, là một người Avignon ở miền nam nước Pháp, mà hệ thống chữ viết có lẽ thể hiện nhiều nét
đặc biệt liên quan tới tiếng Bồ Đào Nha hơn bất cứ một thứ tiếng nào khác Liên quan tới điều này,
điều quan trọng là bên cạnh tiếng Bồ Đào Nha từ điển của de Rhodes gồm nhiều điểm đặc trưng
của tiếng Latin hơn tiếng Pháp (Thompson 1987, tr 55)
Lập luận của ông ấy chỉ dựa trên niềm đam mê hàng hải và thương mại của người Bồ Đào Nha trong khu
vực đó chứ không phải trên hoạt động của các nhà truyền giáo trước đó:
Suốt thời kỳ ban đầu ấy chính niềm đam mê buôn bán và hàng hải của người Bồ Đào Nha đã thể
hiện các cam kết quan trọng nhất của người châu Âu trong khu vực và như một hệ quả, tiếng Bồ
Đào Nha dường như là ngôn ngữ phổ biến nhất của người châu Âu lúc bấy giờ (Thompson 1987, tr
55)
Đáng tiếc là chúng ta không thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của Gaspar do Amaral và António Barbosa
đếnRhodes bởi vì công trình của họ không bao giờ được in và bản thảo của họ vẫn chưa được tìm thấy
Bên cạnh việc Rhodes nói rằng ông dùng các từ điển của Amaral và Barbosa, có một số thư thường niên
của các nhà truyền giáo (annuaelitterae) khẳng định rằng họ đã sử dụng các cuốn từ điển (xem, ví dụ:
Rodrigues 1917, tr 360; 1931–1950, tập 3, vol 2, tr 157; hộp 2002, tập.1, tr 189) Cho rằng Gaspar do
Amaral mất một năm sau khi Rhodes rời khỏi Việt Nam, rất có thể là ông đã sao chép phiên bản tiếng Việt
và tiếng Bồ Đào Nha và hoàn thành bản dịch tiếng Latin ở châu Âu Tuy nhiên, những dấu ấn của các tác
giả Bồ Đào Nha là không thể phủ nhận
Ngoài ra sự thực là từ “Portuguese” được lặp lại hơn 70 lần— “portugueses”, 6 lần; “lusitani” “dicunt” hay
“vocant”, 29 lần; “a” hay “pro” “lusitanis”, 24 lần; “lusitana” “lingua”, 5 lần; “apud” “lusitanos”, 3 lần, v.v —
có một phép chính tả đặc trưng của tiếng Bồ Đào Nha: âm vị vòm mặt lưỡi mũi (dorso-palatalnasal) được
thể hiện bằng kí hiệu /ɲ/ trong Bảng Ngữ âm Quốc tế (IPA)được viết bằng chữ cái Bồ Đào Nha <nh>chứ
không phải bằngkết hợp chữ cái (archigrapheme)của tiếng Italia hay tiếng Pháp<gn>[9] Rhodes chỉ ra
điều đó một cách rõ ràng nhưng không nói rằng nó là phép chính tả riêng của tiếng Bồ Đào Nha: “(…)
adhibemus etiam simul cum, n,vt nhà, domus, & facit idem quod apud Italos, gna” (de Rhodes 1651b, p 4)
[wealso add [h] with n, like “nhà”, house, and does the same like the Italian “gna”] Phép chính tả
“Portuguese” này hiện vẫn được dùng trong tiếng Việt, chẳng hạn như, “nhà” [house], “quạnh” [be solitary,
deserted], “lành-lạnh” [be abit cold], “mình” [oneself], “nhẹ” [be light, in weight], “nhè-nhẹ” [be rather lightin
weight], “nhỏ” [be small], “nhưng” [but, however] (xem, ví dụ: Michaud, Ferlus,Nguyễn 2015; Haudricourt
2010; Thompson 1987)
Rhodes học một số ngôn ngữ và ông đương nhiên nói rất giỏi tiếng Bồ Đào Nha, ngôn ngữ thông dụng
của các nhà truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha cùng với tiếng Latin Tuy nhiên, ông chỉ viết
bằng tiếng Latin và tiếng Pháp (xem Rhodes1653) Như vậy, Gaspar do Amaral và António Barbosa rõ
ràng là những người đã đưa tổ hợp <nh> (chứ không phải kết hợp<gn> của tiếng Pháp hay tiếng Italia) để
ghi âm vị /ɲ/ tiếng Việt
Miêu tả các thanh điệu
Ảnh hưởng của Pina đối với Rhodes không chỉ ở việc sử dụng hệ thống Latin hóa mà cả ở việc miêu tả hệ
thống thanh điệu Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Pina và Rhodes đã không phân biệt giữa tiếng/phương
ngữ Đàng Ngoài (Tonkinese) ở bắc Cochinchina và Annamese ở nam Cochinchina[10] Đối với cả hai tác
giả, ngôn ngữ là mutatis mutandis như nhau, mặc dùDictionarium của Rhodes có thể được coi là một sự
hòa lẫn các phương ngữ của tiếng Việt (xem, ví dụ, Maspero 1912) Michel Ferlus cho rằng từ điển của
Rhodes dựa trên phương ngữ miền Trung Việt Nam: “Le Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum
du Père Alexandre de Rhodes (1651), rédigé dans la romanisation qui deviendra le quốcngữ (…) semble
élaboré à partir d’un parler du centre” (Ferlus 1982, tr 85)
Nhưng, Maspero cho rằngDictionarium của Rhodes vàBrevis Declaratio liên quan đến phương ngữ miền
Bắc “serapportent au dialecte tonkinois” (Maspero 1912, tr 9, chú thích 1) Trên thực tế, Francisco de Pina
và Alexandre de Rhodes giải thích rằng ngôn ngữ này và các thanh điệu của nó có thể được miêu tả với
các đặc điểm như các ngôn ngữ châu Âu, nghĩa là bằng các chữ cái Latin Manuductio của Pinas nói rằng
Trang 731/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/12744-nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-ta… 7/14
ông cần bắt đầu bằng việc giải thích bảng chữ cái Latin, theo truyền thống, song theo ông, việc học các
thanh điệu (hay “accents”, theo thuật ngữ ông dùng) là quan trọng hơn rất nhiều:
Mos est alias in tradendis, discendisque linguis ab alphabeto seu litteris initium ducendi, quem
utique morem tenuissem, nisi accentuum notitia ad meliorem litterarum intelligentia hac in lingua
praeprimis esset necessaria (Pina ca.1745a [ante 1623], f 313r)
[Truyền thống phổ biến trong việc dạy và học tiếng là bắt đầu với bảng chữ cái hay các con chữ Rõ
ràng tôi cần theo truyền thống đó nếu kiến thức về thanh điệu (accents) không phải là cái cần thiết
nhất để hiểu biết tốt hơn về chữ viết trong ngôn ngữ này.]
Duo tamen praecipue sunt in hoc idiomate notanda, e quibus tanquamfundamentis tota ratio bene
addiscendae huius linguae pendet, ita ut sine illis anostratibus haec lingua vix teneri possit; si uti
enim homo constat ex corpore etanima, sic etiam hoc idioma constat ex characteribus quibus a
nobis conscribitur,et ex tonis seu accentibus quibus notatur et pronunciatur: quibus duobus
priusexplicatis et positis tanquam fundamentis, de partibus Orationis, et praeceptis inipsa oratione
seruandis agendum postea (de Rhodes 1651b, tr 1)
[Thay vào đó,về mặt nguyên tắc, hai [vấn đề cơ bản] cần được chú ý trong ngôn ngữ này, theo cơ
sở của việc học ngôn ngữ này là dựa vào đó, vì nếu thiếu chúng, chúng ta khó có thể hiểu được
ngôn ngữ này; quả thực như con người được làm từ thể xác và linh hồn, ngôn ngữ này cũng được
tạo thành bởi các đặc trưng được chúng tôi miêu tả và bằng các thanh điệu và giọng nhờ chúng nó
được phát âm Hai cơ sở được giải thích trước đây, các phần của lời nói và các châm ngôn liên
quan đến mỗi phát ngôn sẽ được nhận xét sau.]
Mặt khác, cả hai miêu tả sáu thanh điệu (“de accentibus”) của tiếng Đàng Ngoài[11] giống nhau Nguyễn
và Edmondson, không biết công trình của Pina, đã viết rằng […] nhà ngữ âm tiếng Việt đầu tiên để lại tư
liệu, Alexandre de Rhodes(1651) […] miêu tả chúng bằng các thuật ngữ impressionisticnhư sau:
“acuteangry”(sắc), “smooth-rising” (hỏi), “level” (ngang), “chesty-raised” (ngã), “chesty-heavy” (nặng),
“grave-lowering” (huyền) […] Ba thế kỷ rưỡi sau những đặc trưng này vẫn giữ nguyên tính hợp lý và sáng
suốt.(Nguyễn & Edmondson 1998, p 2)
Đôi khi Rhodes dùng những từ giống như Pina, và thỉnh thoảng họ thêm những chi tiết khác nhau Trong
lời giới thiệu, Rhodes so sánh thanh điệu với trọng âm tiếng Hy Lạp (acute, grave and circumflex) và cả
dấu phụ dưới của i từ tiếng Hy Lạp cổ Pina ngắn gọn hơn, đưa ra những chi tiết này bằng cách miêu tả
từng thanh điệu riêng:
Accentus hac in lingua seu tonorum mutationes sunt sex, ex quibus solismultoties significationum
diuersitas sumi debet; unde patet huiusmodi tonos exarte callendi necessitas [esse] (Pina ca 1745a
[ante 1623], f 313r)
[Trong ngôn ngữ này có sáu giọng hay sự thay đổi thanh điệu, mà nó thường phụ thuộc tính đa
dạng của sự quan trọng Vì vậy, điều rõ ràng là nó cần thiết để học cách phát âm chính xác các
thanh điệu.]
Diximus accentus esse quasi animam uocabulorum in hoc idiomate, atque ideosumma diligentia
sunt addiscendi Vtimur ergo triplici accentu linguae Graecae,acuto, graui, et circunflexo, qui quia
non sufficiunt, addimus iota subscriptum,et signum nterrogationis nostrae; nam toni omnes huius
linguae ad sex classesreducuntur, ita ut omnes prorsus dictiones huius idiomatis ad aliquam ex his
sexclassibus seu tonis pertineant, nulla uoce prorsus excepta (de Rhodes 1651b, p 8);
[Chúng tôi nói rằng các giọng dường như là hồn cốt của từ trong ngôn ngữ này, và vì vậy, cần hết
sức chú ý tới chúng Bởi thế, chúng tôi dùng dấu của tiếng Hy Lạp, sắc (acute), huyền (grave) và
dấu mũ (circumflex) cho chúng, bởi vì chúng không thích hợp, chúng tôi thêm dấu phụ vào i và một
dấu hỏi; Tuy nhiên, tất cả các thanh điệu của ngôn ngữ này được quy về sáu lớp, như vậy tất cả các
từ của ngôn ngữ này thuộc về một của sáu lớp hay thanh điệu này, và trên thực tế không có từ nào
ngoại lệ.]
Hơn nữa, cả hai giải thích mỗi thanh một cách riêng biệt Francisco de Pina thêm vào khuông nhạc cho
mỗi thanh trong khóa G (nốt Son), với nửa (minim) và một phần tư (crotchet) nốt Giải thích của Pina rõ
ràng hơn của Rhodes Quả thực thanh điệu thứ nhất là thanh trung bình, không có sự thay đổi giọng, và
cả hai tác giả đều bắt đầu với một câu giống nhau:
Primus tonus esta aequalis, et sine ulla vocis inflexione pronuntiatur, habeturquetum, quando vox
aliqua nullo ex quinque signis ̀, ́, ̃, ʅ, ’, ͅ : hoc ultimumvocalibus tantum subscribitur ut apud Graecos
jota subscritum, ͅ notatur Suntquidem et alia signa, sed quia non ad vocis inflexionem, verum ad
literarumcertam pronunciationem dignoscendam adiiciuntur […]
Trang 831/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313r).
[Thanh điệu đầu tiên bằng phẳng và được phát âm không thay đổi giọng vì nó mặc nhiên (implied)
khi không có cái nào trong năm dấu được dùng ̀, ́, ̃, ʅ, ’, ͅ Dấu cuối cùng được để phía dưới từ bằng
dấu phụ của chữ i Hy Lạp Cũng có những dấu phụ khác không ảnh hưởng đến sự thay đổi của
giọng nói, song chúng được dùng để phân biệt sự phát âm khác nhau của các chữ mà chúng được
gắn vào…]
Primus igitur tonus est aequalis, qui sine ulla vocis inflexione pronunciatur, utba, tres: quod ita verum
est, ut etiam si quis aliquem interroget per vocem,chang, quae est aequalis, ut có chang, est ne;
nullo modo debeat inflecterevocem interrogando, quia vox interrogativa, chang, nullo notatur
accentu, quodsi inflecteretur vocis tonus, tunc esset alia significatio: voces itaque quae
huncaequalem habent tonum, nullo notantur accentu; et hoc est sufficiens illarumdistinctivum
signum, cum omnes aliae suum accentum habeant (de Rhodes1651b, tr 8)
[Vì vậy, thanh đầu tiên là thanh bằng Nó được phát âm với giọng không thay đổi Ví dụ:ba, “three”;
điều này rất đúng nếu một ai hỏi ai đó khác điều gì dùng từ chăng, cũng bằng, kiểu nhưcó chăng, “it
isnot”, khi hỏi không được uốn giọngbởi vì từ để hỏichăng khôngmang thanh điệu Nếu thanh điệu
của giọng có ảnh hưởng, nó sẽ có nghĩa khác; như vậy, các từ có thanh điệu giống nhau không có
sự phân biệt giọng, và điều này là một dấu hiệu đủ để phân biệt với các từ khác có thanh (accents)
khác.]
Trong miêu tả về các thanh khác, văn bản của Rhodes gần giống như của Pina và cả hai luôn luôn dùng ví
dụ bằng một từ (một âm tiết), “ba”, từ có các nghĩa khác nhau với các thanh cụ thể Mặt khác, cả hai tìm
thấy một sự tương tự trong các dấugiọng của tiếng Bồ Đào Nha (tiếng Hy Lạp, trongvăn bản của
Rhodess) là (sắc, huyềnvàdấu mũ) để giải thích các thanh thứ hai, thứ ba và thứ tư:
Secundus est acutus: hic profertur voce acuta et quasi iram demonstrante, ut ineadem voce Bá:
concubina Regis vel Principis viri
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313v).
[Thanh thứ hai, được phát âm với một giọng cao và với sự biểu lộ một âm thanh giống như sự giận
dữ, như trong từ Bá: “thiếp của vua, chúa”, hay “thiếp của các thủ lĩnh.” (Trong bản tiếng Anh, các
tác giả dịch: “the Prince’s sons” có lẽ không chính xác-VXQ.]
Secundus tonus est acutus, qui profertur acuendo vocem, et proferendodictionem, ac si quis iram
emonstraret, ut bá concubina Regis, vel principisalicuius viri (de Rhodes 1651b, p 8);
[Thanh thứ hai là giọng sắc, được phát âm bằng một giọng cao và phát âm từ như khi ai đó bày tỏ
sự giận dữ, như trong bá, “thiếp của vua, chúa”, hay “thiếp của các thủ lĩnh” (Trong bản tiếng Anh,
các tác giả dịch: “the Prince’s sons” có lẽ không chính xác-VXQ)]
Tertius est gravis, et profertur deprimendo vocem; ut iterum in voce Bà: aviaaut Domina usuvenit.
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313v).
[Thanh thứ ba trầm, và nó được phát âm với việc hạ thấp giọng, như thường được dùng lại với từ
bà, grandmother” hay “lady”.]
Tertius est gravis, et profertur deprimendo vocem, ut bà, avia, vel Domina (de Rhodes 1651b, tr 8);
Trang 931/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/12744-nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-ta… 9/14
[Thanh thứ ba trầm, và nó được phát âm với việc hạ thấp giọng, như trong bà, “grandmother” hay
“lady”.]
Quartus est circumflexus, qui exprimitur inflectendo vocem ex imo pectore prolatam et postea
sonore elevatam: ut fit in voce βã[12]: colaphus
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313v).
[Thanh thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng sự thay đổi giọng phát âm từ độ sâu của lồng
ngực sau đó nâng cao giọng, như được nói trong âm vã, “slap”.]
Quartus est circumflexus, qui exprimitur inflectendo vocem ex imo pectoreprolatam, et postea
sonore elevatam, ut βã, colaphus, vel colaphizare (deRhodes 1651b: 8);
[Thanh thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng sự thay đổi giọng phát âm từ độ sâu của lồng
ngực sau đó nâng cao giọng, như được nói trong âm vã, “slap”.]
Thanh thứ năm thấp hơn và đi xuống, được ghi bằng một dấu phụ phía dưới của chữ cái i Hy Lạp:
Quintus vocatur ponderosus seu onerosus, quia cum quodam pondere, seu onere ex imo pectore
prolata voce exprimitur: ut in voce Bą: res derelicta
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313v).
[Thanh thứ năm được gọi là nặng nề “ponderous” hay khó nhọc “onerous” bởi vì nó được phát âm
bằng giọng phát ra từ sâu trong lồng ngực và tạo ra một lực nhất định, như trong từ Bą, “thứ vô
thừa nhận” (without owner).]
Quintus vocatur ponderosus seu onerosus quia cum quodam pondere seu onere ex imo pectore
prolata voce exprimitur, et notatur cum iota subscripto ut bạ res derelicta (de Rhodes 1651b, p 8)
[Thanh thứ năm được gọi là nặng nề “ponderous” hay khó nhọc “onerous” bởi vì nó được phát âm
bằng giọng phát ra từ sâu trong lồng ngực và tạo ra một lực nhất định, và nó được ghi với một dấu
phụ dưới chữ chữ cái i Hy Lạp, như trongbạ, “thứ vô thừa nhận”.]
Thanh cuối cùng là một thanh điệu mềm, song với một giọng nghi vấn, như thể ai đó hỏi người khác điều
gì đó:
Sextus denique dicitur lenis, quia leniter profertur, et per modum interrogantisv.g itáne? Ut in voce
Bả: sericum quoddam coloris lutei seu crocei
(Pina ca 1745a [ante 1623], f 313v-314r).
Trang 1031/03/2021 Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiế…
[Cuối cùng, thanh thứ sáu được gọi khoan thai “lenient” vì nó được phát âm một cách mềm mại và
với thức nghi vấn, kiểu như itáne?, trong từ bả, “một thứ lụa vàng hay vàng nghệ của người
Tonkin”.]
Sextus denique dicitur lenis, quia cum leni quadam vocis inflexione profertur,sicuti cum interrogare
solemus, itane? et similia; et idcirco signo illointerrogativo pro accentu notatur ut, bả, quoddam
sericum apud Tunchinensescoloris lutei vel crocei (de Rhodes 1651b, p 9);
[Cuối cùng, thanh thứ sáu được gọi khoan thai “lenient” bởi vì nó được phát âm với một tuyến điệu
mượt mà của giọng nói, như khi chúng ta thường hỏi, itáne?,và giống như các câu hỏi; vì vậy nó
được ghi bằng một dấu hỏi, như trong từ bả, “một thứ lụa vàng hay vàng nghệ của người Tonkin”.]
Như chúng ta thấy, Francisco de Pina biểu thị mỗi thanh điệu trên một khuôn nhạc, còn Rhodes không làm
thế Song ông so sánh các thanh tiếng Việt với sáu nốt nhạc của thang âm nguyên C–D–E–F–G–A (“dò”,
“rẹ”, “mĩ”, “pha”, “sổ”, “lá”), mặc dù ông không rõ như Pina:
Hos autem sex accentus ad nostrae musicae tonos sic accommodare possumus utaliquam cum
illa, uideantur habere proportionem per has uoces ut, dò, pedica: re,radix, in pronunciatione
cuiusdam Prouinciae; mĩ, nomen cuiusdam familiae;fa, uel pha, miscere; sổ, cathalogus; lá, folium;
ita ut ex his uocibus etiam inlingua Tunchinica significatiuis, per sex tonos linguae Tunchinensis,
dò, rẹ, mĩ,pha, sổ, lá, possimus referre aliquo modo sex tonos nostrae musicae, non tamenita
exacte, quin magna intersit differentia; quare nullus istos tonos addiscerepoterit, nisi ab aliquo qui
linguam bene calleat, illos per se ipsum audieritsaepius, ut illis assuescat: Quinque igitur sunt
accentuum notae quia tonusequalis non indiget nota […] (de Rhodes 1651b, p 19)
[Tuy nhiên, nhờ thế chúng ta có thể sắp xếp sáu giọng này với các âm nhạc của chúng ta, vì
chúng dường như có một số sự tương xứng về mặt âm thanh của chúng Các ví dụ” dò, “trap”; rễ,
“root” trong phát âm của một số địa phương;mĩ, tên của một họ cụ thể; fa or pha, “to mix”; sổ,
“catalogue”; lá, “leaf”; như vậy, khi các âm này cũng có nghĩa trong tiếng Đàng Ngoài, dùng sáu
thanh của tiếng Đàng Ngoài, dò, rễ, mĩ, pha, sổ, lá, chúng ta có thể nói đến, ở một số mức độ, đến
sáu âm của âm nhạc chúng ta, mặc dù không chính xác, cái tạo ra một sự khác biệt lớn; bởi vì
không ai có thể học được các thanh này, trừ người rất thông thạo ngôn ngữ này và nghe chúng
thường xuyên hơn và đã trở nên quen thuộc với chúng; vì vậy có năm nốt nhạc bởi vì có một
thanh bằng không cần nốt …]
KẾT LUẬN
Những ghi chép đầu tiên về Việt Nam từ bối cảnh châu Âu vào thế kỷ thứ 16 thuộc về nhà ngữ pháp và du
kí João de Barros (1496-1570) năm 1563 vàgiáo sĩ dòng Đa MinhGaspar da Cruz (khoảng 1520–1570)
năm 1570 Tuy nhiên, ghi chép ngôn ngữ học đầu tiên thuộc về nhóm mà Roland Jacques gọi là Các giáo
sĩ Đạo chúa Jesus tiên khởi, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Francisco de Pina, S.J.(1585 /
1586-1625), Gaspar do Amaral, S.J (1594–1646) và António Barbosa,S.J (1594–1647) vàgiáo sĩ người Pháp,
Alexandre de Rhodes, S.J (1593–1660)
Hiện nay đã xác minh được rằng Francisco de Pina là người đầu tiên miêu tả tiếng Annam hay tiếng
Tonkin bằng các kí tự Latin hay dùng hệ thống Latin hóa (ngày nay người Việt Nam gọi là Quốc ngữ, ngôn
ngữ dân tộc) từ ảnh hưởng của giáo sĩ Bồ Đào Nha, João Rodrigues “Tçuzu”, S.J (1562–1633) Gaspar
doAmaral, António Barbosa và Alexandre de Rhodes đã phát triển và nâng cao phương pháp Rhodes
cũng dùng hai văn bản của từ điển do Amaral và Barbosa biên soạn và để lại dấu ấn riêng của chính tả Bồ
Đào Nha (cả chính tả tiếng Việt hiện nay): tổ hợp con chữ<nh>ghi âm vị mũi mặt lưỡi-ngạc /ɲ/
Mặt khác, Francisco de Pina cũng là một nguồn quan trọng trong miêu tả về các thanh tiếng Tonkin của
Rhodes Về điểm cụ thể này, sự tương tự giữa văn bản Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis
Declaratio(Rome 1651) của Rhodes’svàManuductio ad linguam Tunchinensem (ante 1623) Pina là rất
ấntượng Chúng bổ sung cho nhau, nhưng văn bản của Pina rõ ràng hơn, bởi vì ông giải thích mỗi thanh
với sự trợ giúp của khung nhạc, trong khóa G (nốt Son), với nửa (minim) và một phần tư (crotchet) nốt Cả
hai giải thích sáu thanh của tiếng Tonkin sử dụng các kí tự giống nhau như các ngôn ngữ châu Âu và họ
miêu tả chúng với các từ giống nhau
Tóm lại, đối với Pina và Rhodes, sáu thanh tiếng Tonkin có thể miêu tả như sau: Thanh thứ nhất là một
thanh trung bình, không có sự thay đổi tuyến điệu (thanh ngang);thanh thứ hai là một thanh “sắc - giận
dữ”, phát âm với giọng cao, thể hiện một giọng giống như giận dữ (thanh sắc); thanh thứ ba là một thanh
bằng, phát âm bằng cách hạ thấp giọng (thanh huyền); thanh thứ tư là một thanh thở-lên cao, thay đổi
giọng phát âm từ sâu trong ngực rồi nâng cao một cách dứt khoát (thanh ngã); thanh thứ năm là một
thanh chesty-heavy, phát âm bằng cách phát âm ra từ sâu trong ngực và tạo ra một lực nhất định (thanh
nặng); và, cuối cùng, thanh thứ sáu là một thanh hỏi, phát âm với một sự thay đổi giọng một cách mềm
mại, giống như trong một câu hỏi, như ai đó hỏi điều gì (thanh hỏi)
Cuối cùng, trích dẫn của Nguyễn và Edmondson (1998, tr 2) phải được sửa đổi, thêm tên Pina vào tên
của Rhodes: Những đặc trưng này của các nhà ngữ âm học đầu tiên về tiếng Việt, Francisco de Pina và
Alexandre de Rhodes, “ba thế kỷ rưỡi sau […] vẫn còn giữ nguyên tính hợp lý và sáng suốt”