Mục đích của Công ước nhằm định ra những đảm bảo để việc nuôi con nuôi giữa các nước là vì lợi ích tốt nhất của đứa trẻ và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được luật pháp quốc tế cô
Trang 1tạp chí luật học - 55
Công ước la hay 1993 về bảo vệ trẻ em
và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
nuôi con nuôi
ThS Nguyễn Hồng Bắc *
ội nghị La Hay về tư pháp quốc tế
bao gồm 37 nước tham gia, hoạt
động với mục đích "thống nhất hóa
tiến bộ những quy phạm của tư pháp
quốc tế" Tại kì họp lần thứ XXII Hội
nghị La Hay (từ 10-29/5/1993), các đại
biểu của 66 nước, trong đó có Việt Nam
(Việt Nam tham gia với tư cách khách
mời của nước chủ nhà Hà Lan) đB nhất trí
thông qua và kí văn kiện cuối cùng về nội
dung Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em
và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con
nuôi Công ước này có hiệu lực từ ngày
01/5/1995
Mục đích của Công ước nhằm định ra
những đảm bảo để việc nuôi con nuôi
giữa các nước là vì lợi ích tốt nhất của
đứa trẻ và tôn trọng các quyền cơ bản của
trẻ em được luật pháp quốc tế công nhận;
thiết lập hệ thống hợp tác giữa các nước
kí kết để những đảm bảo trên được tôn
trọng và ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn
bán trẻ em, đảm bảo sự công nhận tại các
nước kí kết việc nuôi con nuôi được thể
hiện phù hợp với Công ước (Điều 1)
Với mục đích đó, Công ước đB ghi
nhận những nội dung cơ bản sau đây:
1 Điều kiện đối với việc giao nhận
con nuôi giữa các nước
a Điều kiện về phía nước gốc
Công ước quy định nhà chức trách có
thẩm quyền của nước gốc (là nơi thường
trú của đứa trẻ) có trách nhiệm đảm bảo
thực hiện những điều kiện sau:
- Theo pháp luật nước gốc, đứa trẻ có thể được làm con nuôi;
- Việc cho đứa trẻ làm con nuôi là phương cách tốt nhất đáp ứng lợi ích của
đứa trẻ;
- Phải có sự đồng ý của cá nhân, tổ chức cho nhận con nuôi và đảm bảo họ đB
được tham khảo và thông tin một cách
đầy đủ về hậu quả phát sinh từ việc nuôi con nuôi;
- Có sự đồng ý của mẹ đứa trẻ sau khi
đứa trẻ được sinh ra;
- Nếu cần có sự đồng ý của đứa trẻ thì
đứa trẻ phải được tham khảo và thông tin
đầy đủ những hậu quả phát sinh từ việc làm con nuôi Sự đồng ý của đứa trẻ phải
là tự nguyện
b Điều kiện về phía nước nhận Nhà chức trách trung ương của nước nhận có trách nhiệm:
- Xác nhận cha, mẹ nuôi hoặc người nuôi tương lai có đủ tiêu chuẩn nuôi con nuôi;
- Xác nhận đứa trẻ được hoặc sẽ được phép nhập cảnh và thường trú tại nước này
2 Thủ tục đối với việc giao nhận con nuôi giữa các nước
Thủ tục này bao gồm 3 giai đoạn:
a Giai đoạn lập và gửi hồ sơ về cha
mẹ nuôi Cha mẹ nuôi tương lai phải liên hệ với
H
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 256 - tạp chí luật học
nhà chức trách trung ương của nước nhận
Nếu nhà chức trách này thấy người xin
con nuôi đáp ứng những điều kiện quy
định tại chương II và thích hợp để nuôi
con nuôi thì sẽ lập hồ sơ đầy đủ các chi
tiết về tình trạng nhân thân, gia đình, sức
khỏe, tư cách pháp lí, khả năng nuôi con
nuôi, địa vị xB hội, lí do xin con nuôi và
đặc điểm của đứa trẻ mà người đó thấy
thích hợp để nhận nuôi Hồ sơ này được
gửi đến nhà chức trách trung ương của
nước gốc
b Giai đoạn lập và gửi hồ sơ về đứa
trẻ nuôi
Nhà chức trách trung ương của nước
gốc, sau khi đB xác nhận đứa trẻ có thể
được cho làm con nuôi sẽ làm bản báo
cáo bao gồm những thông tin về tung
tích, địa vị xB hội, lí lịch gia đình, sức
khỏe, nguồn gốc chủng tộc, tôn giáo, văn
hóa Xác nhận việc giao đứa trẻ là cách
tốt nhất đáp ứng lợi ích của đứa trẻ Sau
đó báo cáo này được gửi tới nhà chức
trách trung ương của nước nhận
c Giai đoạn đưa đứa trẻ từ nước gốc
đến nước nhận
Đây là giai đoạn chuyển giao đứa trẻ
cho cha mẹ nuôi
Việc đưa đứa trẻ từ nước gốc đến
nước nhận chỉ được thực hiện khi nhà
chức trách trung ương của hai nước đáp
ứng những điều kiện sau:
- Đảm bảo có sự đồng ý của cha mẹ
nuôi tương lai;
- Nhà chức trách trung ương của nước
nhận đB chấp thuận quyết định này nếu
luật của nước nhận hoặc nhà chức trách
trung ương của nước gốc đòi hỏi điều đó;
- Nhà chức trách trung ương của cả
hai nước đB đồng ý cho tiến hành thủ tục
nuôi con nuôi;
- Đứa trẻ được phép thường trú và
nhập cảnh nước tiếp nhận
3 Cơ chế hợp tác giữa nước gốc và nước nhận
Khoản 1 Điều 6 Công ước quy định mỗi nước kí kết phải chỉ định một nhà chức trách trung ương Các nhà chức trách trung ương này ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ được Công ước quy định còn có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện Công ước Chức năng của nhà chức trách trung ương được quy
định trong chương III của Công ước như sau:
- Thu thập, bảo quản và trao đổi những thông tin liên quan đến tình trạng
đứa trẻ và cha mẹ nuôi tương lai;
- Tạo điều kiện thuận lợi, theo dõi, thúc đẩy thủ tục nuôi con nuôi và việc phát triển ở nước mình các dịch vụ tư vấn
đối với việc nuôi con nuôi;
- Trao đổi các báo cáo tổng kết đánh giá kinh nghiệm trong lĩnh vực giao nhận con nuôi giữa các nước;
- Trong phạm vi cho phép của pháp luật nước mình, trả lời những đề nghị có tính chất thông tin và có lí do chính đáng của nhà chức trách trung ương hoặc của cơ quan nhà nước của nước thành viên khác của Công ước về trường hợp giao nhận con nuôi cụ thể
4 Công nhận và hậu quả pháp lí của việc giao nhận con nuôi giữa các nước
Theo Điều 23 Công ước, khi việc nuôi con nuôi được nhà chức trách có thẩm quyền của nước kí kết nơi thực hiện việc nuôi con nuôi xác nhận là phù hợp với Công ước thì đương nhiên được công nhận có giá trị pháp lí tại các nước kí kết khác
Nước kí kết công ước chỉ có thể từ chối việc công nhận khi việc giao nhận
Trang 3tạp chí luật học - 57
con nuôi đó trái ngược một cách rõ ràng
với trật tự công cộng của nước đó, có tính
đến lợi ích tốt nhất của đứa trẻ (Điều 24)
Những hậu quả pháp lí nảy sinh từ
việc công nhận việc giao nhận con nuôi
được ghi nhận tại Điều 26 của Công ước
như sau:
- Việc giao nhận con nuôi sẽ tạo ra
mối liên hệ cha mẹ và con cái giữa đứa
trẻ và cha mẹ nuôi;
- Việc giao nhận con nuôi sẽ dẫn đến
trách nhiệm pháp lí của cha mẹ nuôi đối
với đứa trẻ;
- Việc giao nhận con nuôi sẽ chấm
dứt quan hệ cha mẹ và con cái giữa đứa
trẻ và cha mẹ đẻ
Khoản 2 Điều 26 Công ước quy định
nếu việc giao nhận con nuôi dẫn đến việc
cắt đứt quan hệ giữa đứa trẻ và cha mẹ đẻ
thì đứa trẻ sẽ được hưởng tại nước nhận
và tại nước kí kết khác quyền lợi tương tự
như những quyền lợi phát sinh từ việc cho
nhận con nuôi tại những nước này mà có
dẫn đến hậu quả như vậy
ở Việt Nam hiện nay, số lượng trẻ em
Việt Nam được người nước ngoài nhận
làm con nuôi ngày càng nhiều, vấn đề
này đB gây sự quan tâm, chú ý của của dư
luận trong và ngoài nước Để giải quyết
vấn đề này, trong thời gian qua Nhà nước
ta đB ban hành nhiều văn bản pháp luật có
liên quan nhằm điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài Đáng chú
ý nhất là Pháp lệnh hôn nhân và gia đình
giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được ủy ban thường vụ Quốc hội
thông qua ngày 02/12/1993 (có hiệu lực
từ ngày 01/3/1994), trong đó việc nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài được điều
chỉnh chủ yếu dựa theo mục 2 chương III
của Pháp lệnh
Tiếp theo, ngày 30/11/1994, Chính
phủ ban hành Nghị định số 184/CP quy
định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Sau khi Chính phủ ban hành nghị định này, ngày 25/5/1995 Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao, Bộ nội vụ (nay là Bộ công an)
đB ra Thông tư số 503/TT-LB hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định số 184/CP nói trên Thông tư số 503/TT-LB là cơ sở pháp lí quan trọng trong quá trình thực hiện đăng kí việc nuôi con nuôi và công nhận việc nuôi con nuôi đB được đăng kí
ở nước ngoài Bộ tư pháp đB ra Thông tư
số 337/TT-PLQT ngày 23/8/1995 hướng dẫn thi hành một số quy định của Thông tư số 503/TT-LB
Tuy nhiên, các văn bản pháp luật nói trên còn chưa bao quát và điều chỉnh hết
được các vấn đề có liên quan đến việc giao nhận con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Vì vậy, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cho, nhận con nuôi giữa các nước Đến nay, nước ta đB kí kết một số điều ước quốc tế song phương với các nước, điển hình là các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí với Tiệp Khắc (cũ) năm 1982; Cu Ba năm 1984; Hunggari năm 1985; Bungari năm 1986;
Ba Lan năm 1993; Lào năm 1998; Liên bang Nga năm 1998; Trung Quốc năm
1998 và Cộng hòa Pháp năm 1998
Sự ra đời của các hiệp định này đB
đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tiến trình hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước trong lĩnh vực tư pháp quốc tế Trong các hiệp định này, do các nước có những nét riêng về phong tục, tập quán nên Nhà nước ta và các nước không
đi theo cách pháp điển hóa các quy phạm thực chất mà thỏa thuận đưa ra các quy phạm xung đột riêng lẻ về từng lĩnh vực
Trang 458 - tạp chí luật học
để phục vụ cho sự hợp tác và tương trợ
Nhìn chung, vấn đề nuôi con nuôi được
giải quyết theo 3 cách sau:
- Nhận hoặc hủy bỏ việc nuôi con
nuôi áp dụng pháp luật của nước kí kết
mà người nhận nuôi hay hủy bỏ việc nuôi
con nuôi là công dân (khoản 1 Điều 30
Hiệp định Việt Nam - Nga; khoản 1 Điều
30 Hiệp định Việt Nam - Ba Lan; Điều 28
Hiệp định Việt Nam - Cu Ba ) Riêng
Hiệp định Việt Nam - Lào quy định khác:
"Việc nhận con nuôi phải tuân theo pháp
luật của nước kí kết mà trẻ em đó là công
dân" Ngoài ra, Hiệp định Việt Nam -
Liên bang Nga còn quy định thêm: "Nếu
người nuôi là công dân của bên kí kết này
nhưng thường trú trên l:nh thổ của bên kí
kết kia thì áp dụng pháp luật của bên kí
kết nơi người ấy thường trú" (khoản 1
Điều 31);
- Trường hợp vợ, chồng cùng nhận
một đứa trẻ làm con nuôi mà có quốc tịch
của hai nước kí kết khác nhau thì vấn đề
nuôi con nuôi được giải quyết, theo pháp
luật của cả hai nước (khoản 3 Điều 30
Hiệp định Việt Nam - Liên bang Nga;
khoản 3 Điều 30 Hiệp định Việt Nam -
Ba Lan; khoản 3 Điều 28 Hiệp định Việt
Nam - Cu Ba );
- Nếu pháp luật của nước kí kết mà
đứa trẻ là công dân quy định việc nhận
nuôi hoặc xin hủy bỏ việc nuôi con nuôi
phải được người đại diện hợp pháp của
đứa trẻ và của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cũng như bản thân đứa trẻ thì phải
đáp ứng yêu cầu đó (khoản 2 Điều 31
Hiệp định Việt Nam - Lào; khoản 3 Điều
30 Hiệp định Việt Nam - Ba Lan; khoản 2
Điều 28 Hiệp định Việt Nam - Cu Ba )
Như vậy, các hiệp định này đB xây
dựng các quy phạm xung đột để chọn luật
giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài Nhưng đây mới chỉ là những hiệp định song phương có phạm vi áp dụng hẹp, điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữa nước ta và nước kí kết có liên quan, trong khi thực tế của việc nuôi con nuôi lại diễn ra hết sức đa dạng vượt khỏi
sự điều chỉnh này, bởi trẻ em Việt Nam chủ yếu làm con nuôi của công dân các nước mà nước ta chưa kí hiệp định Như vậy, để giải quyết tốt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Việt Nam cần tham gia vào những công ước có tính chất toàn cầu điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi giữa các nước
Trong tình hình hiện nay, Việt Nam
có rất nhiều thuận lợi khi tham gia Công
ước La Hay 1993, bởi Việt Nam là một trong các nước kí kết Công ước có thể chuyển hóa các quy định của Công ước
để áp dụng ở Việt Nam qua quá trình phê chuẩn
Do vậy, Việt Nam nên và sớm tham gia Công ước La Hay 1993, bởi vì:
- So với các nước trong khu vực thì Việt Nam là nước có nhiều trẻ em làm con nuôi người nước ngoài;
- Việc tham gia Công ước sẽ giúp Việt Nam bổ sung và hoàn chỉnh những văn bản pháp lí của mình trong lĩnh vực này;
- Việc tham gia Công ước có ý nghĩa quốc tế lớn, đánh dấu việc Việt Nam tham gia vào quá trình thống nhất hóa các quy phạm tư pháp quốc tế;
- Việc tham gia Công ước là dịp tốt để Việt Nam hòa nhập vào cộng đồng quốc
tế trong lĩnh vực tư pháp quốc tế - lĩnh vực còn mới mẻ nhưng ngày càng trở nên quan trọng đối với nước ta trong thời kì
mở cửa hiện nay./