Để đảm bảo quyền lợi của người được dé nghị giao kết hợp đồng, Điều 396 BLDS quy định: “Khi một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn
Trang 1In TRAO ĐỔI
ĐỂ NGHỊ VÀ CHẤP NHẬN Để NGHỊ
GIAO KET HỢP ĐỒNG
Tr Điều 394 Bộ luật dân sự (BLDS),
hợp đồng dân sự là "sự £hỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân
sự” Bản chất của hợp đồng bao giờ cũng
là sự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận
- thì không có hợp đồng Nhưng chỉ được
coi là hợp đồng dân sự khi các bên tham
gia nhằm làm phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Mỗi
chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng
đều có những mục đích, động cơ nhất
định Vì vậy, khi giao kết hợp đồng, các
chủ thể có thể tự đo bày tỏ ý chí của
mình, thỏa thuận để đi đến thống nhất
thành ý chí chung và nếu ý chí chung đó
phù hợp với quy định của pháp luật thì
hợp đồng được coi là có hiệu lực pháp
luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các bên
Giao kết hợp đồng là giai đoạn quyết
định việc có tiến tới xác lập hợp đồng hay
không và liên quan tới thời điểm có hiệu
lực của hợp đồng (thời điểm các bên giao
kết hợp đồng)
Giao kết hợp đồng là quá trình trong
đó các bên bày tỏ ý chí với nhau, trao đổi
ý kiến, có những nhượng bộ, đặt ra các
điều kiện để đi đến thỏa thuận thống nhất
về những điều khoản của hợp đồng Quá
trình giao kết hợp đồng phải có day du
các yếu tố sau:
- Ý chí muốn xác lập hợp đồng của
môi bên được biểu hiện ra bên ngoài;
- Có sự thống nhất ý chí của các bên
Quá trình này được tiến hành qua hai
HẢI YẾN * giai đoạn: Đề nghị và chấp nhận đề nghị
glao kết hợp đồng
1 Đề nghị giao kết hợp đồng Theo cách hiểu thông thường, đề nghị
là “đưa ra ý kiến về một việc nên làm nào
đó để thảo luận, để xét" hoặc "yêu cầu và
mong được chấp nhận" Trong giao dịch dân sự, để nghị giao kết hợp đồng
được hiểu là "việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác về việc muốn -
giao kết hợp đồng với người đó"®)
Để đảm bảo quyền lợi của người được
dé nghị giao kết hợp đồng, Điều 396
BLDS quy định: “Khi một bên đề nghị
bên kia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn
trả lời thì không được mời người thứ ba
giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của minh” Nhu vậy, theo Điều 396 BLDS,
"để nghị” tuy chưa phải là hợp đồng
nhưng đã có tính ràng buộc đối với người
đề nghị Vấn để là phải xác định những
"đề nghị" nào được coi là cơ sở để hình thành hợp đồng hay nói cách khác, những
"đề nghị" nào chịu sự ràng buộc của Điều
396 BLDS? Những lời chào hàng, thông
tin, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng có được coi là lời đề
nghị giao kết hợp đồng hay không?
Pháp luật của một số nước đã quy
định khá chi tiết về đề nghị giao kết hợp đồng và những dấu hiệu cơ bản của đề nghị được coi là cơ sở hình thành hợp đồng:
* Khoa tư pháp
Trường Đại học luật Hà Nội
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 33
Trang 2| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |
Về ý chí, người đề nghị có ý muốn
tạo lập hợp đồng;
- Lời đề nghị phải được truyền đạt tới
người nhận
- Về nội dung, các điều kiện trong lời
đề nghị phải cụ thể, rõ ràng, đứt khoát;
Luật dân sự Việt Nam tuy không quy
định rõ vấn đề này nhưng xem xét Điều
396 BLDS có thể chỉ ra những yếu tố của
để nghị được coi là cơ sở để hình thành
hợp đồng:
Thứ nhất, trong đề nghị có nêu rõ nội
dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn
trả lời
Nội dung chủ yếu của hợp đồng là
tổng hợp những điều khoản cơ bản của
hợp đồng mà nếu thiếu nó thì hợp đồng
không thể giao kết được Đề nghị có nêu
rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng mới
được xem là đề nghị nghiêm túc, thực sự
muốn hình thành hợp đồng và là cơ sở để
bên được đề nghị suy xét có chấp nhận đề
nghị hay không Nếu đề nghị không nêu
rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng thì
không thể coi là đề nghị để giao kết hợp
đồng
Điều 396 BLDS còn đưa ra dấu hiệu
về thời hạn trả lời đề nghị - dấu hiệu quan
trọng liên quan đến trách nhiệm của bên
đề nghị: "Không được mời người thứ ba
giao kết trong thời hạn chờ trả lời và
phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của
mình" Theo đó, để nghị giao kết hợp
đồng phải đưa ra thời hạn trả lời và bên
được đề nghị phải trả lời trong thời gian
đó; trong thời hạn trả lời, bên đề nghị
không được đề nghị người thứ ba giao
kết
Điều 396 BLDS chỉ đề cập đề nghị có
ấn định thời hạn trả lời Còn đề nghị có
nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng
nhưng không ấn định thời hạn trả lời thì
có được coi là đề nghị giao kết hợp đồng
hay không và trách nhiệm của các bên
34 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
như thế nào? Khoản 2 Điều 290 BLDS về
thời hạn thực hiện ngh1a vụ dân sự quy định: "7rong trường hợp các bên không
thỏa thuận và pháp luật không quy định
về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một khoảng thời gian hợp lí"
Theo đó, có thể suy đoán khoảng thời
gian hợp lí là khoảng thời gian thích hợp
để người có nghĩa vụ có thể thực hiện
được nghĩa vụ của mình Khó có thể đưa
ra quy định chung mà phải căn cứ vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Trên thực tế, trường hợp một bên đưa đề nghị
bên kia giao kết hợp đồng nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng nhưng không
ấn định thời hạn trả lời khá phổ biến Về
ý chí, các bên hoàn toàn nghiêm túc và mong muốn giao kết hợp đồng; bên đề nghị thường chờ đợi một khoảng thời gian cần thiết để bên nhận được đề nghị
có điều kiện xem xét các yêu cầu của bên
để nghị và khả năng của mình có thể
chấp nhận yêu cầu đó hay không Chỉ khi
bên được đề nghị từ chối hoặc quá thời
hạn đó vẫn không trả lời thì bên đề nghị
mới đề nghị người thứ ba giao két hop
đồng Từ phân tích trên có thể thấy việc
ấn định thời hạn trả lời không phải là dấu
hiệu bất buộc của đề nghị giao kết hợp
đồng Theo chúng tôi, trong trường hợp này, để để cao trách nhiệm của bên dé
nghị, tạo sự ổn định trong giao lưu dân
sự, BLDS nên quy định thêm: "Nếu một
bên để nghị bên kia giao két hop đồng có nêu rõ nội dung che yếu của hợp đồng
nhưng không ấn định thời hạn trả lời thì
phải chờ trong khoảng thời gian hợp lí
mới được đề nghị người thứ ba g1ao kết” Thứ hai, đề nghị được truyền đạt tới
đối tượng cụ thể
Khi tham gia quan hệ pháp luật dân
Trang 3
sự, các chủ thể có quyền tự định đoạt
Một trong những biểu hiện của quyền tự
định đoạt là chủ thể có quyền lựa chọn
đối tác tham gia quan hệ với mình, thể
hiện ý chí mong muốn thiết lập quan hệ
hợp đồng với đối tượng đó Bản chất của
đề nghị là yêu cầu với người cụ thể về
việc nào đó và mong muốn được chấp
nhận Mục đích của đề nghị giao kết hợp
đồng là nhằm tiến tới giao kết hợp đồng
Nếu suy đoán từ nội dung của Điều 396
BLDS khi cấm bên đề nghị giao kết với
người thứ ba trong thời hạn trả lời thì
thấy pháp luật dân sự đã quy định đề nghị
giao kết hợp đồng phải được gửi tới đối
tượng cụ thể Quy định này nhằm đề cao
trách nhiệm của các bên trong quá trình
giao kết hợp đồng Nếu đề nghị không
được gửi tới đối tượng cụ thể thì không
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng và
chỉ được coi là đề nghị đàm phán Dạng
đề nghị này thường dưới hình thức thông
tin, quảng cáo, lời chào hàng, đưa ra sáng
kiến Trong những trường hợp này,
người đề nghị không chịu sự ràng buộc
nào cả, có thể gửi đề nghị tới nhiều người
và không bị bắt buộc phải giao kết hợp
đồng với người đầu tiên chấp nhận đề
nghị mà có quyền lựa chọn đối tác cũng
như có thể rút lại đề nghị của mình
BLDS đã đề cập việc thay đổi đề nghị
dưới hai hình thức:
+ Thay đổi về nội dung của để nghị
(thay đổi những điều khoản cơ bản trong
đề nghị);
+ Rút đề nghị (bên để nghị không có
ý định giao kết hợp đồng nữa)
Theo Điều 398 BLDS, bên đề nghị chỉ
có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị của
mình trong các trường hợp sau:
- Bên được đề nghị chưa nhận được đề
nghị (chỉ xảy ra trong trường hợp các bên
không trực tiếp giao tiếp với nhau mà
thông qua thư tín hoặc các phương tiện
khác)
- Bên được đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại lời dé nghị (trong trường hợp này, bên đề nghị chỉ có thể rút lại đề nghị hoặc thay đổi đề nghị trong thời hạn chờ trả lời được ghi trong
đề nghị)
BLDS chưa dé cập hậu quả pháp lí của việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị
Theo ý kiến của chúng tôi, nhằm đề cao
trách nhiệm của các bên trong quá trình giao kết hợp đồng, đảm bảo sự ổn định của các giao dịch dân sự, BLDS cần bổ
sung quy định về hậu quả pháp lí của việc
thay đổi hoặc rút lại đề nghị theo hướng
như sau:
- Nếu việc thay đổi nội dung đề nghị thỏa mãn một trong hai trường hợp nêu
trên thì phần mới được thay đổi trong đề
nghị phát sinh hiệu lực và bên để nghị phải chịu trách nhiệm đối với phần đề nghị mới thay đổi đó
- Nếu hết thời hạn trả lời mà bên được
đề nghị không trả lời hoặc trả lời không chấp nhận đề nghị thì bên đề nghị có thể thay đối, rút lại dé nghị
- Nếu bên được đề nghị đã thực hiện
đề nghị, sau đó bên để nghị lại thay đồi hoặc rút lại đề nghị thì phải thanh toán phần công việc mà bên kia đã thực hiện
và phải bồi thường những thiệt hại do
việc thay đổi, rút đề nghị của mình gây
ra:
2 Chap nhan dé nghi giao két hop
đồng
Chấp nhận được hiểu là "đồng ý nhận
điều người khác yêu cầu hoặc đề ra"®), Hợp đồng chỉ được coi là đã giao kết
kể từ thời điểm bên được đề nghị chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng Nếu lời
đề nghị thể hiện ý chí của bên đề nghị thì
sự chấp nhận đề nghị thể hiện ý chí của
phía bên kia Việc chấp nhận để nghị phải đáp ứng những điều kiện nhất định
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 35
Trang 4NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
a Các điều kiện của chấp nhận đề
nghị
+ Về ý chí:
- Việc chấp nhận đề nghị phải là chấp
nhận vô điều kiện, thể hiện thái độ đồng
ý hoàn toàn
- Nếu bên được đề nghị đã chấp nhận
giao kết hợp đồng nhưng có nêu thêm
điều kiện hoặc sửa đổi nội dung đề nghị
thì không được coi là chấp nhận đề nghị
mà coi là lời đề nghị mới
+ Về thời điểm chấp nhận:
- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với
nhau (gặp nhau, qua điện thoại hoặc các
phương tiện thông tin khác) thì bên được
đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận
hay không chấp nhận lời đề nghị, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận về thời
hạn trả lời (khoản 2 Điều 397 BLD®)
- Khi bên được đề nghị có ấn định
thời han trả lời thì việc trả lời chấp nhận
đề nghị chỉ có hiệu lực khi được thực
hiện trong thời hạn đó Nếu bên đề nghị
giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi
đã hết hạn trả lời thì lời chấp nhận này
được coi là lời đề nghị mới của bên chậm
trả lời (khoản 1 Điều 397 BLDS)
- Trong trường hợp việc trả lời chuyển
qua bưu điện thì thời điểm trả lời là ngày
gửi đi theo dấu bưu điện (khoản 3 Điều
397 BLDS)
Hiện nay, về vấn dé trả lời đề nghị
bằng thư tín, các luật gia trên thế giới vẫn
còn nhiều tranh cãi, chủ yếu theo hai
- Nhóm đề xướng thuyết tuyên bố ý
chí cho rằng: Sự chấp đề nghị được xác
định là ngày người nhận được đề nghị thể
hiện ý chí chấp nhận đề nghị bằng thư
tín, không cần đòi hởi chấp nhận đó có
đến tay người đề nghị hay không và đến
vào thời điểm nào Một số án lệ của các
nước đã giải quyết theo quan điểm này
Tuy nhiên, thuyết tuyên bố ý chí vẫn có
36 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
những điểm hạn chế trong việc xác định
chứng cứ vì rất khó xác định được chính
xác ngày bên nhận được đề nghị viết thư
trả lời để xác định thời điểm giao kết hợp
đồng
- Nhóm theo thuyết tiếp nhận lại cho
rằng thời điểm giao kết hợp đồng (thời điểm bên được đề nghị chấp nhận đề
ngh‡) là ngày bên đề nghị nhận được sự chấp nhận đề nghị của bên được đề nghị Nếu theo thuyết này cũng vấp phải sự
khó khăn trong việc xác định chứng cứ vì
không có cơ sở pháp lí chứng minh bên
đề nghị tiếp nhận được ý chí của bên được đề nghị vào thời điểm nào Vì vậy, việc chấp nhận đề nghị phải thể hiện dưới
hình thức nhất định
Thực tế cho thấy thư, điện tín được
chuyển qua bưu điện đều được bưu điện đóng dấu ngày gửi đi Đây là cơ sở pháp
lí để xác định sự kiện bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị
b Về hình thức chấp nhận đề nghị Thông thường, sự chấp nhận đề nghị
được điễn đạt bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc bằng hành vi thực hiện ngay hợp đồng Khoản 3 Điều 11 Phap lệnh hợp déng dan su (1/7/1991) quy dinh: “Sw im lăng không được coi là chấp nhận giao kết hợp đông nếu các bên không có thỏa
thuận khác” Án lệ của một số nước thừa
nhận im lặng có nghĩa là chấp nhận đề nghị trong các trường hợp sau: :
- Khi hai bên đã có giao dịch thương mại với nhau từ lâu và thường xuyên;
- Khi các bên có thỏa thuận im lặng là
đồng ý;
- Khi lời đề nghị hoàn toàn mang lại lợi ích cho bên được đề nghị 3
BLDS chỉ quy định về hình thức của
hợp đồng mà không quy định về hình : thức của việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Vậy ngoài việc biểu hiện sự
Trang 5chấp nhận để nghị giao kết hợp đồng
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi thực hiện ngay hợp đồng, sự im
lặng có được coi là chấp nhận đề nghị
hay không? Điều này cần sớm được các
nhà làm luật quy định rõ
BLDS mới chỉ quy định: "Bé» đề nghị
phổi chịu trách nhiệm về lời đề nghị
của mình" (Điều 396 BLDS) nhưng chịu
trách nhiệm như thế nào thì BLDS chưa
quy định cụ thể BLDS đã quy định về hai
loại trách nhiệm dân sự là trách nhiệm do
vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm ngoài
hợp đồng Ở đây, việc áp dụng hai loại
trách nhiệm này đối với người để nghị
quy định trong Điều 396 BLDS đều
không phù hợp Sở đi như vậy vì giai
đoạn đề nghị và chấp nhận đề nghị là giai
đoạn "tiền giao kết hợp đồng" Hợp đồng
chỉ phát sinh hiệu lực và có tính chất rang
buộc các bên kể từ thời điểm giao kết
Quy định của Điều 396 BLDS buộc người
đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị
của mình mới chỉ dừng lại ở tính chất
giáo dục đạo đức về việc giữ chữ tín
trong các quan hệ dân sự Trong thực tế,
việc người đề nghị đã đề nghị một người
cụ thể giao kết hợp đồng với mình sau đó
lại đánh tháo, giao kết hợp đồng với
người khác ngay trong thời hạn chờ trả
lời mà không phải chịu trách nhiệm dân
sự là tình trạng khá phổ biến Theo ý kiến
của chúng tôi, để dé cao trách nhiệm của
các bên trong quá trình tiến tới giao kết
hợp đồng đồng thời tạo sự ồn định trong
glao lưu dân sự, BLDS cần phải bổ sung,
quy định cụ thể về trách nhiệm của các
bên trong quá trình này./
(1) Xem: Từ điển tiếng Việt Nxb.KHXH, H.1994
tr 298
(2) Xem: Giáo trình luật dân sự Việt Nam Trường
Đại học luật Hà Nội, 1997, tr 109,
(3) Xem: Từ điển tiếng Việt Sđd, tr 138
TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐÓỚI
(Tiếp trang 32) thiệt hại Muốn buộc họ phải bồi thường, người bị thiệt hại phải khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp Khi bản án
hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì những người gây thiệt hại có
trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như vậy, trách nhiệm dân sự phát sinh kể từ thời điểm gây ra thiệt hại Nếu người từ
đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mà có đủ
tài sản thì họ phải chịu trách nhiệm dân
sự Nếu họ không có tài sản hoặc có nhưng không đủ để bồi thường thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm dân sự Nếu cha
mẹ không có tài sản để thực hiện nghĩa
vụ bồi thường thì người bị thiệt hại phải chờ đến khi họ có tài sản mới yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ được Như vậy, kể từ thời điểm gây thiệt hại, nếu con từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì trách nhiệm dân sự thuộc về cha, mẹ nên sau này khi người con đã đủ I8 tuổi và có tài sản nhưng cha mẹ vẫn chưa có tài sản để boi thường cho người bị thiệt hại thì người con đó cũng không phải bồi
thường Mặt khác, cha mẹ cũng không
thể lấy tài sản của người con để bồi
thường thiệt hại trừ trường hợp người đó
đồng ý
Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt
hại ngoài hợp đồng, việc nghiên cứu về trách nhiệm liên đới của những người
cùng gây thiệt hại là những người chưa
thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có ý nghĩa về mặt lí luận cũng như
về thực tiễn, từ đó giúp cho cơ quan áp
dụng pháp luật xác định đúng phương thức bồi thường thiệt hại và bảo vệ được
quyền lợi của người bị thiệt hại cũng như
xác định đúng trách nhiệm của người
chưa thành niên hay trách nhiệm của
những người giám hộ là cha mẹ./
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 37