1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Một số ý kiến việc thay đổi người tiến hành tố tụng " pptx

5 766 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 6,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS quy định nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng hình sự: “Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, điều

Trang 1

MOT SỐ Ú HIẾN VỀ Việc THRV ĐỔI NGƯỜI TIẾN HANH TO TUNG

gười tiến hành tố tung (NTHTT) là

chủ thể của hoạt động chứng minh

trong tố tụng hình sự, họ có nghĩa vụ xác

định sự thật của vụ án một cách khách

quan, toàn diện và đầy đủ Vì vậy, việc

đảm bảo sự vô tư, khách quan của người

tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết

vụ án là vấn đề mang tính nguyên tắc

Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)

quy định nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của

những người tiến hành hoặc tham gia tố

tụng hình sự: “Thẩm phán, hội thẩm nhân

dân, kiểm sát viên, điều tra viên, thư kí

phiên tòa, người phiên dịch, người giám

định không được tiến hành hoặc tham gia

tố tụng, nếu có lí do xác đáng để cho rằng

họ có thể không vô tư trong khi thực hiện

nhiệm vụ của mình”

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này,

về mặt pháp luật, BLTTHS đã quy định về

việc thay đổi người tiến hành tố tụng

(chương II BUTTH®S), trong đó quy định rõ

những trường hợp phải thay đổi người tiến

hành tố tụng, quyền đề nghị thay đổi người

_ tiến hành tố tụng và những quy định cụ thể

về việc thay đổi điều tra viên, kiểm sát

viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân và thư

-_ kí phiên tòa Tuy nhiên, trong các quy định

đó còn một số điểm chưa hợp lí cần phải

được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu

cầu của tố tụng hình sự và các quy định

pháp luật khác có liên quan

42 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

PHAN THANH MAI *

I Về khái niệm “những người tiến hành tố tụng”

Khoản 2 Điều 27 BLUTTHS quy định:

«2 Những người tiến hành tố tụng gồm 60:

a Diéu tra viên;

b Kiém sat viên,

c Thẩm phán;

ä Hội thẩm nhân dân;

e Thư kí phiên tòa

Quy định này chưa đầy đủ, chưa xác định được hết những người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, điểm dđ khoản 2 Điều 27 BLTTHS chỉ xác định hội thẩm nhân dân

là người tiến hành tố tụng mà không nói

đến hội thẩm quân nhân Trong khi đó, Điều 129 Hiến pháp 1992, Điều 4 Luật tổ chức tòa án nhân dân 1992 đều quy định:

“Việc xét xử của tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân, của tòa án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử, hội thẩm ngang

quyền với thẩm phán” Vì vậy, để phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật tổ

chức tòa án nhân dân, điểm d Khoản 2 Điều 27 BLTTHS cần cần quy định rõ ràng

là: “Hội thẩm nhân dân và hội thẩm quân nhân” hoặc có thể chỉ quy định chung là

“Hội thẩm”

Thứ hai, khoản 2 Điều 27 BLTTHS

không quy định thủ trưởng, phó thủ trưởng

* Giảng viên Khoa tư pháp

Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 2

cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện

trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó chánh

án tòa án là người tiến hành tố tụng Đây

cũng là một vấn đề cần phải xem xét và

quy định lại cho phù hợp theo hướng phân

biệt giữa cơ quan tiến hành tố tụng và

người tiến hành tố tụng, đề cao trách

nhiệm cá nhân của người tiến hành tố tụng

Có thể nói, ngoại trừ việc xét xử tại phiên

tòa là theo nguyên tắc xét xử tập thể và

quyết định theo đa số, còn hầu hết các

hành vi tố tụng đều gắn với trách nhiệm cá

nhân của người tiến hành tố tụng Đa số

các điều luật của BLTTHS đều không xác

định thẩm quyền một cách chung chung là

thuộc cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc

tòa án mà đều xác định rõ chủ thể của hoạt

động tố tụng là những cá nhân cụ thể

Trong nhiều trường hợp, chủ thể của các

hành vi tố tụng là thủ trưởng, phó thủ

trưởng cơ quan điều tra; viện trưởng, phó

viện trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó -

chánh án tòa án Hoạt động của những

người này cũng như của điều tra viên,

kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm và thư

kí phiên tòa không được tùy nghi mà phải

dựa trên cơ sở những quy định của pháp

luật, Vì vậy, cần phải quy định thủ trưởng,

phó thủ trưởng cơ quan điều tra; viện

trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát;

chánh án, phó chánh án tòa án là người

tiến hành tố tụng để xác định rõ vai trò và

trách nhiệm cá nhân của những người đó

trong tố tụng hình sự và phù hợp với các

quy định khác về thẩm quyền tố tụng trong

BLTTHS

Mặt khác, nếu không xác định những

người đó là người tiến hành tố tụng sẽ ảnh

hưởng đến quyền của những người tham

gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp

liên quan đến vụ án Họ sẽ không có quyền

đề nghị thay đổi thủ trưởng, phó thủ trưởng

cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện

trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó chánh

án tòa án vì lí do luật không quy định những người đó là người tiến hành tố tụng,

không phải là đối tượng có thể bị thay đổi Như vậy, nếu thủ trưởng, phó thủ trưởng

cơ quan điều tra; viện trưởng phó viện

trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó chánh

án tòa án rơi vào một trong những trường

hợp được quy định tại Điều 2§ BLTTHS (những trường hợp phải thay đổi người tiến

hành tố tụng) mà lại không phải từ chối

tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì rõ

ràng việc họ tiến hành tố tụng sẽ ảnh

hưởng đến tính khách quan, đúng đắn

trong việc giải quyết vụ án

Một vấn đề nữa là ngoài các cơ quan

điều tra, theo luật định còn có các cơ quan

khác được quyền tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật Các

cơ quan này không phải là cơ quan tiến

hành tố tụng và tất nhiên, theo quy định của pháp luật, những người tiến hành các

hoạt động điều tra trong các cơ quan này cũng không được coi là người tiến hành tố tụng Như vậy, trong trường hợp có những

căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không vô tư,

khách quan trong khi tiến hành công việc thì họ cũng không phải từ chối tiến hành

hoặc bị đề nghị thay đổi Điều đó là không

- hợp lý, không nâng cao được trách nhiệm

của họ và không đảm bảo quyền lợi cho

người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án Vì lí đo đó cũng như vì những lí do khác mà các cơ

quan này cần phải được tổ chức lại thành

cơ quan điều tra, những người thuộc các cơ

quan này tiến hành các hoạt động tố tụng phải được coi là người tiến hành tố tụng,

hoặc không giao cho họ quyền điều tra

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 43

Trang 3

theo luật tố tụng hình sự nữa

2 Về trường hợp phải thay đổi người

tiến hành tố tụng

Khoản 1 Điều 28 BLTTHS quy định:

“Người tiến hành tố tụng phải từ chối

tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu:

- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là đại

diện hợp pháp, người thân thích cua nhitng

người đó hoặc của bị can, bị cáo”

Quy định trên đây là chưa rõ ràng và

chưa chính xác Xác định “họ đồng thời

là ” chỉ đúng trong trường hợp họ đã tiến

hành tố tụng trong vụ án đó, còn trong

trường hợp họ từ chối tiến hành tố tụng sau

khi được phân công thì dùng từ “đồng

thời? l chưa chính xác Một điểm nữa cần

nhấn mạnh là người tiến hành tố tụng chỉ

phải từ chối hoặc bị thay đổi trong trường

hợp “họ là người bị hại ” trong vụ án đó

mà thôi, còn trong trường hợp khác, họ vẫn

có thể là người tiến hành tố tụng trong vụ

án này và là người tham gia tố tụng trong

vụ án khác Vì vậy, khoản I, Điều 28

BLTTHS cần quy định là: “Họ là người bị

hai; nguyên đơn dân sự; người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là đại

diện hợp pháp, người thân thích của những

người đó hoặc của bị can, bị cáo trong vụ

án đó” Cũng có thể chia nhỏ điều này

thành các khoản cho rõ ràng và cụ thể hơn

nữa

Khoản 3 Điều 28 BLTTHS quy định:

“có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng ho

có thể không vô tư trong khi làm nhiệm

Quy định như vậy là mới chỉ xác định

được những trường hợp mà họ có thể

không khách quan trong khi làm nhiệm vụ

44 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

mà chưa bao hàm được những trường hợp khác Trường hợp khác là trường hợp họ là người không đủ năng lực, không đúng

chức danh, thẩm quyền v.v Ví d: Theo Điều 25 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự

1989, điều tra viên cao cấp và điều tra viên trung cấp có quyền điều tra những vụ án nghiêm trọng phức tạp, còn điều tra viên

sơ cấp chỉ có quyền điều tra những vụ án it : nghiêm trọng Nếu được phân công điều tra vụ án nghiêm trọng, phức tạp thì họ

phải từ chối hoặc bị đề nghị thay đổi vi không đủ năng lực và tư cách để tiến hành điều tra Vì vậy, khoản 3 Điều 28 BLTTHS nên quy định: “ có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không khách quan hoặc

không đủ tư cách trong khi làm nhiệm vụ'”

3 Về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

Điều 29 BLTTHS không quy định

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án và người đại diện hợp pháp của họ

có quyển đề nghị thay đổi người tiến hành

tố tụng Quy định như vậy là hạn chế quyền tố tụng và làm ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của họ, bởi vì việc giải quyết vụ án như thế nào sẽ ảnh hưởng trực

tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Nếu

người tiến hành tố tụng không khách quan,

không đủ tư cách mà họ lại không được để nghị thay đổi thì rõ ràng họ không được đảm bảo đầy đủ các điều kiện để bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của mình Vì

vậy, cần phải bổ sung người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại

diện hợp pháp của họ là chủ thể có quyền

đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

4 Về việc thay đổi kiểm sát viên Trong quy định tại khoản 2, Điều 3l BLTTHS không xác định rõ thẩm quyền và thủ tục thay đổi kiểm sát viên tại phiên tòa,

Trang 4

mà chỉ quy định: “Trong trường hợp phải

thay đổi kiển sát viên tại phiên tòa thì hội

đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa"

Việc quy định không rõ ràng như vậy gây

không ít sự hiểu lầm và tranh cãi khi giải

thích và áp dụng luật Do đó, để làm rõ

thẩm quyền quyết định việc thay đổi kiểm

sát viên tại phiên tòa, người ta lại phải viện

dẫn Điều 137 BLTTHS: “Quyết định về

việc thay đổi thành viên của hội đông xét

xử, kiểm sát viên phải được thảo luận và

thông qua tại phòng nghị án và phải được

viết thành văn bản”, để hiểu rằng hội đồng

xét xử có quyền thay đổi kiểm sát viên tại

phiên tòa Vì vậy, để đảm bảo căn cứ luật

định cho việc thay đổi kiểm sát viên tại

phiên tòa, Điều 31 BLTTHS cần sửa đổi,

bổ sung theo hướng quy định rõ: “Hội

đồng xét xử có quyền quyết định việc thay

đổi kiểm sát viên tại phiên tòa bằng cách

thảo luận và biểu quyết tại phòng nghị án,

hội đồng xét xử quyết định theo đa số”

5 Về việc thay đổi thẩm phán hoặc

hội thẩm nhân dân

Tại điểm c khoản I Điều 30 BLTTHS

quy định thẩm phán hoặc hội thẩm nhân

dân phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị

thay đổi nếu:

«c, Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc

thẩm hoặc đã tiến hành tố tụng trong vụ

án đó với tư cách là điều tra viên, kiểm sát

viên, thự kí phiên tòa

Thành viên Ủy ban thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao đã tham gia xét xử vụ án

theo trình tự giám đốc thẩm tại Ủy ban

thẩm phán vẫn được tham gia xét xử lại vụ

án tại Hội đông thẩm phan’

Theo quy định này, nếu một người đã

xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm trong vụ án

thì không được xét xử lại vụ án đó; nhưng

nếu đã xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

thì có quyền xét xử lại bởi vì luật không cấm Điều luật cũng quy định rõ trường hợp “Thành viên Ủy ban thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao đã tham gia xét xử vụ

án theo thủ tục giám đốc thẩm tại Ủy ban thẩm phán vẫn được tham gia xét xứ lại vụ

án tại Hội đồng thẩm phán” Quy định như

vậy rõ ràng là không đảm bảo tính thống nhất của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư

khách quan của người tiến hành tố tụng, nguyên tắc này phải được đảm bảo thực hiện ở mọi chủ thể tiến hành tố tụng Trong các giai đoạn xét xử cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc này, càng ở cấp xét xử cao hơn lại càng phải đảm bảo tính khách

quan của người tiến hành tố tụng để nâng

cao chất lượng xét xử Không có lí do gì

để có ngoại lệ trong xét xử giám đốc thẩm

và tái thẩm, nhất là tại Hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao là cấp xét xử

cao nhất trong hệ thống tòa án Vì vậy, điểm c khoản I Điều 30 BLTTHS cần phải sửa đổi là: “c Đã tham gia xét xử hoặc đã

tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách điều tra viên, kiểm sát viên, thư kí

viên, thư kí phiên tòa”

Để đảm bảo điều kiện thực hiện quy

định này trong quá trình xét xử, các điều luật khác có liên quan cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp và thống nhất `

Thứ nhất, trong trường hợp ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh (tòa án

quân sự cấp quân khu) xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án nếu thấy cần phải hủy bản án và quyết định để xét xử sơ

thẩm lại thì không giao cho tòa án cấp dưới xét xử mà nên giữ lại để tòa án cấp

mình xét xử sơ thẩm lại Nếu trong trường

hợp bản án và quyết định sơ thẩm lần thứ _ hai này bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 45

Trang 5

tái thẩm thì theo quy định tại Điều 248

BLTTHS, thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc

tái thẩm sẽ do Tòa hình sự Tòa án nhân

dân tối cao (hoặc Tòa ấn quân sự trung

ương) xét xử lại Như vậy, sẽ tránh được

trường hợp ủy ban thẩm phán của tòa án

nhân dân cấp tỉnh (tòa án quân sự cấp quân

khu) phải giám đốc thẩm hoặc tái thẩm lại

vụ án một lần nữa '

Thứ hai, nên bỏ cấp giám đốc thẩm và

tái thẩm tại Ủy ban thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao vì lí do có quá nhiều cấp

giám đốc thẩm dẫn đến kéo dài việc giải

quyết vụ án và ảnh hưởng đến tính ổn định

của các bản án và quyết định đã có hiệu

lực pháp luật Việc đảm bảo cho mục đích

xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp

luật là hết sức cần thiết nhưng không nhất

thiết phải bảo đảm bằng cách phải qua

nhiều cấp xét xử và nhất là khi việc xét xử

đó lại không đảm bảo tính khách quan của

người tiến hành tố tụng

Có ý kiến cho rằng cần phải quy định

riêng trường hợp thẩm phán bị đề nghị

thay đổi là chánh án tòa án theo hướng:

Nếu thẩm phán bị để nghị thay đổi là

chánh án tòa án thì việc thay đổi chánh án

tòa án trước khi mở phiên tòa do chánh án

tòa án cấp trên quyết định; việc cử thẩm

phán mới thay cho chánh án bị thay đổi

cũng do tòa án cấp trên quyết định để đảm

bảo tính khách quan Theo chúng tôi, điều

đó là không cần thiết vì những lí do sau:

- Tòa án hoạt động theo nguyên tắc xét

xử tập thể và quyết định theo đa số Nếu

trước khi mở phiên tòa, việc giải quyết đề

nghị thay đổi thẩm phán là chánh án tòa án

đo chính chánh án đó quyết định là không

đảm bảo tính khách quan thì việc đó cũng

được khắc phục tại phiên tòa khi việc giải

quyết để nghị thay đổi chánh án sẽ được

46 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

hội đồng xét xử quyết định theo đa số Việc giải quyết tất cả những vấn đề khác của vụ án, việc ra bản án và quyết định cũng được hội đồng xét xử thảo luận và

quyết định theo đa số cho nên việc chánh

ấn tòa án tự quyết định việc thay đổi mình

trước khi mở phiên tòa không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án

- Tòa án không tổ chức và hoạt động

theo nguyên tắc hành chính cấp trên - cấp dưới, mệnh lệnh - phục tùng mà hoạt động

theo nguyên tắc xét xử độc lập Theo

nguyên tắc này, tòa án cấp trên không được can thiệp vào công việc của tòa án cấp dưới Trong phạm vi quyền hạn của minh, tòa ấn có toàn quyền giải quyết các

vụ án thuộc thẩm quyền của mình, tòa án cấp trên không được phép can thiệp, kể cả

việc quyết định thay đổi các thành viên của

hội đồng xét xử Nếu việc xét xử của tòa

án cấp dưới có sai lầm, thiếu sót hoặc vi phạm thủ tục tố tụng, tòa ấn cấp trên có quyền xem xét lại để khắc phục những sai lầm, thiếu sót đó mà không được can thiệp vào công việc xét xử của tòa ấn cấp dưới

6 Về việc thay đổi thư kí phiên tòa

Khoản 2 Điều 33 BLTTHS quy định:

“Việc thay đổi thư kí phiên tòa do hội

đông xét xử quyết định Việc cứ thư kí khác

do chánh án tòa án quyết định Quy định

này không xác định rõ thời điểm thay đổi thư kí phiên tòa và chủ thể có thẩm quyền

thay đổi thư kí trong những trường hợp đó

Vì vậy, khoản 2 Điều 33 BLTTHS nên sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng và đầy đủ hơn:

“Việc thay đổi thư kí phiên tòa trước khi

mở phiên tòa do chánh án tòa án quyết định Việc thay đổi thư kí phiên tòa tại phiên tòa do hội đồng xét xử quyết định

theo đa số Việc cử thư kí mới do chánh án

tòa án quyết định””./.

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w