1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

34 29 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Môi Trường Và Phát Triển Kinh Tế Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Võ Thị Phương Khánh, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Võ Công Minh, Châu Thành Nhân, Pech PunLork, Hồ Chí Thiện, Nguyễn Thị Kiều Vân
Người hướng dẫn GVHD: Trần Mạnh Kiên
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 146,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng phát triểnkinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, những mặt trái của quá trình phát triển, hội nhập, mở cửa đã có một số tác động tiêu cực không nhỏ đến

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LỚP D03

 - -

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NHÓM 8:

Võ Thị Phương KhánhNguyễn Thị Ngọc Lan

Võ Công MinhChâu Thành NhânPech PunLork

Hồ Chí ThiệnNguyễn Thị Kiều Vân

GVHD: Trần Mạnh Kiên

TP.Hồ Chí Minh, 8/2017

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Các khái niệm chung 4

1.1 Khái niệm “Phát triển kinh tế ” 4

1.2 Thuật ngữ “Môi trường ” và “ Bảo vệ môi trường ” 4

2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế 6

3 Phát triển bền vững 8

3.1 Khái niệm và thước đo phát triển bền vững 9

3.2 Tính tương thích của phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế 12

3.3 Nguyên nhân của sự không bền vững trong phát triển 13

3.4 Những can thiệp của chính phủ trong phát triển bền vững 19

4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 25

4.1 Thực trạng môi trường ở Viêt Nam hiện nay trong quá trình phát triển kinh tế và nguyên nhân 25

4.2 Một số giải pháp cho vấn đề môi trường ở Việt Nam hiện nay từ kinh nghiệm các nước trên thế giới 27

KẾT LUẬN 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 3

MỞ ĐẦU

Phát triển là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới Việt Nam cùng với xuhướng toàn cầu, mở cửa hội nhập, tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triểnkinh tế xã hội Trong những năm qua , nước ta đã có nhiều biến đổi sâu sắc và đạt đượcnhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng phát triểnkinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, những mặt trái của quá trình phát triển, hội nhập,

mở cửa đã có một số tác động tiêu cực không nhỏ đến con người, xã hội, và đặc biệt làmôi trường sống

Phát triển kinh tế kéo theo nó là những tác động tiêu cực tới môi trường, nhưng đểgiải quyết được những yêu cầu công nghệ cho môi trường nền kinh tế phải phát triển.Mối quan hẹ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là một trong những chủ đề đángquan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu, các Cấp Nhà nước mà còn của cả người dântrong toàn xã hội

Trang 4

1 Các khái niệm chung

1.1 Khái niệm “Phát triển kinh tế”

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Nó baogồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế,chất lượng cuộc sống

Muốn phát triển kinh tế, đầu tiên là có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy môsản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định)

Đi liền với đó là sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền,ngành, thành phần kinh tế,… thay đổi theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa: tỷtrọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng cácngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ Cuộc sống của đại bộ phậndân số trong xã hội sẽ trở nên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân đượcchăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Phát triển kinh tế đòi hỏi mở cửa nền kinh

tế, do đó mà trình độ tư duy quan điểm sẽ thay đổi

Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nộitại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó

1.2 Thuật ngữ “Môi trường” và “Bảo vệ môi trường”

1.2.1 Môi trường

Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo cóquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sựtồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (theo Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường ViệtNam)

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết chosinh sống, sản xuất của con người như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánhsáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồmcác nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người,chẳng hạn như môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quycủa trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm,… các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng

Trang 5

xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận,thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống vàphát triển

Môi trường có 5 chức năng cơ bản:

Thứ nhất, môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

Thứ hai, môi trường cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sảnxuất của con người

Thứ ba, môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trongcuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

Thứ tư, môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới conngười và sinh vật trên Trái Đất

Thứ năm, môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vìmôi trường cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sự địa chất, lịch sự tiến hóa của vật chất

và sinh vật, lịch sự xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người; lưu trữ và cung cấpcho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên

và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hóa khác; cungcấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đốivới con người và sinh vật sống trên Trái Đất như các phản ứng sinh lý của cơ sở sốngtrước khi xảy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, độngđất,

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực

và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằngviệc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian như: khai hoang,phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và cácdạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng

tự phục hồi Do đó, việc bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng, cấp thiết

1.2.2 Bảo vệ môi trường:

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp,cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu

Trang 6

do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệmtài nguyên thiên nhiên.

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lýbảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có tráchnhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổbiến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường củaViệt Nam ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, tổ chức, cánhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, cóquyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môitrường”

Để bảo vệ môi trường, chúng ta phải: không đốt phá rừng, khai thác khoáng sảnmột cách bừa bãi, gây hủy hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái; không thải khói,khí độc, bụi, mùi hôi tối gây hại vào không khí, không phát phóng xạ, bức xạ quá giớihạn cho phép vào môi trường xung quanh; không thải dầu, mỡ, hóa chất độc hại, chấtphóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vikhuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước; không chôn vùi, thải vào đất các chấtđộc hại quá giới hạn cho phép; không khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vậtquý hiếm trong danh mục quy định của chính phủ; không nhập khẩu công nghệ, thiết bịkhông đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thải; không sử dụng cácphương pháp, phương tiện, công cụ hủy diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt cácnguồn động vật, thực vật

2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế

Môi trường và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít Phát triểnkinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con ngườiqua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng vănhóa Mà môi trường cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàunghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triểnchỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu để lấy ngoại tệ, thiệt bị công nghệ hiệnđại… Có thể nói, tài nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó có cảtài nguyên) có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế ở mỗi quốcgia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:

Trang 7

Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng

“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống Hoạt động sản xuất là một quá trình bắtđầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất

kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vậtchất trên không phải gì khác, mà chính là các yếu tố môi trường Các hoạt động sốngcũng vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phươngtiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết… Những cái đókhông gì khác là các yếu tố môi trường Như vậy các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất

kể trên - kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sốngcủa con người Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống.Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảmhọa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng cáchoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên Ngược lại, môitrường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trìnhhoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải(cả khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có nhiều loại độc hạilàm ô nhiễm, suy thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêudùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất tahrinày nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh

tế - xã hội Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất vàtinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội,nâng cao chất lượng văn hóa Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ:môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạonên các biến đổi của môi trường Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hóa được dichuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển củanguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luôn luôn tương tác vớicác thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thông môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó.Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường

tự nhiên hoặc có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quátrình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặtkhác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hộithông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên - đối tượng của sự phát triển kinh tế - xã

Trang 8

hội hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong khuvực Để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môitrường Vấn đề ở đây là phải quyết định hài hòa các mối quan hệ giữa phát triển và bảo

vệ môi trường

Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc Như trên đãnói, bảo vệ môi trường chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội đượcbền vững, kinh tế - xã hội phát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninhquốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn địnhchính trị xã hội để kinh tế - xã hội phát triển Bảo vệ môi trường là việc làm không chỉ có

ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai Nếu một

sự phát triển có mang lại lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiênnhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không có điều kiện để phát triển mọimặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất, trí tuệ, con người,…) thì sự phát triển đó có lợi ích gì!Nếu hôm nay thế hệ chúng ta không quan tâm tới, không làm tốt công tác bảo vệ môitrường, làm cho môi trường bị hủy hoại thì trong tương lai con cháu chúng ta chắc chắn

sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ Nhận thức rõ điều đó, trong bối cảnh chúng tabước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Bộ Chính trị ban chấp hànhTrung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị 36/ CT/ TW ngày 25/6/1998 về

“Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước” Ngay những dòng đầu tiên, chỉ thị đã nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là một vấn đềsống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền vớicuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộtrên phạm vi toàn thế giới” Như vậy bảo vệ môi trường có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với

sự nghiệp phát triển của đất nước Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh” không thể thực hiện được nếu chúng ta không làm tốt hơn nữa công tácbảo vệ môi trường

3 Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu Trong tiến trình pháttriển của thế giới, mỗi khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc mang tính phổbiến Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, nănglượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được càng tăng thêm, môi

Trang 9

trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, thiên nhiên gây ranhững thiên tai vô cùng thảm khốc.

Đó là sự tăng trưởng kinh tế không cùng nhịp với tiến bộ và phát triển xã hội Cótăng trưởng kinh tế nhưng không có tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tếnhưng văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế làm dãn cách hơn sự phân hóagiàu nghèo, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội Vì vậy, quá trình phát triển cần có sự điều tiếthài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an ninh xã hội và bảo vệ môi trường hayphát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với toàn thế giới

3.1 Khái niệm và thước đo phát triển bền vững

3.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1980 Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên(IUCN - International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa

ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệcác tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững được đề cập tới với một nộidung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việcbảo tồn các tài nguyên sinh vật

Năm 1987 Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED - WorldCommission on Environment and Development) định nghĩa "phát triển bền vững" là “sựphát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việcđáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh

sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho conngười trong quá trình phát triển Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối

ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng củanhững lợi ích tương tự trong tương lai

Theo báo cáo WCED (1987), định nghĩa phát triển bền vững Brundtland có nhữnghàm ý như sau:

- Phát triển kinh tế là điều cần để cải thiện điều kiện sống và đáp ứng nhu cầu củangười dân

- Cần quan tâm đến chất lượng phát triển bằng cách thay đổi cách tiếp cận truyềnthông sang cách tiếp cận kinh tế - môi trường, nhấn mạnh rằng môi trường tốtđóng vai trò then chốt để có được một nền kinh tế thịnh vượng

Trang 10

- Xem xã hội, kinh tế và môi trường là 3 yếu tố căn bản của hệ thống hỗ trợ tương

hỗ để phát triển và phải được xem xét trước khi ra bất cứ quyết định nào

- Công bằng liên thế hệ và công bằng trong cùng một thế hệ là rất quan trọng và cần

có tầm nhìn dài hạn

- Cần phải tính toán giá trị của các tài nguyên môi trường đang được dùng miễn phí.Mohan Munasinghe (1992) triển khai định nghĩa phát triển bền vững bằng cách xâydựng mối liên hệ giữa 3 yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường Tương ứng với 3 góc củatam giác bền vững mà mục tiêu cần đạt được Chẳng hạn với môi trường là phải đảm bảo

đa dạng sinh học, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm ô nhiễm môi trường Cách tiếpcận giải quyết vấn đề được ghi bên cạnh tương tác giữa các góc của tam giác bền vững.Chẳng hạn mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường được xử lí theo 2 hướng chính là đánhgiá giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường và nội hóa chi phí ngoại tác

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững năm 2002: "Phát triển bềnvững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sựphát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất làthực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo

vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môitrường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tàinguyên thiên nhiên)

Khái niệm phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là phát triển mà đáp ứng đượcnhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hải đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó củathế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảotiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

Trang 11

3.1.2 Đo lường phát triển bền vững

Phát triển bền vững là cách thức phát triển mà rất nhiều quốc gia đã và đang camkết theo đuổi Câu hỏi đặt ra là làm thế nào các quốc gia quyết định và xây dựng lộ trìnhphát triển bền vững Xuất phát điểm luôn là câu hỏi quốc gia mình đang ở đâu, đang pháttriển bền vững hay không? Như vậy công việc đặt ra cho các nhà kinh tế học là phải đolường được phát triển bền vững

Có nhiều cách thức tính toán tiết kiệm thực như dựa vào tính toán tiết kiệm thực củaquốc gia (genuine saving), chỉ số bền vững môi trường (ESI), hoặc chỉ số Footprint…Trong các tiêu chí này, tiết kiệm thực là chỉ số mang tính tổng hợp, được phát triển từ khálâu và được nhiều nhà kinh tế học, các quốc gia sử dụng để đo lường phát triển bền vững.Gọi S glà phần tiết kiệm của nền kinh tế trong 1 giai đoạn (thường là 1 năm) sau khi

đã khấu hao mọi loại tư bản (vốn) đã sử dụng

S g > 0: nền kinh tế đó đang bổ sung làm tăng lên trữ lượng tư bản của nó

S g < 0: nền kinh tế đang “ăn dần” trữ lượng tư bản của mình

Điều này xảy ra liên tục, nền kinh tế đó đang phát triển bền vững hay không

Hoặc có thể tính S g như thế này:

gNNP=GNP−δ K M−k KN+a KH+T (1)

gNNP: sản phẩm quốc dân ròng có điều chỉnh

GNP: tổng sản phẩm quốc dân

δ K M: khấu hao trữ lượng vốn vật chất

k K N: khấu hao môi trường tài nguyên thiên nhiên

a K H: khấu hao vốn nhân lực

T: tiến bộ công nghệ

C: tiêu dùng

Khấu hao vốn môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ được tính bằng cách chia tàinguyên thành 4 loại:

Tài nguyên có thể tái sinh:

(H – G): Tỷ lệ khai thác trừ tốc độ tăng trưởng của tài nguyên

¿): Giá của tài nguyên trừ chi phí khai thác biên

 ¿) (H – G): Gía trị tài nguyên có thể tái sinh đã sử dụng

Tài nguyên không thể tái sinh:

Trang 12

(Q¿¿NE )¿: lượng tài nguyên khai thác

¿): giá của tài nguyên trừ chi phí khai thác biên

 ¿)(QNE): giá trị tài nguyên không thể tái sinh

Ô nhiễm:

P p: giá của ô nhiễm hay giá thiệt hại biên

(E – D): lượng chất thải trừ khả năng hấp thụ của môi trường

P p(E – D): giá trị lượng ô nhiễm của nền kinh tế

Cảnh quan: w A trong đó w là giá của dịch vụ mà môi trường đem lại cho con

người Thông thường các nhà kinh tế thường tính chung giá sẵn lòng trả để được

“sử dụng dịch vụ” cảnh quan

Công thức tính tiết kiệm được viết thành:

gNNP=GNP−δ K M+a K H−(P NR−cNR)( H – G)−¿)(Q¿¿NE)−P p (E – D )+wA +T¿

Lưu ý: công thức trên không bao gồm vốn xã hội Vốn xã hội vẫn như các loại vốn khác

cũng có tốc độ tăng trưởng, có giá trị Tuy nhiên các nhà kinh tế vẫn chưa phát triển đượcthước đo thích hợp

3.2 Tính tương thích của phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế

Môi trường và phát triển kinh tế là 2 mặt đối lập của 1 thể thống nhất Giữa môitrường và phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và làđối tượng của phát triển còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đối của môitrường

Table 1: Genuine Saving ở một số nước năm 2000

Trang 13

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cảitạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra chi phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng lại có thểgây ô nhiễm cho môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên cũngtác động ngược lại đến sự phát triển của xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tàinguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra các thảm họa thiên tại gâyảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của xã hội trong khu vực Từ đó, có nhiều quan điểmsai lầm về mối quan hệ môi trường – phát triển và dẫn đến những hậu quả nặng nề về môitrường nếu môi trường bị coi nhẹ

Thực chất, môi trường và phát triển là hai mặt của một vấn đề:

- Phát triển và môi trường không phải là hai mặt đối kháng và mâu thuẫn nhau theokiểu loại trừ, có cái này thì không có cái kia Nghĩa là phải lựa chon và coi trọng

cả hai, không hy sinh cái này vì cái kia

- Nếu phát triển kinh tế và quan tâm bảo vệ môi trường thì đảm bảo phát triển kinh

tế ngày càng bền vững hơn và ngược lại

Tóm lại, ta phải coi môi trường và phát triển là hai mặt của một vấn đề, nói đến phát triển

là nói đến môi trường, nói đến môi trường là nói đến phát triển Hai mặt này thống nhấttồn tại và thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau

3.3 Nguyên nhân của sự không bền vững trong phát triển

Có hai nguyên nhân chính gây nên sự không bền vững trong phát triển ở các quốc gia đang phát triển Thứ nhất, các chính sách phát triển kinh tế không tương thích với vấn

đề môi trường Thứ hai, hành vi và ứng xử của con người trái với quy luật của tự nhiên, thất bại trong công tác bảo vệ môi trường

3.3.1 Các chính sách giúp cải thiện vấn đề xã hội nhưng lại ảnh hưởng đến môi

trường

Trong cuộc chiến chống lại nghèo nàn lạc hậu nhiều quốc gia đã nỗ lực khai thác tài nguyên phát triển kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn Thế nhưng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức đã có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường khiến cho những tài nguyên ngày càng cạn kiệt và không có khả năng hồi phục Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) về môi trường họp vào tháng 1/2002 tại Trung Quốc đã cho rằng nghèo đói là thách thức lớn nhất đối với công tác bảo vệ môi trường hiện nay

Chính sách khuyến khích xuất khẩu là một ví dụ điển hình Xuất khẩu là một trongnhững yếu tố tạo đà thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Theo

Trang 14

các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng

và phát triển cần có 4 điều kiện sau: nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kĩ thuật côngnghệ Con đường xuất khẩu ban đầu chính là khai thác tối đa nguồn tài nguyên: khai thácrừng, khoáng sản trên quy mô lớn, các trang trại gia tăng, diện tích canh tác mở rộng,rừng bị khai thác đến cạn kiệt Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường vì thế nhữngvấn đề thiên tai, bão lũ ngày một gia tăng, môi trường tự nhiên bị ô nhiễm trầm trọng

Công nghiệp hóa cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho môi trường

bị suy thoái Phát triển công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu để nước ta thực hiện mục tiêucông nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, chính công nghiệp, khai thác khoáng sản là cácngành kinh tế gây tác động mạnh nhất đến môi trường, tài nguyên, sức khỏe, an toàn vàtrật tự xã hội Có thể nói, ô nhiễm môi trường luôn đồng hành với phát triển các dự án

công nghiệp và khai thác khoáng sản Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường,

trên địa bàn cả nước ước tính có 15 khu kinh tế ven biển với tổng diện tích mặt đất vàmặt nước hơn 697.800 ha; 28 khu kinh tế cửa khẩu, thuộc địa bàn 21/25 tỉnh biên giới đấtliền; 283 khu công nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 81.000 ha Đây là nguyênnhân gây ô nhiễm, tạo sức ép lớn đến môi trường và xã hội trong nhiều năm gần đây.Ước tính có khoảng 79% tổng số khu công nghiệp đang hoạt động đã xây dựng hệ thống

xử lý nước thải tập trung, các công trình này dù đã đi vào hoạt động nhưng nhiều nơi hiệuquả xử lý không cao, chưa đạt quy định của các quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam Theo phóGiáo sư Tiến sĩ Lê Trình, Viện Khoa học và môi trường có nhận xét: “Thực hiện đúngQuy hoạch phát triển ngành công nghiệp nêu trên, Việt Nam có thể cơ bản trở thành nướccông nghiệp vào năm 2020 theo chỉ tiêu tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDPchiếm 42-43% Nhưng với tốc độ tăng trưởng nhanh về công nghiệp và khai thác khoángsản, nếu không gắn kết có hiệu quả với kiểm soát ô nhiễm môi trường, nước ta sẽ phảiđối mặt với nhiều thách thức mới”

Nghèo đói cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường.Việc khai thác rừng bừa bãi thường xảy ra ở những vùng có tỉ lệ nghèo đói cao Thực tếcho thấy bất bình đẳng xã hội đang gia tăng dù mức sống trung bình tăng do đó dẫn đếnviệc khai thác tài nguyên bất hợp lý của tầng lớp đói nghèo Do nghèo khó người takhông đủ điều kiện để tiếp cận các nguồn năng lượng an toàn như điện, năng lượng mặttrời, mà phải dùng các nguồn nguyên liệu nguyên thủy như than, củi Nghèo khó cũnglàm cho họ không có đủ điều kiện tài chính để tổ chức cuộc sống vệ sinh hơn và tìnhtrạng chất thải được phóng uế bừa bãi ra môi trường sống cũng khá phổ biến trong các

Trang 15

cộng đồng người nghèo Tuy nhiên, trên thực tế cũng phải thừa nhận rằng còn nhiều điềubất cập trong công tác BVMT mà chúng ta chưa làm được: môi trường vẫn từng ngày,từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của chúng ta làm cho ô nhiễmnghiêm trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thách thức lớn lao Điềunày đòi hỏi mọi người, mọi nhà, mọi địa phương trong cả nước phải thường xuyên cùngnhau nỗ lực giải quyết, thực hiện nghiêm chỉnh Luật BVMT Có như vậy chúng ta mới cóthể hy vọng vào một tương lai với môi trường sống ngày càng trong lành hơn.

Như vậy, tuy rằng công nghiệp hóa hay phát triển bền vững mang lại rất nhiều lợiích cho đất nước ta, đưa nước ta ngày càng phát triển đi lên Nhưng các chính sách kinh

tế vĩ mô đóng vai trò trung tâm, là nền tảng cho sự phát triển Vì thế, Chỉ khi ngườinghèo được tiếp cận đến những công nghệ phát triển, cơ hội nâng cao thu nhập, thoátkhỏi nghèo đói, tiếp cận đến những cải cách có ích cho môi trường thì môi trường mớiđược cải thiện một cách hiệu quả

3.3.2 Khủng hoảng kinh tế và những chính sách cắt giảm vô lý ảnh hưởng đến môi

trường

Khủng hoảng kinh tế là hiện tượng biến động của kinh tế thị trường ảnh hưởng lớnđến sự tăng trưởng kinh tế và còn làm giảm sút môi trường tự nhiên và các điều kiện xãhội Khủng hoảng kinh tế xảy ra dẫn đến lạm phát tăng, đồng tiền mất giá, ngân sáchthâm hụt,… Vì thế việc cắt giảm chi tiêu công để cải thiện vấn đề này là vô cùng cầnthiết Vì vậy chính phủ đã cắt giảm phần lớn chi tiêu về môi trường và trợ cấp xã hội gây

ra sự suy thoái môi trường và giảm sút các đảm bảo xã hội Cùng với cắt giảm chi tiêucông, việc cắt giảm trợ cấp đối với môi trường và xã hội cũng được áp dụng Sau đónhững khuyến khích về xuất khẩu cũng như phát triển bền vững cũng được chú trọngngày càng làm giảm sút chất lượng môi trường một cách trầm trọng

Để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với lạm phát leo thang, Chính phủ Việt Namđang muốn giảm tổng cầu trong đó dự kiến có bốn biện pháp chủ yếu là tăng thu ngânsách, giữ bội chi không quá 5% GDP, dừng một số các dự án đầu tư công, trong đó cócác dự án về bảo vệ môi trường và tiết kiệm chi thường xuyên 10% Tại Mỹ, năm 2011,đảng Cộng Hòa cũng đưa ra kế hoạch cắt giảm chi ngân sách mà trong đó có việc cắtgiảm chi tiêu cho các chương trình môi trường mà chính quyền Obama đang thực thi

Trang 16

3.3.3 Sự thất bại của thị trường trong việc bảo vệ môi trường

Việc sản xuất kinh doanh đã gây ra ảnh hưởng rất lớn đến môi trường tự nhiên.Đồng thời những yếu kém trong công tác quản lí nhà nước cũng như ý thức bảo vệ môitrường của các doanh nghiệp đã gây ra sự suy thoái môi trường

Đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị trường, tính năng động của các thành phần kinh

tế được khơi dậy, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao Nhờ chính sách mở cửa, tạođiều kiện ngày càng thuận lợi cho các nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư của cácnước trên thế giới, hình thành nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất Bên cạnh mặt tíchcực, quá trình công nghiệp hóa cùng với sự bùng nổ các hoạt động thương mại, dịch vụ

đã gây nên những tác động môi trường ngày càng lớn Tình trạng ô nhiễm các thành phầnmôi trường tăng nhanh, nhất là ở khu công nghiệp, các địa bàn tập trung dân, một số sự

cố môi trường nghiêm trọng cũng đã xảy ra, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân,gây thiệt hại cho sản xuất Các doanh nghiệp xem đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường

là khoản đầu tư bắt buộc, không sinh lời, thậm chí còn giảm khả năng cạnh tranh, do phảităng chi phí đầu vào của sản xuất Vì mục tiêu lợi nhuận, nên các doanh nghiệp thườngkhông muốn đầu tư cho các quy trình sản xuất sạch hoặc xử lý chất thải gây tốn kém.Mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và lợi nhuận đã trở thành một cuộc chiến dai dẳngtrong nhiều doanh nghiệp và điều không may trong cuộc chiến này là dường như lợinhuận bao giờ cũng giành phần thắng Đơn giản, bởi vì đó là doanh nghiệp, mà đã làdoanh nghiệp, thì phải hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Vì vậy, các doanh nghiệp quantâm bảo vệ môi trường luôn luôn là điều đáng quý

Dưới góc độ quản lý xã hội, chính phủ các nước cũng đã định ra các thể chế vàtiến hành kiểm tra giám sát quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhằm đạt được cácmục tiêu đề ra Khuôn khổ pháp lý là cần thiết, nhưng ý thức tự giác của các doanhnghiệp trong hoạt động bảo vệ môi trường cũng đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên,một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp không nhận thức được vai trò của mình trong quá trìnhphát triển và điều đó đã làm hạn chế quá trình hợp tác trong việc bảo vệ môi trường Sựthiếu vắng hệ thống chính sách hợp lý hiệu quả về môi trường đã làm cho các nhà kinhdoanh cảm thấy họ bị bất lợi nếu như họ tuân thủ chính sách bảo vệ môi trường Họ lặpluận rằng không thể cạnh tranh về mặt tài chính với các công ty không tuân theo tiêuchuẩn về bảo vệ môi trường Khi tham gia vào các cuộc đấu thầu họ thường bị thua bởi vì

Trang 17

phải gánh chịu chi phí về bảo vệ môi trường Vì vậy, tình trạng không chịu nộp phí bảo

vệ môi trường xảy ra rất nhiều trong doanh nghiệp

Bài học cho thấy, cái giá phải trả khi không áp dụng và thi hành luật môi trường

về lâu dài sẽ là cao hơn nếu chỉ coi trọng phát triển phát sinh lợi nhuận trước mắt Tácnhân thường lại không gánh chịu hậu quả mà là xã hội, người dân và thế hệ sau gánhchịu Ngày nay doanh nghiệp không thể không coi vấn đề môi trường là ngoại vi, khôngquan trọng hay cần thiết trong mọi họat động của mình nữa Nó có ảnh hưởng vào mụctiêu chủ yếu của mọi doanh nghiệp, đó là mức lãi doanh thu tài chánh trong hạch toán cácsản phẩm của doanh nghiệp Có trách nhiệm về môi trường không những làm hình ảnh vàsản phẩm của công ty được người tiêu dùng đánh giá cao và thương hiệu có giá trị màcòn có thể giảm đi giá thành tiết kiệm được nhiên liệu, giảm giá hoạt động của công tymình

Một ví dụ điển hình về việc doanh nghiệp thải chất thải của công ty mình ra môitrường khi chưa được xử lí là công ty Vedan Tháng 9/2008, Công ty Vedan bị cảnh sátmôi trường phát hiện xả nước thải chui ra sông Thị Vải trong nhiều năm gây nên bức xúctrong dư luận Tuy nhiên, đến cuối tháng 10/2009, công ty này bất ngờ được nhận giảithưởng "Sản phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng" do Ban tổ chức "trao nhầm" khiến dưluận hết sức bức xúc, giải bị thu hồi

Cuối tháng 11, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai quyết định truy thuVedan 111 tỷ đồng tiền phí bảo vệ môi trường Trước đó, Vedan cũng nộp phạt hànhchính 267 triệu đồng

Một công ty ở tỉnh Hải Dương cũng xả thải ra môi trường một cách vô ý thức:Theo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một số công

ty tại cụm công nghiệp Tân Hồng nằm trên địa bàn huyện đã nhiều lần xả chất thải chưaqua xử lý ra môi trường Huyện đã nhiều lần kiến nghị lên cấp trên, tuy nhiên đến naytình trạng nay vẫn xảy ra Trong khi đó trách nhiệm quản lý cấp phép và xử phạt của cáccông ty trong cụm công nghiệp này thuộc về tỉnh Hải Dương Chị Nguyễn Thị Hiền, thịtrấn Kẻ Sặt, Bình Giang cho biết những năm gần đây các công ty trách nhiệm hữu hạnLâm Phúc, Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc Pháp, công ty Lục Nam tại cụm côngnghiệp Tân Hồng thường xuyên xả thải khiến nước tưới đen kịt, tôm, cua, cá không sốngđược Ông Phạm Văn Nam, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Giangcho biết: “Ngày 15/11/2016, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện kiểm tra tại cơ sở

Ngày đăng: 14/09/2022, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Figure 1: Mơ hình phát triển bền vững - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
igure 1: Mơ hình phát triển bền vững (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w